Đồng hành cùng ký ức…

Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954 -1975) một tiến trình độc đáo đã “làm sống lại những tấm lòng, những việc làm và những giá trị trong lửa đạn ngày nào” (145). Cuốn sách khá đồ sộ với gần 1000 trang đã thể hiện tâm huyết và sự công phu của hai tác giả vừa là đồng nghiệp, vừa là bạn đời, vừa là những người dự phần trong những năm tháng gian lao và ác liệt của lịch sử đất nước từ vĩ tuyến 17 trở vào. Các tác giả đã chọn một vấn đề không chỉ mang tính đặc thù mà còn có ý nghĩa bao quát của văn học giải phóng, mang tới cho người đọc những cảm xúc và nhận thức mới từ một “di sản văn học” vẫn dư vang và truyền cảm hứng đến hôm nay.

Văn nghệ giải phóng một tiến trình độc đáo

Cuốn sách được cấu trúc thành hai phần: Phần thứ nhất: Văn nghệ giải phóng một tiến trình độc đáo (145 trang) gồm bảy chương được trình bày hệ thống: Từ khái niệm, lịch sử vấn đề, bối cảnh xã hội đến hiện tượng ra đời Hội văn nghệ giải phóng năm 1961. Từ những bước “dò đường” đầy gian nan, thử thách đến sự lớn mạnh và phát triển của một nền văn nghệ gắn với những “huyền thoại” về sự dấn thân và nhập cuộc của đông đảo văn nghệ sĩ là những chiến sĩ từ trong hiểm địa, nguy nan sáng tác nên những lời ca tiếng hát, những điệu múa, vở kịch, những bài thơ, những áng văn xuôi ánh xạ trong đó những thông điệp nghệ thuật không chỉ có giá trị với đời sống đương thời mà với cả hôm nay.

 Đồng hành cùng ký ức… - 1

"Văn học giải phóng miền Nam Việt Nam (1954 -1975) một tiến trình độc đáo" - Lê Quang Trang, Trần Thị Thắng đồng biên soạn, nghiên cứu và tuyển chọn, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2025   

Có thể nói, các tác giả biên soạn đã tham bác nhiều tư liệu, xâu chuỗi các hiện tượng, sự kiện, thậm chí không ngại ngần tranh luận, đối thoại với quan điểm cho rằng văn học giải phóng/ văn nghệ giải phóng không phải là hiện tượng có thực trong đời sống, hoặc chỉ có hai nền văn học của hai chế độ khác nhau ở hai miền. Một là của Việt Nam Dân chủ cộng hòa (ở miền Bắc) và hai là của Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam).

Nhưng dựa vào thực tiễn, vào hoàn cảnh phức tạp có một không hai ở miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, với cái nhìn “xuyên văn bản” các tác giả cho thấy trước đó, khi nói đến văn học giải phóng/ văn nghệ giải phóng, trong giới nghiên cứu, đều biết đó là hình thức dùng văn học nghệ thuật để thể hiện tinh thần giải phóng dân tộc trong thời kỳ 1954 - 1975 ở miền Nam, cụ thể hơn là từ năm 1960 khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. Đó chính là nền tảng giúp “chúng ta hiểu Văn học giải phóng miền Nam theo nghĩa một giai đoạn cụ thể - hình thành chính thức ngày 20/7/1961, ngày thành lập hội văn nghệ giải phóng miền Nam” (tr12). 

Hội có cơ quan ngôn luận là Tạp chí Văn nghệ giải phóng. Bằng các hoạt động văn học nghệ thuật đã góp phần tích cực và hiệu quả vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ và bè lũ tay sai, giành độc lập tự do cho đất nước.

Năm 1975, chiến tranh kết thúc, non sông liền một dải cũng là lúc văn học/ văn nghệ giải phóng hòa nhập vào nền văn học Việt Nam hiện đại, như các tác giả cuốn sách ghi nhận: “Văn học/ Văn nghệ giải phóng khép lại một chặng hành trình nhưng không phải kết thúc, đóng lại, mà là góp phần cho việc mở ra những ngả đường mới trên một hành trình mới” (tr19). Đây cũng là lúc người nghiên cứu có điều kiện lưu giữ những ký ức hào hùng và bi tráng của đời sống văn học nghệ thuật thời kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam “thông qua những chứng nhân trực tiếp của lịch sử cụ thể hơn, cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá của người trong cuộc giúp ta có thể tìm thấy giá trị riêng, mà những khảo sát và suy luận gián tiếp khó hoặc không thể khám phá được” (tr19).

Từ những trải nghiệm của những người làm văn nghệ cùng thời, chuyên luận Văn học giải phóng miền Nam 1954 - 1975 một tiến trình độc đáo đã có dư địa triển khai kỹ lưỡng, sâu sắc và thuyết phục sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại “đối tượng nghiên cứu” một cách khách quan và khoa học, cụ thể và sống động.

Các tác giả cuốn sách đã cho thấy một trong chiến lược quan trọng của văn học giải phóng là củng cố và gây dựng đội ngũ, lực lượng sáng tác. Dù ở các địa bàn khác nhau nhưng vấn đề có ý nghĩa, tạo nên sức mạnh và thành tựu của văn học giải phóng là “nối vòng tay lớn”, rút ngắn khoảng cách địa lý các vùng miền từ trung ương cục kết hợp giữa lực lượng dân chính: Hội Văn nghệ giải phóng, Tiểu ban Văn nghệ của Ban Tuyên huấn với Phòng Văn hóa Văn nghệ thuộc Tổng cục Chính trị quân giải phóng.

Trải qua thời gian cùng thực tiễn sống và sáng tác, đội ngũ những người cầm bút ngày càng hùng hậu và chuyên nghiệp từ các nẻo đường, địa bàn kết nối và hợp lưu dưới ngọn cờ văn nghệ giải phóng. Ở Khu V với Phan Tứ (Lê Khâm), Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), Dương Hương Ly, Dương Thị Minh Hương, Chu Cẩm Phong, Ở Trị Thiên Huế có Thanh Hải, Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vỹ, Trần Phương, Trà Nguyễn, Quang Hà… Ở trung tâm Hội quy tụ các nhà văn Trần Hiếu Minh, Lý Văn Sâm, Giang Nam, Viễn Phương, Hưởng Triều, Anh Đức, Nguyễn Sáng (Nguyễn Quang Sáng), Trang Thế Hy, Đinh Quang Nhã, Hoài Vũ, Lê Văn Thảo, Chim Trắng, Lê Anh Xuân

 Đồng hành cùng ký ức… - 2

Các văn nghệ sĩ ở chiến khu những ngày gian khổ trước giải phóng. Ảnh FB nhà văn Trần Thị Thắng

Có thể nói, với tính đặc thù, văn học giải phóng còn là sự hòa nhập, “chung dòng máu anh hùng” không chỉ được tiếp sức từ các cây bút từ miền Bắc vào như Triệu Bôn, Lê Điệp, Vũ Ân Thi, Lê Quang Trang, Dương Trọng Dật, Phan An, Trần Thị Thắng…, mà còn “hòa mạng” với sáng tác của những người yêu nước, tham gia tranh đấu bị giam cầm trong ngục tù Mỹ ngụy, luôn mang trong mình niềm tin vào chiến thắng và khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc. 

Tác giả và tác phẩm tiêu biểu

Phần thứ hai, Tác giả và tác phẩm tiêu biểu (800 trang). Các tác giả biên soạn với nỗ lực lớn đã giới thiệu và tuyển chọn những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả đã từng “sống và viết ở chiến trường”, biết cách ứng xử và sáng tác sao cho xứng đáng với Nhân dân và đất nước trong những thử thách cao nhất của lịch sử và thời đại. Các tác phẩm đã giúp người đọc hồi nhớ ký ức những năm tháng chiến tranh khốc liệt, đẫm máu ở miền Nam qua các sáng tác thơ, văn xuôi và lý luận phê bình. Những tác phẩm giờ đọc lại vẫn khiến ta cảm động đến từng câu chữ, lan truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

 Đồng hành cùng ký ức… - 3

Nhà văn Trần Thị Thắng (giữa) tại Hội nghị Sáng tác văn học năm 1973

Đó là những tác phẩm đã tái hiện thực tiễn sáng tác dồi dào sinh lực, cùng khả năng truyền cảm hứng tranh đấu và chiến thắng sống cùng với thời gian và công chúng: Bóng cây Kơ nia (Ngọc Anh), Bài ca chim Chơ rao (Thu Bồn), Mồ anh hoa nở (Thanh Hải), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Chúng con chiến đấu (Nam Hà), Bài thơ hạnh phúc (Dương Hương Ly), Quê hương (Giang Nam), Bài thơ của một người yêu nước mình (Trần Vàng Sao),  Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Con người miền Nam (Trần Bạch Đằng), Bút máu (Vũ Hạnh), Người tị nạn (Lê Vĩnh Hòa), Anh thơm râu rồng (Trang Thế Hy), Con thú tật nguyền (Ngụy Ngữ), Rét tháng giêng (Chu Cẩm Phong), Hiện tượng thoát ly thực tại trong 9 năm văn học Ngô triều (Lữ Phương), Chiếc lược ngà (Nguyễn Sáng), Rừng Xà Nu (Nguyễn Trung Thành), Đêm Tháp Mười (Lê Văn Thảo), Mẹ vắng nhà (Nguyễn Thi), Chiếc guốc xinh xinh (Thủy Thủ), Dân tộc đây rồi (Lý Chánh Trung), Về làng (Phan Tứ), Sống như anh (Trần Đình Vân), Trí thức và tri thức (Nguyễn Trọng Văn), Đâu có giặc là ta cứ đi (Nguyễn Vũ), Những vòng hoa ngụy tín (Thế Vũ), Bức thư làng mực (Nguyễn Chí Trung), Những người tham gia trận đánh (Tô Nhuận Vỹ)… Trong cuốn sách nặng ký này có đến 119 tác giả hiện diện với lý lịch trích ngang và sáng tác tiêu biểu hoạt động trên các chiến trường, địa bàn ở nông thôn, ở rừng hay đô thị song với bài viết này, tôi không thể điểm xuyết tất cả, chỉ có thể dẫn chứng một vài gương mặt trong tổng số tác giả kể trên. 

Các tác giả Lê Quang Trang và Trần Thị Thắng là người trong cuộc, bao năm qua, ở họ luôn có ý thức đồng hành cùng ký ức, không chỉ hoài niệm quá khứ mà còn nuôi dưỡng ý tưởng phục hiện diện mạo, khẳng định một cách thuyết phục văn học giải phóng là một thực thể, một bộ phận không tách rời trên sinh thể văn học Việt Nam hiện đại. Cuốn sách không chỉ có chức năng “bảo lưu ký ức” mà còn khơi nguồn cảm hứng cho hậu thế tiếp nhận và ứng dụng từ một  “di sản văn học” đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong quá trình vận động và phát triển văn học nghệ thuật nước nhà.

Nguyễn Bích Thu

Tin liên quan

Tin mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Rome Open 2026 (6-17/5, Foro Italico, Ý) diễn ra với những trận đấu đỉnh cao WTA 1000. Aryna Sabalenka, Iga Swiatek và Marta Kostyuk tạo nên tâm điểm, trong đó cuộc đua vô địch đơn nữ diễn ra đầy kịch tính đến phút cuối.

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Rome Open 2026 tại Foro Italico (6-17/5, Ý) diễn ra với cuộc đua khốc liệt giữa Jannik Sinner, Alexander Zverev và Carlos Alcaraz. Giải ATP 1000 trên sân đất nện dự kiến nhiều bất ngờ trong hành trình tranh ngôi vô địch.

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Từ 6-17/5 tại Rome, Ý, giải WTA 1000 Rome Open 2026 quy tụ Aryna Sabalenka, Iga Swiatek và Coco Gauff. Trên sân Foro Italico, lịch thi đấu đơn nữ hứa hẹn căng thẳng khi các hạt giống hàng đầu chạm trán.

Lịch thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Diễn ra từ 6-17/5 tại Foro Italico (Rome, Ý), Rome Open 2026 ATP 1000 chứng kiến Jannik Sinner, Carlos Alcaraz và Novak Djokovic góp mặt, hứa hẹn lịch thi đấu đơn nam đầy kịch tính trên mặt sân đất nện đỉnh cao.