Tinh thần thượng võ trong truyện ngắn Mishima Yukio
Mishima Yukio (tên thật là Hiraoka Kimitake) là một trong những nhà văn đặc biệt nhất xứ sở hoa anh đào, và sinh thời – là văn nhân Nhật Bản nổi tiếng trên toàn thế giới. Sinh năm 1925 giữa thủ đô Tokyo trong một gia đình quý tộc có nguồn gốc samurai, ông luôn yêu vẻ đẹp của cái chết, tôn thờ cái cao cả của sự chết trong tác phẩm.
Bushido (武士道) – tinh thần võ sĩ đạo trong tác phẩm của Mishima là vấn đề ít nhiều đã được các nhà nghiên cứu đề cập. Bushido hiểu đơn giản là tinh thần thượng võ, tinh thần chính nghĩa của người samurai khi đối diện với đời. Khi ấy, cái nhân – nghĩa – lễ – trí – tín sẽ được bộc lộ trong suy nghĩ, hành xử. Truyện ngắn của Mishima hầu như vắng bóng các nhân vật là samurai nhưng tinh thần trượng nghĩa luôn được thể hiện qua những con người bình thường, đời thường.

Nhà văn Mishima Yukio.
Ảnh hưởng của gia đình và bộ sách Harakuru tới sáng tác của Mishima
Hagakure có nghĩa là diệp ẩn - ẩn mình sau lá. Tên đầy đủ là Hagakure kikigari (1700) nghĩa đen là “Ghi chép ẩn mình sau lá”, bản dịch ở Việt Nam đặt tên theo tinh thần của cuốn sách là “Hagakure luận đàm về cốt tủy võ sĩ đạo”. Tư tưởng võ sĩ đạo trong Hagakure với tinh thần chí khí mạnh mẽ, trung quân ái quốc, vượt khó đến mức cực đoan khiến cuốn sách này liên tục lọt vào các bảng bình chọn các cuốn sách làm thay đổi cuộc đời! Lí tưởng trong Hagakure cũng gần với giá trị muôn đời của một người quân tử bởi, một người Samurai “nếu không can đảm ở bên ngoài và chan chứa một lòng nhân từ vĩ đại ở bên trong, thì anh ta không thể nào thi hành nhiệm vụ” [1; 378]. Tuy nhiên, do yếu tố thời đại, Hagakure cũng có nhiều hạn chế về lòng trung thành, quan niệm về sự sống và cái chết,… mà có lẽ một người yêu nước “ngây thơ và cực đoan” như Mishima không khỏi có những sai lầm khi tiếp nhận.
Gia đình Mishima cũng chính là cái nôi nuôi dưỡng tinh thần thượng võ trong ông. Bản chất Mishima vốn là người yếu đuối, yêu thích văn chương, nhưng từ thuở nhỏ đến tận năm 12 tuổi đã được cha mẹ đưa đến ở với ông bà nội. Bà nội Natsuko Hiraoka của Mishima vốn thuộc dòng dõi quý tộc có nguồn gốc samurai, bà là người đã trực tiếp nuôi dạy Mishima với những quan niệm khắc nghiệt. Các nhà nghiên cứu đương thời đã từng chỉ ra nỗi ám ảnh với cái chết của Mishima có nguồn gốc từ Natsuko. Bên cạnh bà nội, Mishima cũng có một người cha khắc nghiệt, luôn tìm cách ngăn chặn những sở thích mà ông cho là “yếu đuối” của Mishima. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra, mặc dù có gia đình và hai con, Mishima vẫn có quan hệ riêng tư với nhiều người đàn ông khác, cho thấy sức hấp dẫn mãnh liệt của thiên tính nam đối với ông. Mishima yêu vẻ đẹp nam tính mạnh mẽ, yêu văn hóa Nhật với tinh thần thượng võ và ái quốc vĩ đại, ông giỏi karatedo, kiếm đạo, lại mang tư tưởng bảo hoàng,… đây cũng chính là những tiền đề tạo nên cá tính con người và văn chương của ông.
Con người lí tưởng theo tinh thần bushido
Chúng ta có thể thấy, con người lí tưởng theo tinh thần bushido Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng, gặp gỡ với con người lí tưởng theo tiêu chí người anh hùng – người quân tử nói chung theo quan niệm của người Á đông.
Soi chiếu 7 đức tính cao quý của một võ sĩ, ta có thể thấy, Mishima với các nhân vật trong truyện ngắn của ông hầu hết đều sở hữu những phẩm chất Nghĩa, Dũng, Nhân, Lễ, Chân thành, Danh dự và Trung nghĩa [2].
Tinh thần của những phẩm chất cao quý này ngập tràn trong tác phẩm của Mishima, tuy nhiên, ở một vài yếu tố bị đẩy lên đến mức cực đoạn tạo ra sự khác biệt – đôi khi gây sốc với độc giả - trong sáng tác của ông. Ở nhiều tác phẩm, nhân vật của Mishima bộc lộ khoái cảm với cái chết, máu và nước mắt, sự cô đơn đau khổ. Đôi chỗ, ta thấy ông tôn thờ cái chết như tôn thờ cái đẹp, hoặc giả, ông tìm thấy vẻ đẹp từ sự chết chóc. Vì vậy tinh thần thượng võ bushido trong tác phẩm của Mishima đã được chiếu rọi bằng nhân sinh quan thẩm mĩ đặc biệt của riêng ông.
Lí tưởng bushido trong cái đẹp có cả sự mãnh liệt của sự sống và cái chết
Có thể khẳng định, nhân vật của Mishima có khoái cảm tìm đến những cảm giác mãnh liệt, dù là sự sống hay cái chết thì đều phải được tái hiện dưới sắc màu rực rỡ nhất của nó. Mishima ngạc nhiên vì “con người hiện đại hầu như không có ham muốn (như của người Hy Lạp cổ đại) để sống “đẹp” và chết “đẹp” [3]. Chỉ khi ấy, chúng ta mới đi đến tận cùng của sự sống và cái chết.
Yoko, Sugio hay người bà trong Đôi cánh (Tsubasa) đều có niềm vui sống-phi-thường. Yoko và Sugio, đều nghĩ người còn lại thực sự có một đôi cánh trên vai, đôi cánh của một thiên thần. Yoko tưởng tượng thấy Sugio bay, “Lúc đó họng súng sẽ ngắm ngay vào đôi cánh của cậu. Đôi cánh sẽ nhuộm đầy máu và thân xác cậu rơi thẳng xuống. Như một con chim bị đạn, trong chốc lát, đôi cánh ấy sẽ đập cuồng loạn khi cậu ngã lăn chiêng trên mặt đất. Cậu sẽ chết…” [4;42]. Sống đẹp đẽ và chết trong bạo liệt là những điều họ thường nghĩ về. Người bà của Yoko cũng thế, bà “vui vẻ phá lên cười” và khen ngợi cô cháu xinh đẹp của mình trước mặt Sugio nhưng khẳng định, “trên đất Nhật này chắc không có người thứ hai đẹp như bà đâu” [4;42]. Một biểu cảm thật tuyệt vời của người vui vẻ, vô cùng tự tin với niềm yêu sống mãnh liệt.
Thực ra, xúc cảm sống này xuất phát từ tư duy tận hiến của người Nhật. Sống trong một đất nước có vị trí địa lí nhạy cảm – là quốc đảo giữa biển Đông, thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt với động đất, sóng thần, bão tuyết và núi lửa, vô hình trung, người Nhật hình thành một thói quen sống hết mình, trân trọng mọi phút giây hiện tại. Hoa anh đào có thể sớm nở, tối tàn, nhưng khoảnh khắc bung nở nó luôn hết mình rực rỡ, chính vì thế loài hoa tưởng chừng như mong manh ấy đã trở thành quốc hoa của xứ Phù Tang. Tận hiến đến từng phút giây hiện hữu là vẻ đẹp mà Nhật Bản vươn tới.
Tột cùng vẻ đẹp của sự sống và cái chết cũng là điều được thể hiện mạnh mẽ trong Ưu quốc (Yuukyoku), nơi cặp vợ chồng ưu tú trung úy Takeyama Shinji và người vợ tuyệt sắc giai nhân Reiko thể hiện lòng yêu nước tuyệt đối đúng theo tinh thần bushido. Câu chuyện thông qua sự kiện binh biến ngày 26 tháng 2 năm 1936, khi các bạn thân nhất của anh tham gia cuộc nổi loạn, rơi vào tình thế bắt buộc là các toán quân hoàng gia sẽ phải tấn công lẫn nhau. Trung úy Takeyama đau đớn trước tình thế nồi da nấu thịt này đã tự sát theo nghi thức seppuku của một samurai và chỉ để lại một câu duy nhất “Quân đội Hoàng gia muôn năm” trong thư tuyệt mệnh.
Cái đẹp mà sự mãnh liệt của cả sự sống lẫn cái chết chính là vẻ đẹp được ngưỡng mộ tôn thờ dù đó là vẻ đẹp nam tính hay nữ tính. “Trung úy chăm chú cạo râu. Đó sẽ là gương mặt anh mang khi chết. Không nên để sót một dấu vết khó ưa nào. Khuôn mặt sạch nhẵn đã tìm lại nét rạng rỡ tuổi trẻ dường như làm sáng hẳn tấm gương mờ. Anh tự nhủ, đặt cạnh bộ mặt tử thần, gương mặt chói chang sức khỏe này hẳn phải thanh lịch lắm” [4;16]. Đứng trước ranh giới của sự sống và cái chết, trung úy vẫn bình tĩnh chuẩn bị cho mình một diện mạo đẹp đẽ nhất, đàng hoàng nhất. Một loạt cảm xúc mãnh liệt trào dâng trong lòng, nhưng dù đứng ở góc độ nào, cũng chỉ có thể giải thích bằng thiên hướng duy mĩ mạnh mẽ của tác giả. Reiko - người vợ của trung úy, một trang tuyệt sắc giai nhân, cũng quyết đi cùng chồng. Nàng có gương mặt yêu kiều với “chiếc trán cân đối mát mẻ trầm lặng như đỉnh ngọn Phú Sĩ, riềm mi dài dưới đôi mày mỏng trên cặp mắt nhắm, sống mũi thanh tú, hàm răng bóng ngời giữa môi mọng đều đặn, hai má mềm mại và chiếc cằm ngoan xinh xinh”. Vẻ đẹp tuyệt mĩ ấy của nàng được chồng cảm nhận vào thời khắc sinh tử của cả hai, và “những nét ấy gợi lên trong đời trung úy hình ảnh gương mặt người chết thật rạng rỡ” [4;19]. Hai vẻ đẹp nam tính và nữ tính ấy, trong thời khắc quyết định của số phận, vẫn tận hiến cho nhau tình yêu mãnh liệt lần cuối cùng.
Có lẽ, không đâu ngoài Ưu quốc mang lại cho độc giả những cảm xúc nghẹt thở đến thế: vì cái đẹp, vì cái bi thương, và vì sự mãnh liệt. Sự mạnh mẽ của tinh thần thượng võ dù đứng trước sự sống hay cái chết, thông qua lăng kính duy mĩ “kiểu Mishima” khiến chúng ta bị ám ảnh khôn nguôi. Đó chính là lí tưởng về vẻ đẹp, thái độ sống đậm tinh thần tận hiến mà nhà văn muốn vươn tới.
Nữ danh ca đóng vai Hồ Điệp phu nhân trong Hồn bướm (Choco), cũng có một tài năng trác tuyệt và khi luống tuổi cũng mang vẻ đẹp gây ám ảnh. “Mỗi sáng bà đứng hát bên bờ hồ thì chỉ trong chốc lát đã thấy chim chóc tụ lại thành đàn trên những chòm cây như muốn cất tiếng hòa ca với bà” [4;162]. Và khi về già, nữ danh ca mang vẻ đẹp ma mị của một con bướm đang hấp hối, “chỉ có thể nói đó là một sự tàn tạ tuyệt mĩ” [4;163]. Phải chăng Mishima bị hấp dẫn bởi những vẻ đẹp mạnh mẽ ám ảnh và tính cách quyết liệt? Các nhân vật của ông đều sở hữu những vẻ đẹp mang hơi hướng địa ngục, gây ấn tượng mãnh liệt với người chiêm ngắm. Mạnh mẽ hết mình trong từng khoảnh khắc cũng là một biểu hiện của tinh thần thượng võ mà một samurai Nhật Bản luôn hướng tới.
Không chỉ dựng xây những cá tính và vẻ ngoài mang xu hướng bushido, Mishima cũng tạo dựng những tình huống, ngôn ngữ giàu thứ cảm xúc đặc biệt này. Đứng trước mối tình sét đánh của vị cao tăng già gần đắc đạo dành cho hoàng phi (Mối tình của vị cao tăng chùa Shiga), tâm trạng cũng mang “Hagakure tính”: “Kẻ tưởng mình đã bình yên như bàn thạch này sắp sửa thành trúc chẻ ngói tan” [4;213]. “Hagakure tính” còn đặt nhân vật vào những cảnh huống đối lập gây ấn tượng mạnh mẽ: sự già nua xấu xí của vị cao tăng song hành với vẻ lộng lẫy đẹp đẽ của hoàng phi, địa ngục âm ti song hành với cõi tịnh độ và hoàn cảnh sống xa hoa của hoàng cung, hay hoàng phi cũng bất ngờ bị vị cao tăng thu hút bởi sự tò mò với tôn giáo, với quyết tâm mãnh liệt của cao tăng vì nàng đã quá chán những hào hoa giả dối và nhạt nhẽo,… Rõ ràng, Mishima đã dụng tâm – qua hàng loạt nhân vật – để thể hiện lí tưởng bushido của mình.
Niềm đam mê kiếm đạo luôn bỏng cháy trong Mishima. Chúng ta thường bắt gặp hình ảnh Mishima trong các ảnh viện với tạo hình thủy thủ bị đắm tàu, võ sĩ Samurai bị đao kiếm xuyên qua, thậm chí là cả hình ảnh chúa Giêsu bị đóng trên cây thập tự. Mishima cũng có biệt tài trong việc miêu tả tâm lí con người đặc biệt là tâm lí đàn ông, những chuyển động tâm lí tinh tế, phức tạp đều được ông khắc họa hết sức sinh động. Với Mishima, đàn ông thì sống sao cho xứng đáng là một trang nam nhi hảo hán, phụ nữ thì phải xinh đẹp, tài năng, tiết nghĩa, ai ai cũng tận hiến cho lí tưởng từ mọi giác quan, chính là điều mà ông gửi gắm qua từng nhân vật.
Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng
Dũng khí, mạnh mẽ để thực thi lí tưởng và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng là phẩm chất không thể thiếu của người Samurai. Hagakure cho rằng “Kẻ nào nhăn mặt trước nhiệm vụ quan trọng mà sợ nguy hiểm rút lui thì chỉ là một kẻ hèn khiếp nhược” [1;163]. Chính vì thực thi lí tưởng là nhiệm vụ hàng đầu nên con người hành động thường không bao giờ khiếp sợ hậu quả trước mắt cho dù đó là cái chết. Chàng trung úy Takeyama Shinji (Ưu quốc) sẵn sàng chết vì lí tưởng, còn vợ anh, vì yêu và cùng chung lí tưởng với chồng, nên đã tạ tội song thân để ra đi cùng anh với tư cách là “vợ của một quân nhân”. Họ đều rất trẻ, đẹp, mới kết hôn được nửa năm và cùng dũng cảm giã từ cuộc sống theo nghi thức seppuku đầy đau đớn. Có thể thấy, với con người sống theo lí tưởng bushido, cái chết như một tất yếu bình thường của cuộc sống: không sợ hãi, không nao núng.
Không dừng lại ở mức độ coi cái chết là điều bình thường, Mishima còn chủ động đẩy cảm xúc của độc giả tới ngưỡng giới hạn khi nhà văn gần như là tôn thờ vẻ đẹp của cái chết, tìm thấy khoái cảm khi chiêm ngắm sự sống kết thúc. Có thể khẳng định Chim công (Kujaku) là tác phẩm khắc họa thành công cái đẹp và cái chết. “Tomioka nghĩ rằng dùng hai chữ “xa hoa” để ví von với việc nuôi nấng và chăm sóc đàn công thì thật phù hợp, nhưng phải chăng nếu đem nó đối chiếu với việc tàn sát chúng thì biết đâu lại còn tương xứng hơn nữa” [4;194], bởi bộ lông dù quyến rũ sặc sỡ sắc màu nhưng vẫn còn thiếu màu đỏ của máu, “chính lúc đó người ta mới thấy dòng máu quý giá màu đỏ thắm, cái màu mà bộ lông công hãy còn thiếu, đã vọt ra và vẽ lên trên đó những đường nét tinh vi và tươi tắn” [4;198]. Chính vì vậy, “Tomioka nhận ra rằng việc không chứng kiến được cảnh thảm sát bầy công có lẽ là điều đáng hối tiếc nhất trong cuộc đời anh” [4;196].
Không chỉ xuất hiện rải rác trong các truyện, hơi hướng của cái chết còn hiển hiện ngay tiêu đề tác phẩm: Chết giữa mùa hè, Hồn bướm,… càng cho thấy những ám ảnh của tác giả về một định mệnh (dường như) dành cho chính ông từ văn chương đến cuộc đời.
Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng là điều không xa lạ trong tinh thần bushido, nhưng đồng nghĩa cái chết với cái đẹp thì chắc chắn không phải là điều phổ biến ngoài Mishima. Đâu đó, chỉ có Genji của Murasaki Shikibu (thời Heian) mới để các nhân vật nữ trẻ đẹp biến mất để trở nên bất tử trong lòng người ở lại, sau này độc giả bắt gặp những người đẹp say ngủ, người đẹp chết trẻ trong tác phẩm của Kawabata. Nhưng chỉ như thế, cũng có thể khẳng định Đẹp và Buồn là một định mệnh trong văn chương xứ Phù tang.
Lí tưởng tuyệt đối trung thành với tình yêu và Tổ quốc
Hagakure cho rằng “Trong việc nuôi dạy con trai, ưu tiên hàng đầu là phải khuyến khích dũng khí,... Với con gái, cốt yếu là phải truyền đạt cho cô bé tầm quan trọng của tiết hạnh từ khi còn nhỏ tuổi” [1;360-361], hay một Samurai “nếu không can đảm ở bên ngoài và chan chứa một lòng nhân từ vĩ đại ở bên trong, thì anh ta không thể nào thi hành nhiệm vụ” [1; tr.378]. Tinh thần này thấm đẫm trong các truyện ngắn của Mishima, đặc biệt là Ưu quốc nơi tình yêu đôi lứa và tình yêu tổ quốc đều mãnh liệt và hoà hợp tuyệt đối, bởi “trung úy tin chắc không có gì vẩn đục trong niềm hoan lạc mà cả hai cùng cảm thấy khi quyết định sống chết có nhau” nên hoàn toàn không thấy có “xung khắc nào giữa đòi hỏi xác thịt và sự chân thành của lòng ưu quốc” [4;16]. Rodica Frenţiu nhận định, “Trung úy chết vì lòng trung thành với đồng đội của mình, những người mà anh tin rằng anh sẽ gặp lại sau khi chết, còn vợ anh chết vì lòng trung thành với chồng. Cái chết và tình yêu là một, hai mặt song sinh của sự bất tử” [3; pp.69-90]. Và như vậy, chết không phải là hết, đó chính là khoảnh khắc bất tử hóa lí tưởng trong sự vận động của chiều dài lịch sử.
Với Mishima, lí tưởng và hành động thời khắc không có tính mâu thuẫn. Việc vị cao tăng chùa Shiga ra quyết định tu tập để lên cõi tịnh độ hay quyết định bỏ cõi tịnh độ để đi theo tiếng gọi của tình yêu cũng đều là sự trung thành với lí tưởng của chính bản thân mình. Cuối cùng khi được đáp lại bằng cách cầm tay của hoàng phi vị cao tăng chỉ biết khóc và khóc, vài ngày sau người viên tịch còn hoàng phi từ đây trở đi cũng “cảm thấy con tim mình buốt giá” [4;225]. Họ đã toại nguyện, dù một người về cõi niết bàn, còn một người sống trong hoàng cung nhưng lòng đã quy y cửa Phật. Trung thành với tình yêu và lí tưởng của bản thân mình bất chấp hoàn cảnh, tuổi tác phải chăng chính là tinh thần bushido trong mỗi con người?
Có thể nói, đánh giá một cách công bằng, hành động tự sát của nhà văn nhân danh lí tưởng bảo hoàng, không hoàn toàn ngây thơ, vô nghĩa và cuồng tín như người đương thời nhận định. Đề cao Thiên hoàng như một biểu tượng của văn hóa / tâm linh chính là hồi chuông cảnh báo với một Nhật Bản đầy thương tổn đang chết dần chết mòn trong xã hội theo chủ nghĩa tiêu dùng như vũ bão. Và vì vậy, Mishima xứng đáng là người samurai cuối cùng với tinh thần thượng võ vì lí tưởng cao đẹp của một Nhật Bản vĩnh hằng.
“Cuồng tử” – giới hạn trong tư tưởng Mishima
Tinh thần thượng võ, tình yêu tổ quốc, lòng tự tôn dân tộc của Mishima càng về sau càng bị đẩy lên thái quá, khiến ông bị rơi vào giới hạn của chính mình, các trang văn trở nên đẫm máu và đầy sát khí.
Cuồng tử luôn là điều gây tranh cãi, với những giá trị nhân văn vĩnh hằng mà con người muôn đời hướng tới – dù khác biệt về văn hóa hay ngôn ngữ - ta cũng khó có thể coi cái chết hàng loạt của những chú công xinh đẹp là vẻ đẹp cần vươn tới như suy nghĩ của Tomioka: “Ôi, ta sẽ hối tiếc suốt đời nếu bỏ lỡ cơ hội nhìn được cảnh tượng như vậy. Nếu là kẻ đã làm chuyện ra tay thảm sát đàn công thì có lẽ ta sẽ dành rất nhiều thời giờ để nhìn cho mãn nhãn giây phút diệu kì đó” [4;199].
Ngày 25 tháng 11 năm 1970, Mishima, người vốn tôn sùng nền quân chủ phong kiến và bất mãn sau khi chiến tranh kết thúc Nhật Bản phải kí hiệp ước không được sở hữu quân đội ấy, với một con dao găm và vài người học trò thân tín, đã chọn cho mình lối chết của một samurai. Tinh thần này có lẽ cũng được nối dài từ Harakuge: “Chết trên chiếc nệm êm là sự lãng phí không tài nào chịu nổi, và không phải là cái kết là một samurai nên kì vọng. Cổ nhân đặc biệt căm phẫn số phận không may phải tàn lụi trên tấm chiếu ngủ” [1;209].
Yukio Mishima – được coi là “Samurai cuối cùng” (the last Samurai) của thời hiện đại. Tài năng của ông, lại kết hợp với lí tưởng tôn quân bảo hoàng cùng tư tưởng cực đoan cá nhân, bị coi là chỉ nở ra những bông “hoa ác” cho nên dù được đề nghị giải Nobel văn chương nhiều lần, tư tưởng cực đoan đi ngược với tinh thần quý sinh của Alfred Nobel của ông đã là một cản trở không thể vượt nổi cho người muốn trao giải. Nhưng cũng chính vì thế, “văn chương và con người Mishima luôn là đối tượng để mổ xẻ nghiên cứu của các nhà phê bình và người đọc trên khắp thế giới”. Hiểu được hạn chế của Mishima trong tư duy cá nhân ông cũng như tư duy thời đại Nhật Bản đương thời, độc giả có lẽ – sẽ phần nào – hiểu được tư duy độc đáo của một nền văn hóa nhiều khác biệt.
***
Dù cuộc đời và văn nghiệp gây nhiều tranh cãi, nhưng không thể phủ nhận, Mishima là một phần không thể thiếu trong bức tranh văn học hiện đại Nhật Bản. Bản sắc của một dân tộc với tinh thần thượng võ chính là điều khác biệt giữa Mishima với các nhà văn khác. Tuy nhiên, ranh giới của sự khác biệt giữa thẩm mỹ và sự cuồng tín là điều rất khó xác định. Thế giới bên ngoài (đương thời) không phải là nơi thích hợp cho những anh hùng sống đơn thuần vì lí tưởng như ông. Bằng cách tự sát, Mishima có lẽ đã thoát khỏi thời gian lịch sử. Và tác phẩm của ông cũng vậy, luôn là miền đất hứa với cả độc giả đơn thuần cũng như các nhà nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Yamamoto Tsunetomo, 2020. Hagakure – luận đàm về cốt tủy võ sĩ đạo, Hồ Hồng Đăng dịch. Nxb Dân trí, Công ty Nhã Nam.
2. Kim Oanh, 2020. Võ sĩ đạo: Giá trị cốt lõi của tâm hồn Nhật. Nguồn: https://kilala.vn/van-hoa-nhat/vo-si-dao-gia-tri-cot-loi-cua-tam-hon-nhat.html
3. Rodica Frenţiu, 2010. “Yukio Mishima: thymos between aesthetics and ideological fanaticism”. Journal for the Study of Religions and Ideologies, 9, 25 (Spring 2010): pp.69-90 ISSN: 1583-0039 © SACRI
4. Mishima Yukio, 2020. Chết giữa mùa hè. Nxb Hội Nhà văn, Tao đàn.

"Totto-chan bên cửa sổ: Những chuyện tiếp theo" của tác giả Kuroyanagi Tetsuko vừa được ra mắt độc giả Việt Nam, đánh...
Bình luận