Một bài thơ của sứ giả Đại Việt được Trung Quốc khắc vào bia đá
Bài thơ của sứ giả Đại Việt khắc trên bia đá năm 1691 ở Trung Quốc hiện vẫn còn nguyên vẹn.
Tác giả bài thơ là Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) Trần Thọ, tên chữ là Nhuận Phủ, chức Bồi tụng, tước Phương Trì Hầu, người làng Điền Trì, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương, nay là xã Trần Phú, TP Hải Phòng.
Ông là nhà thơ, tác giả Nhuận Phủ thi tập, hiện còn 3 bài thơ trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Ông sinh giờ Hợi ngày 6 tháng 10 năm Kỉ Mão (1639), mất giờ Dần ngày 6 tháng 8 năm Canh Thìn (1700), là con Dụ Phái Hầu, Hàn Lâm viện Thừa chỉ Trần Phúc, là cha Tiến sĩ - Tham tụng Thượng thư, Diệu Quân Công, Thượng Trụ quốc Trần Cảnh, tác giả Minh nông chiêm phả - bộ sách nông học đầu tiên của Việt Nam, ông nội Tiến sĩ - Phó đô Ngự sử, Sách Huân Bá Trần Tiến (sau khi mất được truy phong Thượng thư - Từ thời Lê, Phạm Đình Hổ đã ghi Trần Tiến là Thượng thư), người sáng lập thể kí tự thuật trong văn xuôi trung đại Việt Nam từ năm 1764, tác giả Niên phả lục, Đăng Khoa lục sưu giảng..., cụ nội Trợ giáo Thái tử nhà Lê, Trần Quý (sách in ghi theo chức là Trần Trợ), tác giả Tục biên Công dư tiệp kí... Các tác phẩm này, đến nay vẫn được tái bản.
Khi vua Lê cử làm sứ giả đi Trung Quốc, Trần Thọ là Tả Thị lang bộ Hộ (Thứ trưởng thứ nhất bộ Hộ, phụ trách về đất đai - lãnh thổ, lãnh hải). Nhiệm vụ của ông là đòi lại đất 4 châu: Vị Xuyên, Bảo Lạc, Quỳnh Nhai, Thủy Vĩ ở biên giới phía Bắc, bị nhà Thanh lấn chiếm, trong đó Vị Xuyên còn tên đến ngày nay. Chánh sứ là Quốc Bảo khanh Nguyễn Danh Nho làm nhiệm vụ triều cống. Nguyễn Danh Nho, cùng họ cùng quê với thiền sư - nhà thuốc Nam đại tài Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh - bị bắt cống sang Trung Quốc chữa bệnh cho Hoàng hậu rồi qua đời ở Giang Nam).

Miếu Trọng Tử hiện nằm ở thôn Trọng Thiển, trấn Lỗ Kiều, huyện Vi Sơn, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.
Nguyễn Danh Nho đỗ Tiến sĩ cùng 1 khoa với Trần Thọ, làng quê của 2 ông ở gần nhau (cách 1 con sông là sông Thái Bình). Đoàn đi tháng 4 năm 1690, về năm 1691, có qua Giang Nam, thăm mộ Tuệ Tĩnh. Hai ông đã cho dập dòng chữ khắc trên bia mộ Tuệ Tĩnh mang về nước, và ngày nay chúng ta biết đến tâm nguyện của vị Thiền sư là từ sau cuộc đi này: “Mai sau ai người nước Nam qua đây, xin đưa hài cốt tôi về với”.
Trên đường về, ngày Rằm tháng 7 nhuận, năm Tân Mùi (1691), đoàn sứ bộ qua tỉnh Sơn Đông, ghé thăm đền/ miếu Trọng Phu Tử. Trần Thọ đề thơ, được quan sở tại cho khắc bài thơ vào bia đá. Đến nay đã 335 năm (1691 - 2026), bài thơ trên bia vẫn còn nguyên vẹn.
Bài thơ như sau:
谒仲夫子庙
Viếng miếu Trọng Phu Tử
得天賦予性剛強,袨杏初曾遊聖墻.
六藝詩書精旨奧,四科政事好才長.
巍巍廟貌容儀肅,歷歷春秋黍稷香.
介使南來思景仰,河山帶礪久名芳.
康熙辛未金秋闰七月望日
(bản gốc chữ Hán do Đặng Văn Lộc cung cấp)
Sứ giả nước Đại Việt Trần Thọ, phụng mệnh đi triều cống, khi đi qua miếu Trọng Phu Tử, đã vào miếu bái yết và kính cẩn đề một bài thơ:
Đắc thiên phú dữ tính cương cường,
Huyễn hạnh sơ tằng du Thánh tường.
Lục nghệ thi thư tinh chỉ áo,
Tứ khoa chính sự hảo tài trường.
Uy uy miếu mạo dung nghi túc,
Lịch lịch Xuân Thu thử tắc hương.
Giới sứ Nam lai tư cảnh ngưỡng,
Hà sơn đái lệ cửu danh phương.
Dịch nghĩa:
Trời ban tính tình cương trực
Xuân về áo gấm đi viếng tường Thánh xưa.
Sáu môn thơ hoạ đều rất tinh thông
Bốn khoa chính sự tài năng vẹn toàn.
Miếu cao dáng mạo trang nghiêm
Hương thơm dạt dào quanh năm vào mùa xuân thu
Sứ giả phương Nam đến bái miếu với lòng kính trọng
Non sông bền vững, tiếng tăm lưu truyền.
Dịch thơ:
Cương trực trời ban tính dũng quan
Xuân về áo gấm viếng dung nhan
Họa, thơ sáu loại đều tinh giỏi
Chính sự bốn khoa lại vẹn toàn
Dáng mạo miếu cao lòng kính ngưỡng
Hương thơm ngát tỏa tiết thu sang
An Nam phó sứ vào chiêm bái
Bền vững non sông tiếng khải hoàn
Khang Hy năm Tân Mùi (1691), tiết thu vàng
– tháng bảy nhuận, ngày rằm.
TRẦN NHUẬN MINH dịch

Dường như Nguyễn Du chỉ tổ chức đám cưới cho Thúy Kiều hai lần…
Bình luận