Đám cưới của Thúy Kiều

Dường như Nguyễn Du chỉ tổ chức đám cưới cho Thúy Kiều hai lần…

Thơ đi theo tình và theo cảm xúc

Bồi hồi quanh bút nghiêm (1)

Vua Tự Đức (1829 - 1883)

Dường như Nguyễn Du chỉ tổ chức đám cưới cho Thúy Kiều hai lần…

Với Từ Hải thì cuộc sống vợ chồng cùng Thúy Kiều không có chuyện cưới xin. Từ Hải yêng hùng ngay từ buổi đầu gặp mặt. “Lại đây xem lại cho gần”. Rồi ngỏ lời với bà mối và bỏ tiền ra chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh. Nguyễn Du không nói rõ số tiền chuộc là bao nhiêu. Chỉ nói là tiền trăm. Còn Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện thì nói số tiền chuộc Kiều của Từ Hải là 200 lạng vàng. Thuê một chỗ rồi sau đó dựng một tòa nhà cho Thúy Kiều ở. Nguyễn Du làm lại cuộc đó bằng những câu lục bát sang trọng hơn nhiều. Mang đậm dấu ấn nghi lễ của người phương Bắc: “Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn/ Đặt giường thất bảo vây màn bát tiên”.

Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện còn tổ chức đám cưới thứ 3 cho Kim Trọng - Thúy Kiều sau 15 năm đoạn trường của Kiều. Vị Tài Nhân này miêu tả khá chi tiết đám cưới ấy. Từ lúc Vương ông muốn chọn ngày tốt làm lễ thành thân. Rồi Vương quan làm lễ hợp cẩn. Kim Trọng thì thích lắm. Còn Kiều cũng nhận rằng việc đuốc hoa không dám trái lời và phận chăn gối cũng xin tuân mệnh. Nhưng dứt khoát không tuân mệnh việc mây mưa! Thế là Tài Nhân đã cho sửa soạn đuốc hoa. Trải chiếu nệm hồng để vợ chồng Kiều Kim vào hành lễ tế trời đất. Rồi mọi người dìu hai vợ chồng vào phòng ngủ, chờ cho họ uống rượu hợp cẩn mới lui ra. Rõ ràng là một đám cưới. Chỉ không có chuyện mây mưa thôi.

Nguyễn Du không tổ chức đám cưới cho họ. Cụ Nguyễn chủ yếu dùng lục bát miêu tả sự giằng co giữa Kim Trọng với lý thuyết “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”, Kiều thì trái lại cho là “chữ trinh đáng giá nghìn vàng” trong khi “Thiếp từ ngộ biến đến giờ/ Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa” để một mực từ chối. Bởi vậy Nguyễn Du chỉ mở tiệc đoàn viên giao bái một nhà. Lễ đủ lễ. Đôi đủ đôi. Dù có “động phòng dìu dặt chén mồi”. Cụ Nguyễn đã cố gắng làm mờ đi cái nghi thức đám cưới. Đêm ấy, Kiều Kim chỉ gảy đàn cho nhau nghe đến sáng! Và việc làm đó là đúng với chủ trương “Đem tình cầm sắt” (vợ chồng) “đổi ra cầm cờ” (bạn tri âm). Có người nói cả Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du đều cải lương trong việc hôn nhân Kim Trọng - Thúy Kiều không biết có đúng không? Tôi cho rằng cả hai ông không tuân theo logic của đời thường là vì muốn đề cao phẩm hạnh của Thúy Kiều, một người đã trải qua 15 năm ở chốn lầu xanh. Kết thúc câu chuyện hôn nhân này, Thanh Tâm Tài Nhân viết: “Kim Trọng một chồng hai vợ không phân chia lớn bé, khi chăn gối lúc cầm thi”. Nguyễn Du cũng kết thúc có hậu. Nhưng là hậu khác: “Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thi”, và ông cho lập một am này để Kiều “trên am cứ giữ hương dầu hôm mai”. Một lần nữa ông lại đứng về phía Kiều để ca ngợi sự hoàn lương.

Kim Vân Kiều truyện dành tới 5 hồi từ hồi thứ tư đến hồi thứ tám để miêu tả đám cưới giữa Thúy Kiều với Mã Giám Sinh. Còn Nguyễn Du cho tổ chức đám cưới ấy với 234 câu thơ, từ câu thứ 686 đến câu thứ 920. Tính từ lúc Mã Giám Sinh đến “mái ngoài họ Mã vừa sang/ tờ hoa đã ký cân vàng mới trao”. Đến khi về đến Lâm Truy “Những là lạ nước lạ non/ Lâm Truy vừa một tháng tròn tới nơi”. Cả hai ông, theo đuổi lý tưởng thẩm mĩ khác nhau, thậm chí cả triết lý nhân sinh khác nhau, thể hiện lối văn và thể văn khác nhau, và Nguyễn Du với sự thấm nhuần sâu sắc văn hóa, xã hội Trung Hoa, mà đôi khi cảm tưởng ông sâu sắc hơn cả Thanh Tâm Tài Nhân. Và do đó khoảng cách tài năng giữa hai người khác nhau.

Với việc sử dụng thể tiểu thuyết chương hồi, càng chi tiết sự việc bao nhiêu càng tốt và không ngại ngần những yếu tố tự nhiên, tính dục... Thanh Tâm Tài Nhân đã dựng lên một cô Kiều khác. Đôi khi ta thấy sợ. Khi mụ mối đưa ra giá bán Kiều là 500 lạng. Họ Mã lúc đầu xin 300 lạng vì tiền lễ nhiều quá. Thúy Kiều nói: Bán mình mà không được việc thì bán làm gì. Mã lại nói: Thôi xin đưa 400 lạng! Thúy Kiều nói: không 500 lạng là không được. Sau cùng Mã Giám Sinh phải chịu thêm 50 lạng nữa tổng là 450 lạng bạc... Kiều ơi là Kiều! 

Nguyễn Du khác hẳn. Với một tâm hồn của người thi sĩ, ông đã đứng hẳn về  phía Thúy Kiều nên Nguyễn Du đã lược bỏ những chi tiết ở trên để độc giả thấy nàng là một người thục nữ đoan trang phẩm hạnh. Thiên tài của Nguyễn Du ở chỗ ông dám bỏ những chi tiết gây cấn, không sa vào tự sự, vốn là truyền thống mạnh mẽ của thi ca phương Đông để bằng một trái tim nhân hậu của người thi sĩ, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp mà có người gọi là gợi và tả để dựng lên những tâm trạng đầy cá tính với những vần thơ lục bát tả tình siêu việt. Đồng thời là những bức tranh thiên nhiên kỳ diệu mà chính Thanh Tâm Tài Nhân là người Trung Quốc cũng không có. Cứ như là Nguyễn Du hòa mình sống trong thiên nhiên ấy, trên nền tảng lấy tâm tình là chủ đạo.

Đám cưới với họ Mã thực chất là một đám cưới giả. Nguyễn Du cho tổ chức vào ban đêm. “Tinh kỳ giục dã đã mong trở về”. Tinh kỳ là giờ dẫn hôn. Nghĩa là đám cưới trông thấy sao mới đi. Khúc 1 mở đầu bằng 10 câu lục bát tự sự và bình luận. Khúc 2 là tâm trạng của Thúy Kiều nhớ Kim Trọng, không biết đất Liêu Dương nơi chàng Kim về hộ tang chú bao xa. Nỗi riêng bàn hoàn lưu luyến để dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn. Khúc 3 với 46 câu lục bát Kiều dặn dò Thúy Vân thay chị nối tiếp đường tình với Kim Trọng. Lời thơ vừa đau đớn, vừa thiết tha nhân hậu cùng đức hy sinh.

“Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”.

Nguyễn Du không kìm lòng được nữa vì ông đâu phải là nhà tiểu thuyết, ông đã kêu lên cùng Thúy Kiều. Tiếng kêu ai oán của tình yêu trong sạch và phẩm giá làm người.

“Ôi! Kim lang! Hỡi Kim lang

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”.

Khúc 3 với 18 câu tiếp theo kể chuyện cả nhà họ Vương kẻ thuốc người thang cứu Kiều thoát khỏi cơn sốc để dẫn đến cái chốt vẫn là tấm lòng và tâm trạng của Thúy Kiều.

“Sá chi thân phận tôi đòi

Dẫu rằng xương trắng quê người quản chi”.

Khúc 4 với 28 câu tả cảnh và tâm trạng của Thúy Kiều khi bị Mã Giám Sinh chiếm đoạt. Kiều xót xa khi “Phẩm tiên rơi đến tay hèn” và tiếc không hết lòng với Kim Trọng “Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”. Những câu tả cảnh tuyệt vời mà Thanh Tâm Tài Nhân không viết. Cảnh và người trong Đoạn Trường tân thanh của Nguyễn Du như lồng với nhau, đồng cảm với nhau như người ta nói thiên nhiên cũng là một nhân vật trữ tình vốn được coi là thế mạnh của thi pháp thi ca phương Đông.

“Trời hôm mây kéo tối rầm

Dầu dầu ngọn cỏ, dầm dầm cành sương

... Đêm thu một khắc canh chầy

Bâng khuâng như tỉnh như say một mình”.

Khúc 5 - 48 câu thơ, trở lại tự sự là chủ yếu kể về thân thế sự nghiệp nhơ nhuốc của Mã Giám Sinh và Tú Bà. Nguyễn Du đã bỏ đi rất nhiều chi tiết tự nhiên chủ nghĩa của Thanh Tâm Tài Nhân về thủ đoạn lừa lọc, bẫy tình của chủ chứa Tú Bà. Ông cũng đã phá vỡ tính trình tự thời gian của một đám cưới để kể chuyện.

Khúc 6, chừng 14 câu thơ mô tả tâm trạng của Thúy Kiều sau khi bị Mã Giám Sinh chiếm đoạt như sau một cơn mưa gió nặng nề khiến Kiều đã định cầm dao toan bài quyên sinh.

Khúc 7 với 36 câu thơ, một lần nữa làm phép đảo về trật tự thời gian để có một không gian cho Vương ông tiễn đưa 10 dặm trường đình. Để Thúy Kiều bày tỏ tâm trạng với cha mẹ và chia sẻ lời dặn dò của họ.

Khúc 8 chỉ với 14 câu thơ nhưng là đoạn thơ hay nhất trong đám cưới của Thúy Kiều. Nguyễn Du đã viết những câu thơ lục bát tuyệt vời tả cảnh tả tình đan xen vào nhau đặc sắc mà tiếc thay Thanh Tâm Tài Nhân đã bỏ qua, mặc dù ông ấy bị ràng buộc bởi tiểu thuyết chương hồi. Nhưng có ai ngăn cản ông đâu về miêu tả thiên nhiên kia chứ. Điển hình nhất là đoạn chia tay Kiều - Thúc, Thanh Tâm Tài Nhân chỉ viết có một dòng: “Thúy Kiều không theo tiễn được xa, chỉ đứng sau bình phong gạt lệ mà thôi”. Nguyễn Du thì vẽ một bức tranh mùa thu mà đến nay vẫn chưa có ai viết được như thế. 

“Người lên ngựa kẻ chia bào

Rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san

Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”

Đó là cảnh trong khi đùng đùng gió giục mây vần, có một cỗ xe lặn lội cõi hồng trần vô định và bất an của con người như bay trong đó. Nàng Kiều của chúng ta giọt lệ chia tay nơi góc trời thăm thẳm đăm đắm ngày lại qua ngày khởi đầu đoạn trường 15 năm lưu lạc. Và:

“Vi lô san sát hơi may

Một trời thu để riêng ai một người

Dặm khuya tạnh ngắt mù khơi

Thấy trăng mà thẹn những lời non sông!”.

Đoạn trường Tân Thanh của Nguyễn Du chủ yếu lược bỏ và làm mờ đi các chi tiết của tiểu thuyết chương hồi để hướng tới việc khắc họa những bức tranh sinh động về tình người gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên, đặc biệt là những dòng thơ viết về mùa thu, làm nên những câu thơ lục bát tuyệt đỉnh. Thiên tài của Nguyễn Du ở chỗ ông tôn trọng yếu tố tự sự của câu chuyện để tái sinh lại câu chuyện về tâm trạng và tính cách con người trên nền lục bát truyền thống đẹp về nhạc điệu, trau chuốt về ngôn từ, khó có người lặp lại được.

Đám cưới của Thúy Kiều - 1

Tranh minh họa Truyện Kiều của họa sĩ Lê Trí Dũng.

Đám cưới thứ hai với Thúc Sinh, sau khi Thúc Sinh ở với Thúy Kiều được gần một năm và Nguyễn Du đã dành cho chàng quá nhiều ưu ái, sau khi Thúc ông thua kiện đòi tòa buộc Kiều phải trở lại lầu xanh, Nguyễn Du đã tổ chức đám cưới cho họ - vẻn vẹn chỉ có 8 câu tự sự. Không ai được như Thúc Sinh được Nguyễn Du tặng nhiều bức tranh đẹp nhất về thiên nhiên mà ngay cả người viết Kim Vân Kiều truyện cùng dòng máu chủng tộc với chàng cũng không làm được. “Nửa năm hơi tiếng vừa quen, sân ngô cành biếc đã chen lá vàng”. Một mùa thu bước tới sau khi mùa hè đã đánh thức dậy thiên nhiên. “Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”...

Lịch sử văn chương Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XVI, XVII người Việt Nam thích làm đoản thi nhiều hơn cả. Phần lớn viết bằng chữ Hán. Đến thế kỷ XVIII, hình thành một dòng chảy văn học đặc sắc - những tác phẩm truyện thơ Nôm phần nhiều là lục bát và những khúc ngâm được viết bằng chữ Hán rồi phổ cập bằng chữ Nôm như Chinh Phụ ngâm và viết bằng chữ Nôm như Cung oán ngâm khúc sử dụng thể song thất lục bát.

Chữ Nôm là chữ của người Việt dựa trên ký tự chữ Hán để biểu thị âm Việt ra đời từ thế kỷ XIII. Truyện thơ Nôm với những tác phẩm nổi tiếng như Hoa Tiên 1826 câu của Nguyễn Huy Tự viết và Nguyễn Thiện nhuận sắc. Nhị độ mai - khuyết danh 2826 câu. Tống Trân Cúc Hoa - khuyết danh 1689 câu. Phạm Tải Ngọc Hoa - khuyết danh 926 câu và Kiều 3254 câu. Trong đó có 3 truyện thơ lấy gốc gác cốt truyện từ Trung Quốc là Kiều, Hoa Tiên, Nhị Độ Mai thì Truyện Kiều của Nguyễn Du là thành công hơn cả và là tác phẩm đỉnh cao của văn học trung đại. Có được điều đó do nhiều yếu tố, Nhưng có thể kể thành công của Nguyễn Du là ở chỗ ông kết hợp được nghệ thuật tự sự của Truyện Nôm và sự mô tả sâu sắc tâm trạng nhân vật của thể khúc ngâm để tạo nên những phẩm chất vượt trội của Đoạn Trường Tân Thanh, tạo nên đỉnh cao của văn học Việt Nam trung đại. Nếu không muốn nói là đỉnh cao nhất. Không thể không thừa nhận rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều không chỉ trên nền tảng đồng cảm sâu sắc với thân phận Thúy Kiều mà còn dựa trên sự hiểu biết lịch lãm của ông về văn hóa, phong tục, xã hội, cảnh sắc thiên nhiên của người Trung Quốc.

Có người nói: văn là yếu tố then chốt của chính trị. Thời đại đã đổi thay. Lý tưởng thẩm mỹ và triết lý nhân sinh đã có nhiều biến động. Bước sang thế kỷ XX, truyện thơ ít được dùng. Thể trường ca đã có bước phát triển mạnh mẽ. Phần nhiều trường ca nổi tiếng nửa sau thế kỷ XX được kết cấu theo chương mục không tổ chức theo một câu chuyện cụ thể mà đề cập đến tâm trạng của thời cuộc, của một lớp người; Đặc biệt là của những người lính ra trận, những phụ nữ ở hậu phương... Những người mang tên anh hùng của thời đại mới. Và do đó trường ca mang âm hưởng sử thi, đưa đến diện mạo mới của thi ca so với 50 năm đầu thế kỷ. Từ đêm mười chín - Khương Hữu Dụng - 1951. Những người trên cửa biển - Văn Cao - 1956. Tiếng hát người quan họ - Hoàng Cầm - 1956. Bài ca chim Chơ rao - Thu Bồn - 1962. Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm - 1974. Những người đi tới biển - Thanh Thảo - 1977. Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh - 1978. Trường ca sư đoàn - Nguyễn Đức Mậu - 1980. Tiếng bom và tiếng chuông chùa - Phạm Tiến Duật - 1997 v.v... Trường ca trở thành một bức tranh lịch sử về số phận của con người gắn bó với vận mệnh của đất nước, với thăng trầm đầy bi tráng của lịch sử, hội tụ vẻ đẹp tâm hồn và bản tính của người Việt Nam. Đất nước - người mẹ - người lính là những nhân vật chủ đạo của trường ca nửa sau thế kỷ 20. Thành tựu là rất lớn. Nhưng chưa có tác phẩm thơ nào ở dòng văn chương bác học lại được phổ cập và bình dân như Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Năm mươi năm chiến tranh đã đi qua. Biết bao số phận của con người đã đi qua. Đọc lại Truyện Kiều gợi cho nhiều suy ngẫm. Không còn gì nghi ngờ nữa. Truyện Kiều là biểu tượng rõ rệt của sự giao thoa văn hóa Việt Nam và Trung Hoa. Thiên tài Nguyễn Du đã mang đến một diện mạo khác, một tầm vóc khác cho Kim Vân Kiều truyện, vốn là một tiểu thuyết không phải được xếp hàng đầu ở Trung Quốc. Các nhân vật cụ thể trong Truyện Kiều được sống một đời sống khác trong văn mạch dân tộc của người Việt Nam, trong không gian thơ lục bát kỳ diệu của đất nước Việt Nam. Thiên tài của Nguyễn Du đã xây dựng được những trường đoạn về tâm trạng nhân vật đầy tinh tế và sắc sảo cùng với thiên nhiên như là một nhân vật trữ tình tuyệt vời thầm thì trải rộng trước Đoạn Trường Tân Thanh mấy thế kỷ nay mà chưa hề xưa cũ. Sẽ không phải điều gì quá đáng khi chúng ta mong mỏi có một tác phẩm văn học xứng tầm với thời đại mới, với những vinh quang và thách thức của số phận con người như Nguyễn Du đã từng làm được ở một thời vang bóng đã qua.

(1) Người xưa bàn về văn chương, tập 1 - NXB Khoa học xã hội - 1993, trang 92.

Khuất Bình Nguyên

Tin liên quan

Tin mới nhất

Diễn viên Quỳnh Lam đồng hành cùng Seoul Center viết tiếp câu chuyện ý nghĩa “Điều Ước của Mẹ”

Diễn viên Quỳnh Lam đồng hành cùng Seoul Center viết tiếp câu chuyện ý nghĩa “Điều Ước của Mẹ”

Hệ thống Thẩm mỹ Quốc tế Seoul Center chính thức công bố Diễn viên Quỳnh Lam trở thành Đại sứ thương hiệu năm 2026. Sự kiện không chỉ đánh dấu một cột mốc mới trong chiến lược nâng tầm nhan sắc Việt mà còn truyền thông điệp nhân văn sâu sắc khi Seoul Center xác nhận tiếp tục là nhà tài trợ chính của “Điều Ước Của Mẹ” mùa 2.