Tiếng ru - khởi nguyên của thi ca

Nếu lịch sử văn học được bắt đầu bằng sử thi “Gilgamesh”, thì lịch sử nhân loại bắt đầu bằng sinh thể mong manh từ lòng mẹ. Khát vọng của sử thi “Gilgamesh” là hướng đến sự trường tồn, vượt qua cái chết. Nhưng, chỉ có văn chương, thi ca mới có thể trường tồn, còn sự sống của thân xác con người dù cứu chuộc bằng cách gì cũng chỉ hữu hạn. Khát vọng của người mẹ là được nhìn thấy sự lớn lên, lớn lên một cách tử tế. Trước khi có thi sĩ, đã có người mẹ; trước khi có anh hùng, đã có đứa trẻ, trước khi có tiếng kèn thắng trận, đã có những lời ru.

Trong bài viết này, tôi muốn đặt giả thuyết: Tiếng ru là hình thức tiền - thi - ca của nhân loại, và từ hồn vía của lời ru, ta có thể đọc ra phẩm giá của thi ca đối với sự hình thành, phát triển tâm tính loài người.

Từ thế kỷ XIX, các nhà nhân học đã nhất quán chỉ ra rằng không có cộng đồng nguyên thủy nào thiếu vắng hình thức ngôn ngữ nhịp điệu. Ở bất cứ lục địa nào cũng đều tồn tại các dạng thức thơ ca truyền miệng. Ấy là hò trong lao động sản xuất giúp quên đi mệt nhọc, tụng nghi lễ để nới rộng biên giới linh thiêng, hát ru để đưa trẻ thơ vào giấc ngủ và để giải bày, nhắn nhủ bao tâm tình thầm kín. Hát giao duyên để thổ lộ tình yêu... Điều này cho thấy nhịp điệu, ngữ điệu không phải là sản phẩm xa xỉ có ở thời văn hóa hiện đại mà nó như là một nghệ thuật tự phát nhằm lưu tồn ngôn ngữ thời tiền chữ viết. Khi trong xã hội loài người chưa có hệ thống lưu trữ, nhịp điệu giúp dễ ghi nhớ. Trong môi trường đầy nguy hiểm, nhịp điệu giúp ổn định tâm lý tập thể. Trong không gian mênh mông và đêm tối, âm thanh lặp lại tạo ra cảm giác được kiểm soát. Vì thế, theo tôi, tiếng ru, ở góc nhìn nhân học, là hành vi thiết lập trường an toàn cho những sinh linh bé bỏng.

Người mẹ, bằng giọng hát, tạo ra một vùng âm thanh ổn định giữa thế giới bất định. An toàn giữa thế giới bất an. Như vậy, tiếng ru có thể xem là một hình thức đầu tiên của văn hóa đưa nôi, từ đó thi ca lớn dần thành văn hóa nuôi dưỡng ký ức. Trẻ sơ sinh đặc biệt nhạy cảm với nhịp lặp, âm tiết du dương, giai điệu có tính chu kỳ. Hát ru của dân tộc nào, đất nước nào, thời kỳ nào, cũng đều mang những đặc điểm ấy. Người mẹ vô thức điều chỉnh nhịp hát theo nhịp tim và hơi thở của mình. Đứa trẻ bằng bản năng dần đồng bộ hóa nhịp sinh học của mình với nhịp ấy.

Tiếng ru - khởi nguyên của thi ca - 1

Tác phẩm tranh lụa "Tình mẹ" của họa sĩ Kim Bạch. (Ảnh minh họa)

Ở đây ta thấy một điều quan trọng, thi ca khởi đầu có một chức năng (hay có thể hiểu nó là phẩm giá) đồng bộ hóa giữa hai cơ thể, từ đó mà đồng điệu, đồng cảm giữa nhiều người. Chính vì chức năng này mà làm thơ, đúng nghĩa thơ luôn khó, đọc vỡ chữ thơ cũng chẳng dễ chút nào. Cái tôi của đứa trẻ chưa hình thành, nhưng nhịp ru tạo ra trải nghiệm về “tính liên tục”. Tính liên tục ấy là nền tảng của sự phát triển bản ngã. Đứa trẻ được trải nghiệm thế nào sẽ hình thành bản ngã thế ấy, nếu không có trải nghiệm ổn định ban đầu, cấu trúc tâm lý sẽ rạn vỡ. Nói cách khác, trước khi thi ca trở thành biểu tượng văn hóa, nó đã là cấu trúc tạo hình cho ý thức cá nhân. Vì thế, phẩm giá của thi ca không chỉ nằm ở thẩm mỹ khơi gợi cái hay, cái đẹp, nó còn nằm ở chỗ góp phần vào quá trình hình thành con người sống có nội tâm, có lòng trắc ẩn.

Cũng theo các nhà nhân học, họ cho rằng nhiều nghi lễ cộng đồng có nguồn gốc từ cấu trúc tương tác mẹ - con. Khi cộng đồng mở rộng, mô thức ấy được nhân bản. Một người dẫn nhịp cả cộng đồng hưởng ứng, đáp lại. Nhịp điệu nhịp nhàng dễ tạo sự đồng thuận. Tiếng ru cá nhân dần biến thành khúc tụng tập thể, từ đó hình thành sử thi, thần thoại, huyền thoại... Loài vật có thể phát ra âm thanh, tiếng hót, tiếng kêu, nhưng chỉ con người mới có khả năng tổ chức âm thanh thành nhịp điệu có ý nghĩa biểu tượng. Khi âm thanh trở thành nhịp, và nhịp trở thành ký ức, con người bước vào vùng văn hóa. Ở đó, họ không chỉ phản ứng với thế giới, mà còn diễn giải thế giới. Thi ca, xét từ góc độ tiến hóa văn hóa, là bước chuyển từ sinh tồn thuần túy sang sinh tồn có ý nghĩa. Vì thế, theo tôi phẩm giá thi ca nằm ở ba phương diện: Bảo vệ tính cá nhân (mỗi tiếng nói đều có nhịp riêng); duy trì ký ức cộng đồng (thơ là bộ nhớ trước chữ viết); tạo khả năng đồng cảm xuyên thế hệ - ta có thể rung động trước những câu thơ cách ta hàng nghìn năm.

Và, nếu không có thi ca, lịch sử chỉ còn là dữ kiện. Thi ca làm cho lịch sử có linh hồn.

Công nghệ thay đổi từng ngày và có thể đạt mức ta mơ ước, nhưng cấu trúc tâm lý cơ bản của con người không thay đổi ở bất kỳ thời đại nào. Nếu tiếng ru là nền tảng của cấu trúc an toàn nội tâm, thì thi ca ở cấp độ xã hội là nền tảng của cấu trúc đạo đức mềm. Một xã hội không có thi ca sẽ dễ rơi vào cực đoan, vì nó thiếu không gian để cảm xúc được chuyển hóa. Thi ca không trực tiếp giải quyết xung đột chính trị, nhưng nó thức tỉnh con người không quên rằng phía bên kia cũng biết đau.

Nếu ở thời cổ đại, thi ca xuất hiện như một cách trấn an nỗi sợ trước thiên nhiên, thì ở thời kỳ mới, thơ ca cần được nhìn như một năng lực hướng thiện: giúp con người điều chỉnh cảm xúc, mở rộng đồng cảm và tái lập phẩm giá cá nhân giữa áp lực vô hình của hệ thống. Thơ ca ngoài biểu lộ cảm xúc cá nhân cũng cần có thêm chức năng chia sẻ, điều hòa cảm xúc xã hội. Tâm lý học hiện đại chỉ ra rằng con người không hành động thuần túy bằng lý trí. Phần lớn hành vi được dẫn dắt bởi cảm xúc và các phản ứng vô thức. Một xã hội nếu thiếu cơ chế điều hòa cảm xúc sẽ dễ rơi vào cực đoan, bạo lực hoặc thờ ơ. Thơ ca, bằng nhịp điệu và hình ảnh, làm chậm nhịp phản ứng bản năng. Khi đọc một câu thơ, người ta buộc phải dừng lại, phải “ở trong” ngôn ngữ ấy một khoảnh khắc. Chính sự dừng lại ấy tạo nên khoảng cách giữa kích ứng và hành động, khoảng lắng lại ấy là nơi đạo đức có cơ hội hình thành.

Khác với diễn ngôn chính trị hay pháp luật vốn vận hành bằng mệnh lệnh. Thơ ca vận hành bằng gợi mở. Nó không áp đặt chuẩn mực mà khơi dậy khả năng tự nhận biết. Một cá nhân có khả năng tự nhận thức sẽ ít bị lôi kéo bởi đám đông hơn. Vì thế, thơ ca góp phần vào việc xây dựng một xã hội có năng lực tự điều chỉnh mềm điều mà các thiết chế cứng khó thay thế. Thơ ca gợi mở sự đồng cảm. Đồng cảm giữa người viết và người đọc giúp gia tăng khả năng “đặt mình vào vị trí người khác”. Thơ ca, do đặc trưng cô đọng và giàu khoảng trống, buộc người đọc phải tham gia tích cực vào quá trình liên tưởng ý nghĩa, tôi gọi đấy là đồng sáng tạo. Chính quá trình ấy mở rộng không gian đồng cảm. Mặt trái của thời đại công nghệ số là “công cụ hoá con người”. Thơ ca bằng năng lực mềm kháng cự lại sự công cụ hoá đó. Thơ ca không cạnh tranh với khoa học nhưng nó bổ sung cho khoa học bằng chiều kích đạo đức và cảm xúc. Vai trò hướng thiện của thơ ca thể hiện ở ba phương diện: Điều hòa cảm xúc cá nhân, nới rộng đồng cảm xã hội, bảo vệ phẩm giá con người trước sự công cụ hóa.

Mỗi dân tộc tồn tại không chỉ bằng lãnh thổ hay thiết chế chính trị, mà trước hết bằng ký ức. Ký ức ấy không phải lúc nào cũng được ghi trong sử sách, nó được lưu giữ trong lời ăn tiếng nói, trong tập tục, trong những câu hát truyền miệng qua nhiều thế hệ. Thi ca, vì thế, chính là một “đĩa mềm” của văn hoá. Trước khi có hệ thống chữ viết hoàn chỉnh, người Việt đã truyền khẩu qua ca dao, tục ngữ, hò vè. Những câu hát ru, những khúc giao duyên không chỉ để giải trí, mà còn nhắc nhở, căn dặn con cháu đời sau về quan niệm về gia đình, ứng xử cộng đồng, đạo lý nhân nghĩa, tinh thần lao động, tình yêu quê hương... Một dân tộc còn đọc thơ, đọc ca dao, tục ngữ của mình, còn trích dẫn lời của cha ông trong đời sống thường ngày, thì truyền thống tốt đẹp ấy sẽ không bao giờ mất.

Ngày nay, với sự xuất hiện của “trí tuệ nhân tạo” chưa bao giờ việc “sáng tác” lại dễ dàng đến thế. Nhiều bài hát, bài thơ, tranh... chỉ cần gợi ý là nghệ sỹ AI sẵn sàng đáp ứng ngay và luôn trong vài nốt nhạc. Trong một thời đại nơi ranh giới giữa tham khảo, ảnh hưởng, vay mượn, sao chép trở nên mong manh, người viết phải đối diện với câu hỏi: Ta viết bằng nội lực, bằng hiểu biết, rung cảm, bằng tâm khảm của mình, hay chỉ tái tổ hợp những gì đã có? Mỗi người viết tự biết cách ứng xử phù hợp với phẩm giá và lòng tự trọng nghề nghiệp của mình. Chúng ta biết rằng, không có sáng tạo nào hoàn toàn từ hư vô. Nghệ thuật có tính thừa kế, bắt chước, thi ca khó tránh khỏi, khó tránh hết những va vấp với tiếng nói của thiên nhiên, của người đi trước... Nhưng ở thời đại của chúng ta, nơi ý tưởng có thể sao chép trong vài giây, nơi AI có thể tái tạo phong cách trong tích tắc, thì đạo đức sáng tạo càng trở thành yếu tố cốt lõi. Liêm chính không phải là khẩu hiệu, mà phải là: Trung thực với nguồn cảm hứng, minh bạch với tư liệu và biết tôn trọng đồng nghiệp. Giữ được liêm chính, họ không chỉ bảo vệ danh dự cá nhân, mà còn góp phần gìn giữ phẩm giá của thi ca, nâng cao sự trinh bạch của tác phẩm.

Giá trị của thơ không chỉ nằm ở vẻ đẹp ngôn từ, mà còn ở sự xác thực của tâm hồn, định dạng “căn cước” thơ ca. 

Lời ru nào cũng xuất phát từ tấm lòng yêu thương thành thật, tận tâm. Khát vọng của lời ru là tạo ra một thế giới bình yên, phẩm giá của lời ru là tạo nên cốt lõi cho một nhân cách tử tế. Thiết nghĩ, đấy cũng là phẩm giá của thơ ca.

Hồ Minh Tâm

Tin liên quan

Tin mới nhất