Bài thơ “Ngày thường” của Ý Nhi và bức tranh về “cộng đồng tưởng tượng” trong văn học Việt Nam hiện đại (*)

Hình tượng cộng đồng (nhỏ thì gia đình, thôn xã, lớn thì quốc gia) trong văn học Việt Nam hiện đại gắn chặt với lịch sử đất nước, đặc biệt từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đến giai đoạn hậu chiến. Diễn ngôn về cộng đồng trong văn học, do đó, luôn gắn với cách mạng và dân tộc, biểu đạt cho chân lí, truyền thống, văn hoá. Tuy nhiên, dưới cái nhìn của Benedict Anderson (1936-2015) trong cuốn “Những cộng đồng tưởng tượng: Suy nghĩ về nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc” dẫn chúng tôi tới khái niệm “chủ nghĩa dân tộc nhà nước” (official nationalism), một mô hình theo kiểu “cộng đồng tưởng tượng” (imagined community), gợi ý cho chúng tôi lí giải về hình tượng cộng đồng chi phối trong văn học Việt Nam thuộc dòng chính một thời. Trong xu hướng chung đó, nhà thơ Ý Nhi nổi lên như một trường hợp đặc biệt, vì phong cách thơ hiện đại, có tính “dự cảm” trước thời đại, là lối thơ “hiếm”, “riêng biệt”, đi ngược lại văn học dòng chính. Ở bài viết này, chúng tôi chọn phân tích bài thơ “Ngày thường” của nhà thơ Ý Nhi, dưới góc độ cộng đồng tưởng tượng theo quan điểm của Anderson, trong sự đối lập với quan niệm cộng đồng của chủ nghĩa dân tộc nhà nước đương thời. Bài thơ có giá trị tiên phong về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật trong dòng văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1945-1986.

“Cộng đồng tưởng tượng” hay là chủ nghĩa dân tộc nhà nước trong văn học Việt Nam hiện đại 

Theo Anderson, các cộng đồng dân tộc hiện đại đều mang tính chất “tưởng tượng”. “Dân tộc được tưởng tượng ra vì thành viên của ngay cả những dân tộc nhỏ nhất cũng sẽ không hề biết tới phần lớn các thành viên đồng bào của mình, những người họ chưa từng gặp gỡ hay thậm chí nghe tới, ấy vậy mà trong tâm trí của mỗi người đều tồn tại hình ảnh về một sự hiệp thông giữa họ”.

Ngoài ra, cộng đồng còn được hiểu là người đọc, tác giả và tác phẩm cùng chia sẻ tiếng nói, lãnh thổ, văn hóa, lịch sử với nhau; và chính tác phẩm văn học đã gợi lên nơi người đọc những hình dung giống nhau đó, giúp họ gắn kết với nhân vật, tác giả, và với nhau mặc dù họ chưa từng có trải nghiệm như nhân vật, chưa quen biết tác giả và không biết đến những người đọc khác. 

Tuy nhiên, cũng chính tinh thần dân tộc phát huy cao độ trong chiến tranh đã là điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của “chủ nghĩa dân tộc nhà nước”. Theo Anderson, mô hình này xuất hiện khi các nhóm vương triều và quý tộc có nguy cơ bị gạt ra bên lề những cộng đồng tưởng tượng đại chúng (popular imagined communities) nên nhóm thiểu số này tìm cách gắn vấn đề dân tộc vào sự quản trị nhà nước. Đến thời của cách mạng và hậu cách mạng, mô hình này được phát huy: những nhà lãnh đạo cách mạng đã quản lý nhà nước và người dân dựa trên tâm lí dân tộc có tính chất cộng đồng tưởng tượng – chẳng hạn ở Việt Nam là lòng yêu nước, hi sinh cá nhân vì lợi ích chung, tập thể đứng cao hơn cá nhân, v.v. Những điều này “đầu tiên và trước hết là để phục vụ các mục tiêu của nhà nước”.

Đặc trưng tiếp theo của cộng đồng theo mô hình chủ nghĩa dân tộc nhà nước là tư duy về thời gian. Để gắn kết các thành viên trong cộng đồng thuộc nhiều thế hệ vào lí tưởng dân tộc, thì nhận thức lịch sử – tư duy về thời gian theo trục dọc – đóng vai trò quan trọng. Anderson gọi đó là sự lĩnh hội thời gian theo kiểu “đồng thời” (simultaneity), đặc biệt thể hiện rõ ở những cộng đồng thiêng, ví dụ như cộng đồng tôn giáo. Tính đồng thời theo nghĩa này tức là “sự đồng hiện của quá khứ và tương lai trong một hiện tại tức thời”. Lối tư duy ấy rất phổ biến trong văn học cách mạng Việt Nam.

Tác dụng của kiểu thời gian mang tính đồng thời này ngoài việc kết nối các thế hệ vào một lịch sử chung, còn nhằm tạo nên một vận mệnh dân tộc theo chiều hướng lạc quan. Kiểu tư duy thời gian đồng thời theo trục dọc này, theo Anderson, từng thuộc về thời trung cổ với những cộng đồng thiêng, nhưng vẫn là kiểu thời gian chủ đạo trong văn học cách mạng Việt Nam. Để thay đổi quan niệm thời gian này, văn học Việt Nam cần bước phát triển tiếp theo. 

Những cách tân về tư duy cộng đồng, về thời gian, chúng ta sẽ nhận thấy trong bài thơ Ngày thường của Ý Nhi.

“Cộng đồng tưởng tượng” trong bài thơ Ngày thường của Ý Nhi

Sau thời kỳ Đổi mới, ta chứng kiến những sự vượt thoát khỏi hệ hình cũ nơi sáng tác của khá nhiều tài năng như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh. Sẽ không có gì lạ nếu một quan điểm, lối diễn đạt cách tân ra đời trong bầu không khí mới ấy. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi ghi nhận một điểm mốc khác, từ trước Đổi mới, nhưng tác phẩm đã mang tinh thần phi truyền thống, ở cách tác giả xây dựng một cộng đồng tưởng tượng: Bài thơ Ngày thường của nhà thơ Ý Nhi là một tác phẩm điển hình cho tính chất cộng đồng kiểu mới.

Bài thơ “Ngày thường” của Ý Nhi và bức tranh về “cộng đồng tưởng tượng” trong văn học Việt Nam hiện đại (*) - 1

Nhà thơ Ý Nhi

Bối cảnh tác giả khai thác là một không khí chung của Hà Nội thời bao cấp, với những con người nhợt nhạt, hành động tủn mủn, tâm lý đời thường, sự kiện nhỏ nhoi. Và bao trùm lên cả là sự đói nghèo. Đúng với tên gọi Ngày thường, bài thơ không chú trọng khai thác cái gì cao cả, lớn lao, nhưng cái mới lại nằm ở cơ chế gắn nối những điều trên để tạo thành bức tranh chung.

Ba khổ thơ vẽ ra hai bức tranh nhỏ: khổ đầu là một nhóm nhân vật xuất hiện lần lượt từ gần đến xa theo vị trí quan sát của thi nhân, từ không gian hẹp đến rộng (vườn - ngõ - phố - hồ), với đa dạng hoạt động (trẻ chơi, người đi qua, triển lãm, mua bán, người đứng nhìn, xếp hàng); hai khổ sau trở về vị trí hiện tại của người quan sát, cũng với một loạt những hành động và suy nghĩ được cá nhân hoá (hành động: đọc sách, biên tập, nhìn; nghĩ: chuyện may vá, xếp hàng mua gạo, một tiếng gõ cửa).

Nhìn qua, đó là những bức tranh rời rạc với những chi tiết đặt cạnh nhau một cách ngẫu nhiên: các nhân vật không có mối liên hệ gì với nhau, hiện lên trong cùng một khúc đoạn thời gian và nhiều mảng không gian theo thủ pháp lắp ghép. Nhưng nhìn kĩ, sự nối kết duy nhất giữa các đối tượng, sự kiện, là cái nhìn của chủ thể trữ tình. Cái nhìn ấy có sự tỉ mỉ để thấy được trạng thái “ngơ ngẩn” của người lạ, có sự chú tâm để nghe tiếng trẻ con reo và giá cả lên xuống của một số mặt hàng (có lẽ) thường mua, có sự “phát hiện” trước phòng tranh mới mở, có sự quen thuộc nơi người bán rắn và những người xếp hàng. Vì vậy, đó là cái nhìn mang tính “toàn tri”, kết nối các cá nhân riêng lẻ thành một cộng đồng trong hình dung của chủ thể. 

Tiếp nối với cái nhìn đó, sang đến khổ thứ hai có một sự chuyển đổi: chủ thể nhìn chính mình, nghĩa là chủ thể trở thành đối tượng, thành nhân vật giống như các nhân vật xuất hiện ở khổ thơ thứ nhất. Dù hành động có riêng tư hơn (xuống gấu quần cho con), cá nhân hoá hơn (đọc sách và biên tập thơ), có tính tâm lý hơn (hành động thì “loay hoay” có vẻ bận rộn nhưng vẫn nghĩ “lo” việc khác chưa làm), nhưng nhân vật ở khổ thứ hai cũng không rõ căn tính gì hơn các nhân vật xuất hiện ở khổ thơ thứ nhất. Các câu thơ ở khổ hai vẫn tiếp tục nhịp liệt kê đều đều, chắp nối sự kiện theo mô-típ của khổ thơ đầu. 

Có thể lí giải kiểu “nhìn” này như sau: Người quan sát không hề chú tâm tới danh tính cá nhân của những người xuất hiện trong bức tranh, vì điều chủ thể đang nhìn thấy không phải là “những nhân vật”, mà là “những sinh hoạt” mang mẫu hình chung của bối cảnh cụ thể (Hà Nội thời bao cấp), trong đó mình cũng là một thành viên. Đó là tính chất cấu thành cộng đồng tưởng tượng: sự cấu thành không phải bằng những cách diễn đạt to tát nương tựa truyền thống, lịch sử, văn hoá – như khuôn mẫu của văn học Việt Nam cùng thời – mà bằng sự sắp đặt ngẫu nhiên, không có liên kết cụ thể, giữa người với người. 

Thêm vào đó, tính gắn kết cộng đồng ở đây còn được bổ trợ bằng thời gian được tổ chức theo kiểu “đồng nhất và rỗng”. Các sự kiện trong hai bức tranh trong bài thơ diễn ra cùng thời điểm nhất định, vì cùng xuất hiện trong một ánh nhìn ngắn ngủi của chủ thể trữ tình. Thời gian này cũng tuyệt nhiên không có “tính đồng thời” theo trục dọc với một quá khứ nào, mà là kiểu thời gian đều đều, lặp lại của tờ lịch, của đồng hồ: “mùa nắng sang mùa mưa”, “ngày sang đêm”, vì vậy nó hoàn toàn “rỗng” nghĩa. Vậy là, tôi gắn kết với anh, bằng những sinh hoạt chung, ngày qua ngày, dù tôi không biết anh, nhưng tôi biết ngày này giờ này có người đang làm cùng những việc như tôi làm. Sự gắn kết đó rất khác với cách xây dựng kết nối xuyên thời gian từ quá khứ đến tương lai và mang tính dự báo, mà văn học cách mạng hay vận dụng.

Và điều lạ là, tuy quan hệ “rỗng” và “ngẫu nhiên”, nhưng cộng đồng tưởng tượng trong Ngày thường vẫn rất khép kín và chặt chẽ, khiến cho chủ thể trữ tình cũng phải tự biến mình thành nhân vật/ thành viên trong bức tranh chung đó. 

Tính chất cộng đồng chỉ chớm bị phá vỡ ở khổ thơ cuối, khi xuất hiện một “ước ao”. Mơ ước, khao khát là địa hạt thuộc về cá nhân (tôi trở thành tôi, phân biệt với anh, từ chính những gì tôi ao ước và khao khát), nó báo hiệu chủ thể đang từ hoà nhập vào bức tranh chung, đến hé ra một thân phận riêng với những niềm riêng. Nhưng mới chỉ “chớm” và “hé” vì câu thơ kết thúc vội với chỉ 12 chữ tách thành ba dòng – quá ngắn ngủi và đột ngột so với bức tranh tổng thể bao trùm phía trên. Nỗi đời riêng vẫn bị nhấn chìm vào mẫu số chung, hoà lẫn, nhoà lẫn, không một ai có tên hay gương mặt, chỉ có hành động lặp đi lặp lại, đúng như tên gọi Ngày thường. Khác với Người đàn bà ngồi đan (trong tập thơ cùng tên, xuất bản 1985) – bài thơ nổi tiếng nhất, định hình phong cách thơ Ý Nhi – Ngày thường không đặt dấu ấn ở tính cá thể. Vì vậy, nếu so cái “ước ao” của Ngày thường với tâm trạng lưỡng phân ở Người đàn bà ngồi đan thì tính mới trong bài thơ sau vượt trội. Nhưng chủ đích của Ngày thường không phải là thể hiện một tâm trạng, mà là hình dung/ tưởng tượng một xã hội thu nhỏ trong tầm nhìn, sự hình dung đó có lẽ rất quen thuộc với bất cứ ai đương thời, vì nó chỉ là “ngày thường”. Nhưng chính sự hình dung đó, lại đẩy đến bờ vực đổ vỡ hình ảnh một cộng đồng kiểu cũ.

Ngày thường là một bài thơ độc đáo, cũng độc đáo như phong cách thơ Ý Nhi vốn đã được khẳng định từ tập thơ Người đàn bà ngồi đan. Khi đặt vào bối cảnh bài thơ ra đời: Nó phá vỡ cơ chế hình thành cộng đồng truyền thống. Bề ngoài, con người với những sinh hoạt không có gì đổi khác, nhưng những tưởng tượng về cộng đồng, đặc biệt ở tính chất gắn kết các thành viên và tư duy về thời gian theo kiểu rỗng nghĩa, đồng nhất và ngẫu nhiên, thì thật mới mẻ so với đương thời. Những cách tân này đã tiếp sức (và cả mở đường) cho cơn cuồng phong rồi sẽ tới đổi thay một thời đại.

Ngày thường

Tiếng trẻ reo ngoài vườn

láng giềng qua trước ngõ

rau muống đầu mùa lên cao

hoa cuối xuân giá hạ

ai mở phòng tranh trên phố Ngô Quyền

anh bán rắn ngồi bên hồ Thuyền Quang

người ngơ ngẩn bên quầy xổ số

người xếp hàng mua thuốc lá Sa Pa

Loay hoay trang sách cũ

lời bình từ năm xưa

thơ cộng tác viên dày cộp

đọc từ mùa nắng sang mùa mưa

quần của con cần xuống gấu

gạo hết, lo xếp hàng

cành lá trên rèm cửa sổ 

xanh từ ngày sang đêm

Lòng chợt ước ao

một tiếng gõ bất thường

sau cánh cửa.

(4/1985)

(*): Bài viết tác giả lược dịch từ tham luận The Poem “Ordinary Days” by Ý Nhi and the Picture of the “Imagined Community”in Modern Vietnamese Literature tại Hội thảo quốc tế The Asian Conference on Asian Studies 2023.

Nguyễn Hồng Anh

Tôi yêu văn học Ba Lan
Tôi yêu văn học Ba Lan

Tôi yêu văn học Ba Lan đã từ lâu, trong những năm học đại học tại Ba Lan tôi đã tôn sùng các nhà văn nhà thơ lỗi lạc...

Tin liên quan

Tin mới nhất