Nhìn lại sự nghiệp văn chương, khoa cử ở một lát cắt thời trung đại

Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại đến một nghìn năm. Nhà nước phong kiến suốt thời kì trung đại mở nhiều khoa thi, nếu tính từ khoa thi đầu tiên (năm 1075) đến khoa thi cuối cùng (năm 1919) thì lịch sử giáo dục khoa cử Việt Nam đã có bề dày 843 năm. Riêng khoa thi Thái học sinh được thực hiện ở thời Trần và thời Hồ.

Khoa thi Thái học sinh (thời Trần)

Xã hội phong kiến Việt Nam thời nhà Trần tương đối ổn định. Quy mô xây dựng đất nước được phát triển, mở rộng về nhiều phương diện. Có thể nói, mở khoa thi Thái học sinh với số lượng lớn và có quy củ, nề nếp là một đặc điểm nổi bật của khoa cử nhà Trần.

Kể từ khoa thi đầu tiên tổ chức vào năm Đinh Hợi - 1227 (đời vua Trần Thái Tông) đến khoa thi cuối cùng tổ chức vào năm Bính Tý - 1396 (đời vua Trần Thuận Tông), nhà Trần đã tổ chức được 19 khoa thi, gồm 18 khoa thi Thái học sinh và một khoa thi Tam giáo.

Nói đến chế độ khoa cử, có nghĩa là nói đến nền giáo dục, đến tư tưởng chính trị của thời trung đại. Ở thời Trần, Phật giáo còn thịnh, tuy rằng đã chớm có biểu hiện yếu đi dần dần. Tuy nhiên, so với thời kì trước đó, thì ở thời Trần, Nho giáo mạnh lên một cách rõ rệt và nhanh chóng. Đã có một số biểu hiện cho thấy, Nho giáo hạ thấp địa vị của Phật giáo. Nhìn chung, Nho giáo mới chỉ ảnh hưởng hoặc chi phối đời sống tinh thần của nhân dân ở mức độ nhất định. Trên bình diện tư tưởng nói chung thì tam giáo (Nho, Phật, Đạo) vẫn tồn tại hòa hợp. Trong bối cảnh ấy, Nho giáo càng ngày càng củng cố vững chắc thêm chỗ đứng, gắng giành ưu thế trong mọi hoạt động, hòng làm chủ bầu không khí tư tưởng - văn hóa của xã hội thời Trần.

Năm Bính Thìn (1326), nhà Trần tổ chức Quốc Tử Viện nhằm giảng dạy kinh điển Nho giáo. Ban đầu, Quốc Tử Viện đảm nhận việc dạy học sinh có điều kiện tối ưu đến học, sau đó đón cả con em bình thường (tiêu chuẩn vào học thấp hơn). Sau đó nhà Trần lập nên một Quốc Tử Viện nữa tại quê hương của vua Trần, dành riêng cho con cháu nhà “quý tộc”.

Từ đây, các kì thi Thái học sinh được chú ý. Các kì thi Thái học sinh thường thường được mở ở Quốc Tử Giám. Đến năm Giáp Dần (1374), khoa thi Thái học sinh được mở tại quê vua Trần.

Các kì thi Thái học sinh được thực hiện từ đây, dưới thời Trần, diễn ra trong bối cảnh xã hội - văn hóa - tư tưởng nói trên.

Ngành thư viện - xuất bản thời Trần cũng được phát triển ở phạm vi hẹp. Nhiều tài liệu về văn thơ Trung Quốc được bán hoặc cho mượn như Tứ thư, Ngũ kinh,... Thời Trần có hai trường Quốc học, ngoài ra còn có một số trường tư. Các trường tư cũng tổ chức các cuộc thi Thái học sinh. Học vị này tuy thực hiện ở các trường tư, nhưng vẫn được Nhà nước phong kiến công nhận, chuẩn y.

Đến tháng 2 năm Giáp Tý (1384, đời Trần Phế đế), một kì thi Thái học sinh nữa cũng được thực hiện. Cuộc thi này tổ chức tại một địa điểm đặc biệt. Trước đó, một thư viện lớn được xây dựng bên cạnh chùa Phật Tích. Kì thi Thái học sinh được tổ chức tại thư viện và ngôi chùa này. Điều đó chứng tỏ: Tuy Nho giáo đang mạnh lên, nhưng nhà Trần vẫn còn sùng kính đạo Phật.

Trong hoàn cảnh các kì thi Thái học sinh được tổ chức nhiều, quy mô như vậy, thì việc học trong toàn xã hội cũng được chú ý. Các đời vua nối tiếp của nhà Trần cũng cùng chí hướng là mở mang trường lớp, chú ý đào tạo nhân tài. “Đầu ra” thì đã đành, có thi, có chấm, nhưng “đầu vào” tuyển học sinh, có phần không quá khắt khe.

Như vậy là, liên tiếp từ thời Trần đến thời Hồ (thế kỉ XIII và XIV, 1232 - 1400) có các kì thi Thái học sinh (từ thời Trần có thêm thi Hội). Tuy mãi đến đời Lê Thái Tông (1442) mới có thi Đình (tiến sĩ), nhưng ngay từ thời Trần, khoa thi Thái học sinh đã có chất lượng rất cao. Nhà Trần phong cho người thi đỗ ở cấp quốc gia được học vị Thái học sinh và phân ra ba bậc: Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp.

Nhìn lại sự nghiệp văn chương, khoa cử ở một lát cắt thời trung đại - 1

Lều chõng đi thi. Ảnh tư liệu

Quan niệm của nhà nho về văn chương khoa cử

Trong lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam, chế độ khoa cử sớm được xác lập là một thành tựu tiến bộ về văn hóa - giáo dục rất quan trọng, một truyền thống văn hiến lớn. Trên một tấm bia khắc đặt tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, có ghi: “Mở khoa thi kén chọn kẻ sĩ là việc phải làm trước tiên trong phép trị nước”.

Chế độ khoa cử thời xưa ở Việt Nam có truyền thống dân chủ cao. Mọi người đều có quyền dự thi, chỉ trừ “gian thần, tặc tử”, trộm cướp hoặc “xướng ca vô loài” (cách nhìn cũ, nay đã bị xóa bỏ).

Nền giáo dục ở nước ta thời phong kiến là nền giáo dục Nho học. Những người theo học Nho đa số chỉ nhằm sau này ra làm quan. Xã hội phong kiến Việt Nam nghìn năm chỉ có 4 hạng người: sĩ, nông, công, thương. Sĩ và nông là hai tầng lớp nổi bật nhất, đóng vai trò chủ đạo trong xã hội thuần nông, trì trệ. Do trình độ sản xuất thấp kém mà đời sống nông dân hàng nghìn năm nghèo khổ. Nhằm thoát khỏi cảnh nghèo khổ đó, họ chỉ có lối thoát là đi học để đi thi, đỗ đạt thì được làm quan, không làm được quan to thì làm quan bé. Quan nào thì cũng là “cha mẹ” dân, hẳn là đời hết khổ cực. Học để làm quan là mục đích phấn đấu của bao người, bao thế hệ cha truyền con nối, miệt mài đèn sách.

Ngày xưa học Nho có hai phép: học nghĩa lí và học từ chương. Học nghĩa lí là học chuyên sâu vào lí học, đạo học, toán số, mục đích dò tới nguồn gốc của Khổng giáo. Còn học từ chương là học kinh nghĩa thơ phú, văn sách đế đi thi làm quan, gọi là học khoa cử. Ở Việt Nam rất ít người học nghĩa lí, có lẽ chỉ có mấy vị tiêu biểu như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp,... còn hầu hết là học từ chương. Nội dung học của họ là văn chương chính thống, khuôn mẫu, cách học là thuộc lòng, “tầm chương trích cú”, bắt chước, hạn chế sáng tạo. Ngoài luật lệ định sẵn, muốn học giỏi thì phải có trí thông minh, đọc nhiều, giỏi Hán văn, có biệt tài - tất nhiên. Điều chủ chốt là phải có ý chí, khát vọng, lòng kiên nhẫn, chịu đựng và phải có cơ sở vật chất đủ để theo học, theo thi.

Như vậy, nói đến người đi thi, tức là nói đến tác giả của văn chương khoa cử. Văn chương khoa cử còn được gọi là văn chương trường ốc, văn chương cử tử, văn chương khoa trường, văn chương trường qui. Tác giả của văn chương khoa cử trước hết là các thí sinh, họ không được sáng tác trong hoàn cảnh tự do, ngẫu hứng thuộc cá nhân, mà trong khuôn khổ các cuộc thi do Nhà nước phong kiến quản lí, chỉ đạo.

Nho giáo từng coi văn có nguồn gốc thiêng liêng và có sứ mệnh cao cả. Xét về giáo dục, đào tạo con người, văn là nội dung quan trọng bậc nhất. Noi theo Khổng Tử, Nho giáo Việt Nam coi văn học là phương diện thể hiện đức hạnh, phục vụ chính trị; văn học là cái có thể đem ra phục vụ vua, là công cụ quản lí đất nước. Tư tưởng sùng bái văn chương, coi văn chương có nguồn gốc linh thiêng, thần thánh, là trọng tâm của giáo dục, là cái có thể giúp ích cho nước nhà. Ngay từ thời Xuân Thu (Trung Quốc) những cơ sở quan trọng cho việc thực hành quan niệm về văn chương nói chung và văn chương khoa cử nói riêng đã được tạo dựng. Nó cũng chính là cơ sở dùng văn chương làm một tiêu chuẩn để lựa chọn người giúp việc vua, cai trị dân.

Quan niệm về văn chương như vậy, thì chọn văn chương làm nội dung các cuộc thi là điều dễ hiểu. Người ta dùng văn để chọn nhân tài, là thước đo năng lực, trình độ học vấn cũng như khả năng quản lí của nho sĩ. Như vậy, văn đã được đồng nhất với trí thức. Trong đó, trí thức về đạo nổi lên hàng đầu. Người ta cho rằng trí thức về đạo đáp ứng được tất cả, nhất là việc cai trị bằng đức trị và giáo hóa. Hiếu hạnh, hiền lương, phương chính là tiêu chuẩn đạo đức, minh kinh là học thức và hiểu nghĩa kinh điển, còn năng văn là khả năng viết văn chương theo yêu cầu của Nhà nước. Nội dung bài thi phải tràn đầy tư tưởng Nho gia và hình thức thì phải theo yêu cầu của tác phẩm văn học. Văn chương cử tử là thứ văn chương khô khan, dùng khuôn phép định sẵn để viết về những nội dung kinh điển. Việc nhà Nho không những coi văn chương khoa cử là văn chương đích thực mà còn coi nó là thứ văn chương chính thống, chính đạo nhất, đã  trở thành ý thức, quan niệm bất di bất dịch, chi phối một cách sâu sắc toàn bộ văn chương khoa cử từ nội dung trước thuật tới cách đánh giá.

Ưu điểm và nhược điểm của việc dạy, học, thi cử và văn chương khoa cử

Ưu điểm là đề cao văn chương, coi văn chương có vai trò rất lớn trong xã hội loài người.

Đề cao trách nhiệm của người làm văn chương. Ở thời nào cũng thế, sứ mệnh của nhà văn rất cao cả. Vấn đề cần xét là người viết văn, làm thơ phục vụ ai ? Nếu nhà văn viết vì cái đẹp, vì nhân dân, vì lẽ phải, vì sự tiến bộ của xã hội, thì trách nhiệm của nhà văn cần được đề cao.

Nghiêm khắc đối với việc học, đối với lao động văn chương là điều rất cần. Văn chương khoa cử, qua cách làm của chế độ phong kiến, đã đào tạo được nhiều người tài. Thí sinh phải học sâu, biết rộng, làm văn thơ phải thông thuộc khuôn phép. Chế độ khoa cử đã khiến người ta phải rèn đức kỉ luật, đức cần cù, khổ luyện.

Như vậy, khoa cử chính là cuộc thi sáng tác thơ văn trong thời gian hạn hẹp, bị quản lí chặt chẽ (trong lều chõng). Ai nông cạn, chậm chạp, kiến văn thấp, ắt phải trượt. Những bài thi được chấm đỗ là những áng văn mẫu.

Sau văn chương khoa cử, một số tài năng lớn đã xuất hiện, một số tác phẩm lớn đã ra đời.

Nhược điểm là thi cử chọn người tài mà chỉ thi văn là lệch hướng. Quan niệm coi văn thay cho tất cả, đã khiến xã hội phong kiến ít phát triển về kinh tế, khoa học - kĩ thuật, dẫn đến trì trệ.

Khuyến khích đi học, đi thi để làm quan, làm “cha mẹ” dân, là một quan niệm hạn chế - thậm chí sai lầm -  của chế độ phong kiến.

Văn chương viết khi làm bài thi, đương nhiên là viết gò bó trong khuôn phép, thì khó hay. Không thể đề cao một chiều loại văn chương này. Những tác phẩm văn chương để lại cho đời sau, làm rạng rỡ nền văn học nước nhà chắc chắn không phải là tất cả những bài thi khoa cử xuất sắc. Trên thực tế, trong hàng nghìn bài thi, chỉ có số ít bài có giá trị nghệ thuật cao, gọi là có sáng tạo. Còn hầu hết là “tầm chương trích cú”, khuôn phép, gượng ép. Nhược điểm về chất lượng nghệ thuật của văn chương khoa cử như vừa nêu đã để lại một gánh nặng cho lịch sử văn học.

Phạm Đình Ân

Từ những ngả nào, thơ đến?
Từ những ngả nào, thơ đến?

Cách nay cũng lâu lâu, nhà thơ, nhà phê bình Nguyễn Đức Tùng (sinh sống tại Canada) đã xuất bản một cuốn sách khá thú vị,...

Tin liên quan

Tin mới nhất