Người nữ anh hùng của dòng Sông Mã, “nhập vào câu hò mênh mông”
Ngày 4/7 vừa qua, khi dòng sông Mã trôi chậm, trong nỗi tiếc thương vô hạn, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Thị Tuyển đã về với đất mẹ. Ngay lúc này, đọc những vần thơ của Từ Nguyên Tĩnh, ta như thấy bà vẫn ở đó, không phải chỉ là biểu tượng anh hùng mà là một cô gái nhỏ bé, với chiếc băng trật tự viên trên tay, vác trên vai cả sức nặng của lịch sử và hồn cốt dân tộc. Bài thơ như một nén tâm hương, dịu dàng mà cháy bỏng, tạc vào ký ức muôn đời vẻ đẹp vĩnh hằng của một người con gái đã hóa thân thành hồn thiêng sông núi.
Bản lĩnh thép trong dáng hình nhỏ bé
Ngô Thị Tuyển là ai? Bà là cô gái của làng Nam Ngạn, một cái tên đã thành huyền thoại từ những ngày Hàm Rồng, Thanh Hóa lửa cháy. Nhưng trong thơ Từ Nguyên Tĩnh, bà hiện lên là một con người bằng xương bằng thịt, đại diện tiêu biểu cho phẩm chất anh hùng của người phụ nữ xứ Thanh.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Ngô Thị Tuyển (1946-2026). Ảnh tư liệu: UBND phường Hàm Rồng
Từ Nguyên Tĩnh không chọn cách tụng ca ồn ào, ông đi vào lòng người bằng chính sự thật. Những câu thơ thành thực, như đời vốn có: “Làm trật tự viên / Vận động bà con trong làng đi sơ tán/ Ngày 26 tháng 5 năm 1965/ Tàu Hải quân bắn hết đạn/ Nguy cơ bị máy bay địch đánh chìm...” đã xác tín một sự kiện lịch sử “Tàu hải quân bắn hết đạn” để cho vẻ đẹp của hành động người hỗ trợ lính Hải quân hiện lên rõ nét.
Hình ảnh “Ngô Thị Tuyển chưa kịp/ cất chiếc băng trật tự viên trên tay” là một chi tiết mang ý nghĩa biểu tượng, xóa bỏ ranh giới giữa người cầm súng và người dân thường. Đó chính là cốt cách người nữ xứ Thanh, khi bình thường thì tần tảo, đảm đang, nhưng khi đất nước lâm nguy thì lập tức hóa thân thành người giữ nước, dấn thân không toan tính.
Đỉnh điểm của tình tiết trong bài thơ là khoảnh khắc cô gái đối đầu với tử thần: “Tuyển nói cùng đồng đội/ Đặt lên lưng cho tôi/ Bước từng bước/ rồi chạy băng băng lên tàu”. Từ "băng băng" là một sự lựa chọn ngôn từ có sự hăm hở của tâm thế, vừa có sự nhanh nhẹn của động tác và sự mạnh mẽ toát ra từ sự khỏe mạnh. Những câu thơ ngắn đã xóa nhòa ranh giới giữa đôi vai gầy và sức nặng của đạn dược.
Cái hay của Từ Nguyên Tĩnh là ông không dùng từ ngữ to tát để miêu tả chiến công, mà dùng chính cái sự "nặng" của hai hòm đạn để tôn vinh cái "nhẹ" của tinh thần hiến dâng, lòng quả cảm. “Không ai kịp nói điều gì/ Mặc máy bay gầm rú trên đầu” câu thơ như một khoảng lặng của sự kinh ngạc, vì ngay cả đồng đội cũng không thể tin vào những gì đang hiện hữu. Chiếc hòm đạn, mỗi hòm gần 50 cân. Với phụ nữ “chân yếu tay mềm” đã là cố gắng. Nhưng đây lại gồm 2 hòm đạn dính nhau, tận 98 cân.
Quả thật đó là phi thường. Cảm tưởng như có sức mạnh siêu nhiên phù trợ. Nhưng không, có nhân chứng đồng đội chứng kiến, đây là sự chiến thắng của bản lĩnh con người trước hiểm nguy, trước sức mạnh hủy diệt, đã lựa chọn đối diện chứ không bỏ cuộc, hành động chứ không thoái thác. Chi tiết nhỏ, mang biểu tượng lớn trên đã khẳng định phẩm chất kiên cường thấm sâu vào máu thịt của người phụ nữ Thanh Hóa nói riêng, phụ nữ Việt Nam nói chung.
Tình yêu đời thường và hạt nhân tâm hồn vẹn nguyên
Bà Ngô Thị Tuyển mất đi, nhưng bà để lại gì? Không chỉ là chiến công, mà là minh chứng sống động cho khí chất anh hùng của con người Thanh Hóa, của phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh.
Sau những trang viết về chiến tranh, Từ Nguyên Tĩnh đưa người đọc trở về với đời thường. Đây là đoạn thơ giàu chất nhân văn nhất, nơi người nữ anh hùng hiện về trong những giản đơn: “Cô gái nhỏ bé trở về/ cùng ruộng rau muống, trại chăn nuôi/ ... / Biết bao nỗi niềm/ Khao khát yêu đương/ Thèm một tiếng khóc gọi mẹ”.
Trong lý luận về con người đời thường, đây là phân đoạn quan trọng nhất. Tác giả đã ngầm triết lý: người anh hùng mang bóng dáng huyền thoại nhất khi sau chiến công trả họ về với bản thể đích thực của họ. Một người phụ nữ từng vác trăm cân đạn trên vai, giờ đây lại khao khát những thứ giản đơn nhất. Chính cái khao khát yêu đương và thèm tiếng khóc gọi mẹ ấy đã khiến Ngô Thị Tuyển trở nên vĩ đại hơn bất kỳ bức tượng đồng nào, bởi bà đại diện cho cái tâm hồn bao dung, bền bỉ của người dân xứ Thanh đó là vừa hiên ngang trước quân thù, vừa dịu dàng, sâu nặng với tình thân, với xóm làng.
Bà Ngô Thị Tuyển đã về cõi Phật, nhưng bà để lại một hơi ấm tinh thần bất diệt. Chủ đề cao quý nhất mà bài thơ hướng đến chính là sự hòa nhập của cá nhân vào cõi vĩnh hằng. Từ Nguyên Tĩnh đưa bà về với hơi thở của đất trời: “Ngày mai.../ ngày mai.../ Ai qua Hàm Rồng/ Nam Ngạn/ Dừng chân bên dòng sông Mã/ Có nhận ra cô gái/ Vác hai hòm đạn/ Nhập vào câu hò mênh mông”....
Cách kết thúc này đẩy bài thơ lên tầm khái quát. Bà không còn là một cá nhân riêng biệt, mà đã trở thành hồn thiêng, thành nhịp điệu của dòng sông Mã chảy mãi ngàn đời. “Nhập vào câu hò mênh mông” là một ẩn dụ sâu sắc. Câu hò dò tả, dô tà là nhịp của sóng xô, nhịp của đời thường, cũng là nhịp chiến trận. Câu hò xứ Thanh là văn hóa bản địa, là hơi thở của nhân dân. Người anh hùng không chết, họ chỉ "nhập" vào hồn quê hương để trở thành sự vĩnh cửu.
Bài thơ khép lại, người nữ anh hùng ấy vẫn như hiện diện đâu đây, mở ra bóng dáng, tinh thần chân thực, giản dị mà lung linh, huyền ảo giữa dòng sông Mã. Tác giả Từ Nguyên Tĩnh từng là một người lính Hàm Rồng, là đồng đội, là nhà văn, nhà thơ ông đã tái hiện chân dung một nữ anh hùng bằng thơ với sự ra đi đẹp đẽ “hòa vào câu hò mênh mông”.
Câu thơ làm cho toàn bộ bài thơ bừng sáng. Cái lãng mạn, có yếu tố sử thi chính là sự anh hùng hòa trong câu hò muôn đời, nhắc nhở hậu thế về một thời đã sống, đã yêu và đã hiến dâng trọn vẹn. Đó chính là điều quý giá nhất bà để lại, một nhân cách lớn trong một dáng hình giản dị, một hình mẫu tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn và khí phách của người dân Thanh Hóa - nơi những con người nhỏ bé luôn làm nên những điều kỳ diệu cho đất nước.
Bài thơ của Từ Nguyên Tĩnh là một hành trình ký ức trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến hiện tại của nhân vật nữ anh hùng Ngô Thị Tuyển. Nếu bà đã hóa thân vào dòng sông để thêm dư âm cho những câu hò, thì mỗi người trong chúng ta khi đọc lại những lời thơ này sẽ thấy mình được truyền thêm sức mạnh. Anh hùng không phải là đấng siêu nhiên, anh hùng chính là người biết sống trọn vẹn với quê hương, biết yêu lấy ruộng đồng, biết trân trọng tiếng khóc gọi mẹ, biết khao khát yêu đương... và biết dấn thân khi Tổ quốc cần. Xin bái biệt bà về cùng sông núi ngàn năm…
Anh hùng Ngô Thị Tuyển
Từ Nguyên Tĩnh
Làm trật tự viên
Vận động bà con trong làng đi sơ tán
Ngày 26 tháng 5 năm 1965
Tàu Hải quân bắn hết đạn
Nguy cơ bị máy bay địch đánh chìm
Cờ tín hiệu xin tiếp viện
Ai xung phong tiếp đạn lúc này?
Ngô Thị Tuyển chưa kịp
cất chiếc băng trật tự viên trên tay
Vác từng hòm đạn chạy trên cầu tàu
Bỗng có hai hòm đạn dính vào nhau
Không làm sao tách rời ra được
Tuyển nói cùng đồng đội
Đặt lên lưng cho tôi
Bước từng bước
rồi chạy băng băng lên tàu
Không ai kịp nói điều gì
Mặc máy bay gầm rú trên đầu
Cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn
Bắn rơi mấy chiếc máy bay
Bắt bao nhiêu phi công
Không ai bàn đến
Chuyện
Ngô Thị Tuyển
Nam Ngạn - Hàm Rồng!
Vác hai hòm đạn nặng gần trăm cân.
Cô gái nhỏ bé trở về
cùng ruộng rau muống, trại chăn nuôi
Vẫn tinh anh nở những nụ cười
Cô không trực tiếp cầm súng
Nhưng cõng trên lưng hai hòm đạn
Hành động phi thường
Xảy ra chỉ một lần
Rồi lại về làm một người dân.
Biết bao nỗi niềm
Khao khát yêu đương
Thèm một tiếng khóc gọi mẹ
Hàm Rồng đã dựng đài kỷ niệm
Về chiến công người nữ Anh hùng.
Ngày mai...
ngày mai...
Ai qua Hàm Rồng
Nam Ngạn
Dừng chân bên dòng sông Mã
Có nhận ra cô gái
Vác hai hòm đạn
Nhập vào câu hò mênh mông...
Bình luận