Trần Đăng Khoa - Từ thần đồng thơ đến cây bút văn xuôi tài hoa

BẮT ĐẦU TỪ “GÓC SÂN VÀ KHOẢNG TRỜI”

Trần Đăng Khoa sinh năm 1958 tuổi Mậu Tuất. Tám năm sau (1966) Khoa đã có bài thơ in trên báo. Người có công phát hiện ra tài năng lớn từ sớm và khuyến khích em làm thơ phải kể đến hai người, đó là người anh ruột - thầy giáo, nhà thơ Trần Nhuận Minh và thi sĩ vừa có tâm vừa có tài lớn là Xuân Diệu.

Trong 7 năm cầm bút (1966-1973), cậu bé Khoa đã viết hàng trăm bài thơ và được Nhà xuất bản Kim Đồng làm vai trò “bà đỡ”, tập thơ Góc sân và Khoảng trời với 66 bài thơ và lời giới thiệu mở đầu của thi sĩ Xuân Diệu. Trần Đăng Khoa được tôn vinh là “thần đồng” có lẽ cũng từ sau khi được in tập thơ đó. Hàng thúng giai thoại về thần đồng Trần Đăng Khoa trải dài trên cả nước. Nhà thơ Phạm Khải viết “Nhà thơ Trần Đăng Khoa, nỗi oan giai thoại” in trên báo An ninh Thế giới giữa tháng số 5/2008.

Tôi có trong tay tập thơ Góc sân và Khoảng trời của Trần Đăng Khoa in đợt đầu tiên năm 1973, quý như bắt được vàng. Tôi liền phát huy tác dụng tập thơ đó bằng cách sau bữa cơm tối hàng ngày mở cuộc thi đọc thơ, mỗi lần một bài, đọc thuộc lòng, đọc diễn cảm và có chấm điểm cho hai cháu là Hoàng Minh và Hoàng Ngọc Châu. Cuộc thi kết thúc ở bài số 66. Thơ Khoa đã “ngấm” vào Hoàng Ngọc Châu. Châu làm thơ và cũng được giải Nhất - thơ nhi đồng toàn quốc năm 1978, công bố trên báo Thiếu niên Tiền Phong, giải khuyến khích cuộc thi thơ quốc tế “Trẻ em nói với trẻ em”. Hoàng Ngọc Châu còn được giải Nhất cuộc thi kể chuyện, giải vẽ tranh thiếu nhi của Hà Nội. Giải thi học sinh giỏi toán huyện Từ Liêm, Hà Nội. Nhân dịp này tôi mời Trần Đăng Khoa đến thăm nhà ở Làng Cót, xã Yên Quyết, huyện Từ Liêm (cũ). Các cháu nhà tôi rất mừng loan tin với các bạn trẻ hàng xóm. Biết tin “thần đồng” Trần Đăng Khoa đến, trẻ em hàng xóm tập trung rất đông, bật cửa sổ nhà tôi để được nhìn tận mắt nhà thơ Trần Đăng Khoa như thế nào. Phục tài nhà thơ thì phục lắm nhưng mục sở thị rồi chúng chép miệng xì xào: “Trông nhà quê, tẩm bỏ mẹ ấy”. Đây là chuyện có thật 100%, không phải giai thoại. Lại có ý kiến: “Điều đó không quan trọng, ăn nhau ở cái đầu”.

Trần Đăng Khoa - Từ thần đồng thơ đến cây bút văn xuôi tài hoa - 1

Tôi rất thích lời giới thiệu bé Khoa của nhà thơ Xuân Diệu, nhưng càng thích hơn khi ông được nhiều cơ quan mời đến nói chuyện thơ Trần Đăng Khoa. Nhà thơ Xuân Diệu vào loại đẹp trai có hạng, lại có tài dùng mắt, đôi tay và giọng nói  cực kỳ diễn cảm để “thôi miên” người nghe.

Em Trần Đăng Khoa có khiếu làm thơ từ rất sớm. Chùm thơ đầu tiên của Khoa làm, em đặt tên là Từ góc sân nhà em. Nó nhỏ lắm, nhưng nó là cái thế giới đầu tiên của bé Khoa. Từ lúc bé chập chững tập đi, cho đến lúc bé tám tuổi, làm những câu thơ đầu tiên. Cái vũ trụ tí hon đó quan trọng như lòng đỏ quả trứng gà. Tôi đã nhìn thấy quanh sân, những “nhân vật” đi vào trong những bài thơ của bé Khoa, những vật rất thông thường, nhưng đượm sắc thần tiên của hồn con trẻ. Tôi đã bước trên sân nhà bé Khoa, đi qua đi lại với một thái độ quan trọng. Tôi đang ở trong bầu không khí thế giới đầu tiên của bé Khoa. Tôi muốn nói nhiều về cái sân, vì đây là chỗ đầu nguồn của thơ Khoa mà cũng thú vị thật, đối với em nhỏ ở nông thôn. Và chẳng bao lâu, từ góc sân nhà em, Khoa nhìn lên cao và nhìn ra xa, thấy sông Kinh Thầy của quê mình, thấy hình ảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tôi xin tiết lộ bài thơ viết đầu tiên của Khoa là bài Con bướm vàng. Một hôm ngồi đun bếp, em Khoa chợt nhìn thấy con bướm vàng bay ngoài vườn, em buột miệng đọc: “Con bướm vàng/ Bay nhẹ nhàng/ Trên bờ cỏ/ Em thích quá/ Liền đuổi theo/ Con bướm vàng/ Nó vỗ cánh/ Vút lên cao/ Em nhìn theo/ Con bướm vàng/ Con bướm vàng!...” và viết lại vào giấy ngay sau đó.

Hôm ấy, Khoa đuổi theo con bướm, đuổi theo cả thơ để nồi cơm trương, mẹ đi làm về mắng, Khoa không dám cãi, đứng im, không nói là con mải làm thơ!

Học xong vỡ lòng, Khoa bắt đầu đọc sách. Khoa rất thích đọc các tập thơ. Anh Trần Nhuận Minh biết em ham đọc sách nên khuyến khích: “Em cố học chăm, anh sẽ để cho em một tủ sách riêng tha hồ mà đọc”. Lên lớp hai, Khoa đã làm được vài chục bài thơ. Thời gian ấy, nhà thơ Xuân Diệu là người sáng lập ra chuyên mục “Tiếng thơ” của Đài Tiếng nói Việt Nam. Phát hiện ra Trần Đăng Khoa tài năng bẩm sinh rất đặc biệt liền giới thiệu trên Đài Tiếng nói Việt Nam, nhờ đó bạn nghe đài cả nước biết đến. Thơ Trần Đăng Khoa “bay” ra nước ngoài, cùng với nhà thơ Phạm Tiến Duật ở chiến trường Trường Sơn.

Mùa hè năm 1968, nhà báo, nhà văn xinh đẹp - người bạn lớn của Nguyễn Đình Thi là Madeleine Riffaud sang thăm Việt Nam đã viết bài: Khoa - Em bé thi sĩ của Việt Nam một khúc hát nhỏ mạnh hơn bom đạn Mỹ đăng trên Tuần báo Nhân đạo chủ nhật của Pháp và giới thiệu mấy bài thơ của Khoa, đó là: Tiếng chim chích chòe, Mưa, Sao không về Vàng ơi, Khi mẹ vắng nhà, Em kể chuyện này. Chị Riffaud rất thích mấy câu thơ tiêu biểu cho cái “không sợ” của nhân dân Việt Nam đối với giặc Mỹ, qua con mắt của Khoa: “Ao trường vẫn nở hoa sen/ Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu”.

Cuối năm 1968, nhà thơ Xuân Diệu đích thân đưa đoàn làm phim vô tuyến truyền hình Pháp hai lần về quê hương Trần Đăng Khoa quay phim giới thiệu Trần Đăng Khoa ra thế giới. Nhà xuất bản Kim Đồng tuyển chọn 66 bài thơ in trong tuyển tập Góc sân và Khoảng trời phần lớn là những bài thơ hay, làm xúc động trong trái tim người đọc ở mọi lứa tuổi.

Bài viết về Hà Nội, từ một cậu bé nhà quê là nhà thơ lần đầu tiên đặt chân lên đất Thủ đô, cảm xúc quả thực choáng ngợp. Bài thơ Hà Nội với 7 khổ thơ viết về cái quạt máy, tàu điện, chú bộ đội mua hoa trước khi ra mặt trận, viết về Hà Nội bị bom Mỹ đánh nhưng có sao đâu: “Trăng chùa Một Cột/ Hòa Bình rực phim mầu”. Hà Nội vẫn nhộn nhịp vì có tàu điện: “Đi về vẫn leng keng/ Người xuống và người lên/ Người nào trông cũng đẹp”. Viết về cái quạt máy với cách nhìn rất trẻ thơ: “Hà Nội có chong chóng/ Cứ tự quay trong nhà/ Không cần trời nổi gió/ Không cần bạn chạy xa”. Nhưng, đặc biệt chỉ bốn câu cũng đủ tự hào và tôn vinh Thăng Long - Hà Nội: “Hà Nội có Hồ Gươm/ Nước xanh như pha mực/ Bên hồ, ngọn Tháp Bút/ Viết thơ lên trời cao!”. Nếu “Thần Siêu”, “Thánh Quát” còn sống cũng phải “Khuyên son tầu” cho cậu bé Khoa mới 11 tuổi, đã cầm bút “Viết thơ lên trời cao”!

Trong tập còn có bài Khoa viết tặng bé Giang, kính tặng mẹ, còn kính tặng các thi nhân bậc thầy như Tố Hữu, Sóng Hồng, Huy Cận, Tô Hoài. Đặc biệt là Xuân Diệu, người định hướng cho Khoa không nên tham nhiều thứ, chỉ một lòng phụng sự cho thơ mới có thể đạt lên đỉnh cao được. Bài Hạt gạo làng ta viết để kính tặng chú Xuân Diệu và tôn vinh người mẹ vĩ đại của mình, nhiều lần em nhắc lại Hạt gạo làng ta như một điệp khúc: “Hạt gạo làng ta/ Có vị phù sa/ Của sông Kinh Thầy/ Có hương sen thơm/ Trong hồ nước đầy/ Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi hôm nay/… Hạt gạo làng ta/ Có bão tháng bảy/ Có mưa tháng ba/ Giọt mồ hôi sa/ Những trưa tháng sáu/ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy!...”.

Chưa cần đến nhạc sĩ phổ nhạc, bài thơ Hạt gạo làng ta cũng trở thành kiệt tác giúp Khoa trở thành “thần đồng”. Hạt gạo làng ta nhanh chóng bay xa trên toàn quốc, bay sang nhiều nước, “thấm” vào tận tim can mọi người sau khi đã đọc.

…ĐẾN MÊNH MÔNG “GÓC BIỂN - KHOẢNG TRỜI”

Mênh mông thật đấy nhưng cũng chưa hơn Góc sân và Khoảng trời thời Khoa còn ít tuổi, bởi cậu bé Khoa thời ấy còn được đi tàu hỏa, được biết Cầu Cầm, thăm vùng than Quảng Ninh để gặp các chú công nhân, rồi viết Lời của than, được thăm Ngôi đền Bãi Cháy… đặc biệt được thăm Thủ đô Hà Nội đẹp lộng lẫy và vô cùng sảng khoái khi viết về chiếc quạt máy Hà Nội có tàu điện, có Hồ Gươm… Khoa ra Hà Nội cứ y như Nguyễn Trường Tộ được triều đình cử đi xứ, thấy đèn điện treo ngược vẫn rực sáng! 

Ra Trường Sa tuy là đại dương nhưng Khoa chỉ là anh lính binh nhì cắm chốt ở Đảo Chìm quanh năm suốt tháng chỉ làm bạn với nước biển, mây trời và đàn chim O suốt ngày vỗ cánh kêu “òa, òa” với một nhiệm vụ thiêng liêng, là canh giữ biển của Tổ quốc. Vậy mà hóa hay?

Khoa có điều kiện quan sát kỹ lưỡng, hiểu cái huyền bí của thiên nhiên, biển cả và nhìn thấu tâm can của anh lính biển nên những cấu tứ, hình ảnh, ngôn ngữ viết ra làm cho người đọc tưởng như mình đang sống cùng với tác giả nơi Đảo Chìm.

Trần Đăng Khoa - Từ thần đồng thơ đến cây bút văn xuôi tài hoa - 2

Đọc bài Cô tổng đài hải đảo làm tôi chết lặng. Chỉ hai câu: “Mới năm nào em còn ở Trường Sơn/ Nay đã Trường Sa - Tổng đài hải đảo”. Tôi đã từng ở Trường Sơn 10 năm, được chứng kiến bộ đội nữ, nữ thanh niên xung phong 5 năm làm lính công binh sửa đường, phá bom nổ chậm. Giữa cái “nắng lửa, gió Lào”, hàng vạn con ve sầu kêu não nề. Dưới suối, chị em âm thầm vác những cục đá hộc ném đánh “ục” một tiếng để có đường ngầm tối nay xe đi qua và nước suối đã vội xóa đi dấu vết. Nhìn những hình ảnh ấy mà ứa nước mắt. Tuổi này ở Trường Sơn đã sẵn sàng hy sinh tính mạng, hy sinh chuyện chồng con, nay lại có mặt ở Trường Sa trong bài thơ Cô tổng đài hải đảo và khi ra quân tóc đã chuyển màu, chỉ còn biết vào chùa tu thành sư cụ! Sự hy sinh ấy quả thật vĩ đại, hết sức bi hùng, còn mãi trong ký ức tôi.

Chỉ 15 bài thơ in trong Đảo Chìm, chưa phải là tất cả nhưng người đọc đã hiểu lính Trường Sa đến chân tơ kẽ tóc qua các bài: Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Hát về một hòn đảo, Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài, Những đám mây trắng ngời từ hải đảo… đặc biệt là hai bài Lính đảo hát tình ca trên đảoThơ tình người lính biển. Lính đảo hát tình ca trên đảo nói về cuộc sống khắc khổ, thiếu thốn nhưng vẫn lạc quan, Thơ tình người lính biển, rất nhiều người trong nước và cả người nước ngoài cũng thuộc: “Anh ra khơi/ Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng/ Phút chia tay anh dạo trên bến cảng/ Biển một bên và em một bên”. Câu thơ Tế Hanh đưa vào thành điệp khúc rất đắt: “Biển ồn ào, em lại dịu êm/ Em định nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ/ Anh như con tàu lắng xuống từ hai phía. Rồi lại: “Biển một bên và em một bên… Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn/ Tàu anh buông, neo dưới chùm sao xa lắc/ Thăm thẳm nước trời nhưng anh không cô độc”. Bởi vì đã có: “Biển một bên và em một bên”… Sang khổ thơ tiếp theo: “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/ Bão táp chưa ngưng trong vành tang trắng/ Anh đứng gác. Trời khuya, Đảo vắng”. Nhưng anh vẫn vững tâm vì đã có: “Biển một bên và em một bên!”...

Hai bài thơ Lính đảo hát tình ca trên đảo và Thơ tình người lính biển là hai bản tình ca hay nhất mọi thời đại của Trần Đăng Khoa viết về người chiến sĩ hải quân ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc. Thơ Trần Đăng Khoa viết về Trường Sa từ năm 1975-1982 khi đang ở tuổi từ 20-25, cái tuổi đang thăng hoa, sức vóc đang cường tráng.

Tuổi nhỏ Trần Đăng Khoa làm thơ được “phong” là thần đồng duy nhất ở Việt Nam. Thơ Trần Đăng Khoa viết về Trường Sa cũng không hề thua kém.

CHUYỆN TRẦN ĐĂNG KHOA VIẾT “CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI”

Từ Trường Sa, Trần Đăng Khoa được cử sang Liên Xô tu nghiệp ở Học viện Gorky. Kết thúc khóa học rồi trở lại biển Đông để hoàn thành nghĩa vụ của một chiến sĩ hải quân.

Nói đến Trần Đăng Khoa làm thơ, không thể không nói đến Trần Đăng Khoa viết văn. Ở lĩnh vực này có thể kể đến: Chân dung và Đối thoại, Đảo Chìm, Hầu chuyện thượng đế, Người thường gặp… Nhưng Chân dung và Đối thoại ngay từ đầu đã bị gặp hạn bị đồng nghiệp và bạn đọc “tung lên” và “hạ xuống” như một trận bão cuồng phong. Tuổi đời còn non choẹt mà đã dám xông vào “đụng” đến những thần tượng xưa nay chưa ai dám. Đây là cơ hội để kẻ cơ hội có điều kiện “đục nước béo cò”, đương nhiên hoạt động. Nhà văn Phùng Văn Khai thuộc thế hệ sau nhưng rất gần gũi với Trần Đăng Khoa, mỗi khi nói đến bậc đàn anh đáng kính: “Văn học Việt Nam sau đổi mới (1986), Chân dung và Đối thoại góp một tiếng nói sôi động, đặc sắc và lan tỏa ghê gớm. Mọi người nhìn Trần Đăng Khoa bằng rất nhiều con mắt khác nhau. Tung hô ngút trời như thần đồng tái sinh cũng rất nhiều mà phải phản biện; thậm chí là phản đối, coi Trần Đăng Khoa như “kẻ đốt đền”...

Thiên hạ chia làm nhiều phe sôi sùng sục quanh Chân dung và Đối thoại. Phùng Văn Khai phá lên cười và nhận xét rất hóm: “…người thắng lợi nhất hóa ra lại chính là “đại ca” Trần Đăng Khoa!”. Sách cứ thế nối bản, tái bản vô hồi kỳ trận!”.

Trần Đăng Khoa - Từ thần đồng thơ đến cây bút văn xuôi tài hoa - 3

Nói như vậy thôi, chứ khổ chủ làm sao không bị mất tinh thần được. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ khá am hiểu và đau đớn nói về Khoa. “Thời ấy người ta làm hẳn một cuộc luận bàn rất đông để xẻ thịt - tác phẩm này tại Tòa soạn Báo Văn Nghệ, vậy mà không một ai đứng ra bênh vực Trần Đăng Khoa trong cuộc hội thảo ấy”. Tôi là kẻ ngoại đạo được chứng kiến cuộc hội thảo và còn giữ được hai số báo Văn Nghệ 12+13 ra tháng 3/1999 phản ánh cuộc hội thảo cho đến hôm nay. Đặc biệt là số 13 có in bài phát biểu dài của nhà thơ Tố Hữu. Nhưng Khoa sớm bình tĩnh trở lại và có ý kiến, đại ý: Trần Đăng Khoa xin rất cám ơn mọi người đã để mắt đến cuốn sách này, lại có lòng ném nó vào lửa. Nếu là vàng mã, nó sẽ bùng cháy và tàn lụi, nhưng nó là vàng ròng thì không thể cháy mà càng đốt, càng sáng lên. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ còn là một cây bút thẩm định văn chương sắc sảo đã nói đúng ý nghĩ của nhiều người: “Cho tới nay, đọc lại Chân dung và Đối thoại vẫn hấp dẫn và thú vị. Thời gian chính là thước đo khách quan nhất để xác định giá trị của tác phẩm mà Trần Đăng Khoa với tài năng và trí tuệ của mình đã tạo được một cuốn sách tuyệt vời…

Trở lại tiểu thuyết mini Đảo Chìm, Trần Đăng Khoa tâm sự: “Đảo Chìm là cuốn văn xuôi thứ hai của tôi, sau Chân dung và Đối thoại. Thực tình, đây chỉ là cuốn truyện “người thật việc thật”. Hay nói cách khác, là truyện của một anh nhà báo, thấy gì ghi thế. Truyện đã có sẵn trong đời sống. Nhân vật đều là người thật việc thật. Nhiều người hiện vẫn còn đang sống và họ cũng đã đọc cuốn sách viết về mình và đồng đội mình. Khi đời sống tự nó đã là một vẻ đẹp rồi thì người viết rất dễ sáng tạo. Có trường hợp không cần phải thêm bớt, hư cấu. Tôi chỉ có một cố gắng nhỏ, là vun vén lại cho gọn, kể sao cho thật hấp dẫn. Bởi thế, tôi cố gắng viết cho thật đa dạng và sinh động. Mỗi truyện một kiểu. Không cái nào giống cái nào, để bạn đọc có thể vừa cười vừa khóc, đọc một mạch”…

Trần Đăng Khoa đã làm được đúng như lời dạy của cổ nhân nói về phương pháp sáng tác hiện thực: “Hiện thực là chất liệu để xây dựng nên tác phẩm. Nhưng tác phẩm xây dựng xong phải cao hơn hiện thực, trở thành chuẩn mực của thiên nhiên và con người”.

Trần Đăng Khoa tâm sự tiếp với bạn đọc: Tôi đã có mặt ở hầu hết các hòn đảo trong quần đảo Trường Sa, nhưng ấn tượng nhất với tôi là đảo Thuyền Chài, một hòn đảo kỳ lạ… Tôi đã viết đến hơn chục bài thơ về nó mà cảm giác vẫn chưa nói được gì cả, đó là các bài: Đồng đội tôi ở đảo Thuyền Chài, Ghi ở Đảo Chìm, Lính Đảo Chìm, Hát về một hòn đảo… Năm 1978, tôi cũng đã viết một tiểu thuyết dài, dày hơn 300 trang về nó. Nhưng rồi tôi lại ném cuốn sách vào đống giấy lộn. Vì đọc cứ thấy giả. Không thể chấp nhận được.

Nhưng mà khốn khổ. Cái hòn đảo quái quỷ ấy vẫn không chịu buông tha tôi. Tôi lại viết lại. Lần này tôi “cô” cái truyện chỉ còn chừng 80 trang, lại tách ra thành 15 truyện. Mỗi chuyện một tình huống. Có truyện chỉ ba bốn trăm âm tiết. Truyện dài nhất cũng chỉ bốn, năm trang. Tách ra, nó thành truyện độc lập, gộp lại trong một chuỗi thì nó là cuốn tiểu thuyết 15 chương. Mỗi chương là một chuyện. Các truyện đều liên quan đến nhau.

Tôi rất mừng là cuốn sách cũng được bạn đọc ưu ái. Chỉ sau hơn hai tháng ra đời cuốn sách đã được nối bản. Trong lần in thứ hai ở Nhà xuất bản Thanh Niên, tôi có chỉnh một số chữ và chi tiết theo sự góp ý của bạn đọc mà tôi thấy hợp lý. Tôi cũng bổ sung thêm ảnh tư liệu, ảnh các nhân vật trong truyện. Cả ảnh hạ sĩ Trần Văn Hai, một anh chàng quanh năm cởi truồng, lính ta gọi là “Thi sĩ Hai Ùm? Trong ảnh là thi sĩ Hai Ùm dạy cô nàng Antaramêna tập bơi. Bức ảnh quý hiếm này, nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Đức Do đã “chộp” được khi anh ghé qua xứ Đảo Chìm”.

Ý kiến của Trần Đăng Khoa và một số nhà văn về nội dung tác phẩm đã quá đủ. Nếu tôi lại viết thêm e rằng thừa, bạn đọc họ sẽ cáu bẳn: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.

Cảm nghĩ của các nhân vật trong Đảo Chìm và nhận xét của bạn đọc quả thực tinh tế, nhiều khám phá, phát hiện có thể còn độc đáo hơn những cây bút lý luận phê bình chuyên nghiệp. Hàng chục năm về trước, đọc Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa trên Trúc Sơn Trang của nhà văn Xuân Đức, chỉ sau một ngày đã có hàng vạn lượt người đọc và hàng nghìn ý kiến phản hồi cảm ơn và kính phục tài năng tác giả Trần Đăng Khoa, cảm ơn nhà văn Xuân Đức.

Đầu tiên là nhắc đến những nhân vật nguyên mẫu trên đảo Thuyền Chài (Đảo Chìm) là Trần Trọng Trí, chính là nhân vật chính trị viên Thuận trên đảo Thuyền Chài. Lưu Chí Kiên: “Tôi là lính của Thượng tướng Giáp Văn Cương tài năng và đức độ.. là tướng quân sự nhưng ông diễn thuyết cực hay”. Còn Trần Xuân Viễn thừa nhận: “Tôi đã đọc Đảo Chìm”, đọc một lèo cuốn tiểu thuyết mi ni của Trần Đăng Khoa lúc thì khóc, lúc thì cười, hay vô cùng. Vốn là lính biển, tôi thấy không có ai viết về lũ chúng tôi hay đến thế. Theo tôi, đây là cuốn tiểu thuyết viết hay nhất Việt Nam,tính từ 1945 đến nay”. Vũ Minh Hoàng đọc và viết rất tinh về Trần Đăng Khoa: “Cậu Khoa đưa gọn mỗi truyện vào một chương thành một truyện ngắn, truyện mi ni. Nghĩa là tách riêng ra cái truyện có thể đứng độc lập`thành một tác phẩm riêng biệt, nhưng gộp lại thì chương nọ làm rõ chương kia. Các chương lại gắn kết thành một cuốn tiểu thuyết thực sự, ngôn ngữ cũng là ngôn ngữ của tiểu thuyết với giọng văn chương rất riêng biệt, đọc rất xúc động, rất hiện thực. Viết giỏi lắm”. Ông bạn Phạm Xuân Viễn không nhận xét nhưng khen Vũ Minh Hoàng phân tích, bình luận quá hay…Tác phẩm của Trần Đăng Khoa sẽ còn mãi cùng các thế hệ sau, vì tài năng hiếm có và tấm lòng rất cao đẹp của tác giả. Còn Nguyễn Huy Liêm là y tá của đảo, người mổ ruột thừa là nhân vật có thật của Khoa nhưng trong tác phẩm, Khoa chỉ để tên y tá Liêm không thôi.

Không thể không nhắc đến cháu Đặng Hoàng Thu Hà đã thức trắng đêm đánh máy xong tiểu thuyết Đảo Chìm để đưa lên mạng Trúc Sơn Trang của nhà văn Xuân Đức. Cháu Hà còn sưu tầm được 25 cuốn Đảo Chìm của 25 lần xuất bản khác nhau và nhận xét cuốn xuất bản vào cuối năm 2008 in đẹp, nhưng cũng thật buồn cười: Bìa sách của họa sĩ Văn Sáng vẽ rất đẹp nhưng lại không đọc sách của bác Khoa. Bác Khoa viết về một hòn đảo chìm, bác Sáng lại vẽ hòn đảo có núi non, núi cao chót vót, có cả chim bay lượn. Đó là đảo của bác Sáng, không phải đảo của bác Khoa! Vẫn theo lời Đặng Hoàng Thu Hà: “Cháu cũng rất ngạc nhiên khi không thấy có một giải thưởng nào của Hội Nhà văn, kể cả giải thưởng chuyên ngành của Bộ quốc phòng hay Tổng cục chính trị, mặc dù đây là cuốn sách viết về lực lượng vũ trang ngày đêm canh giữ bầu trời của Tổ quốc! Cháu cũng không thấy một nhà phê bình Văn học nào nhắc đến nó lấy một dòng”.

Tôi đồng tình với nhận xét của Đặng Hoàng Thu Hà. Mới đây, trên tuần báo Văn Nghệ số 35-36 ra ngày 30/8/2025 qua bài viết của Đỗ Hải Ninh: Những vấn đề văn xuôi tự sự trong văn học Việt Nam 80 năm sau Cách mạng tháng Tám (1945-2025) là bài viết dài cả hai trang báo đề cập đến thành tựu văn học Việt Nam 80 năm nhưng cũng tịnh không hề nhắc đến Chân dung và Đối thoại, đến Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa. Điều cần bổ sung thêm với cháu Đặng Hoàng Thu Hà là bác Trần Đăng Khoa cũng có ba lần đạt giải Nhất cuộc thi thơ Báo Thiếu niên Tiền phong trong các năm: 1967, 1970, 1972; Giải Nhất cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1982; Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt II năm 2001; Giải thưởng Sủn Thon Phu - Thái Lan năm 2013. Ngày 30/11/2025, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tôn vinh 50 tác phẩm văn học Nghệ thuật xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất, trong đó có tiểu thuyết Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa.

Tiểu thuyết Đảo Chìm được xem là “thần bút”, nối bản, tái bản đến lần thứ 50 và nó sẽ còn tiếp tục tái bản nhiều lần nữa. Đó là phần thưởng cao nhất với Trần Đăng Khoa.

Trần Đăng Khoa đã bước sang 69 năm tuổi đời, 60 năm cầm bút và nhiều năm làm công tác quản lý với chức danh Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nghỉ hưu ở chức quan văn nghệ nhưng sẽ là cơ hội, có thời gian tập trung sinh lực, không còn vướng bận khi bước vào trận mới trong sáng tạo văn học nghệ thuật mà bạn đọc đang chờ đón và hy vọng.

Sự nghiệp văn chương Trần Đăng Khoa như ngôi sao đã và đang tỏa sáng: Nhà thơ Trần Đăng Khoa - Thần đồng, nhà văn Trần Đăng Khoa - Thần bút.

Đọc Chân dung và Đối thoại và mới đây trong bài viết Đọc lại thơ Tố Hữu in trên Văn Nghệ số 42 ra ngày 18/10/2025 nhân kỷ niệm 105 năm sinh nhà thơ Tố Hữu thể hiện tầm nhìn Trần Đăng Khoa còn là một cây bút bình luận văn chương sắc sảo, công tâm, bản lĩnh và khách quan trong thẩm định giá trị văn học Việt Nam đương đại.

Hoàng Kim Đáng

Tin liên quan

Tin mới nhất