Người thơ đổ bóng trên sông Thiên Đức
Trong thi ca Việt Nam hiện đại, thơ Hoàng Cầm là thơ lạ, càng đi sâu khám phá càng cảm thấy mới mẻ, bất ngờ. Vào thế giới thơ ông, đắm mình trong sinh quyển thơ hoài niệm, giàu sắc màu văn hoá dân gian, ngỡ như đã bắt được trọn vẹn thần thái của từng câu chữ, độc giả vẫn bị bủa vây bởi không khí lung linh hư thực. Mới lạ cả về nội dung và hình thức, bằng thơ, Hoàng Cầm đã khẳng định một phong cách riêng khác.
Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt (1922 - 2010), quê gốc ở xã Song Hồ, thôn Lạc Thổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông là kết quả của cuộc hôn nhân giữa một nhà nho thầy thuốc và người con gái làng Bựu hát quan họ hay nổi tiếng khắp vùng Tiên Du, Thuận Thành, hai huyện tả ngạn và hữu ngạn sông Đuống, tên chữ là sông Thiên Đức. Có thể nói, bởi những ảnh hưởng từ mẹ, từ các làn điệu quan họ, từ cảnh sắc thiên nhiên, từ lịch sử đến lễ hội, tín ngưỡng đôi bờ sông Đuống…, vô cùng đậm nét, Hoàng Cầm là người thơ đổ bóng trên sông Thiên Đức.

Nhà thơ Hoàng Cầm bên bờ sông Đuống (ảnh chụp năm 2000). Ảnh Nguyễn Đình Toán
1. Hoàng Cầm, trước hết là nhà thơ của những hoài vọng về cội nguồn văn hóa Kinh Bắc. Sớm xa quê nên nỗi nhớ quê trong thơ Hoàng Cầm thường đau đáu. Rõ nhất là trong những năm tháng chiến tranh, một thời gian dài, không thể về thăm quê, hình tượng quê hương cứ trở đi trở lại trong Hoàng Cầm như một ám ảnh. Dấu ấn quê hương trong tâm tưởng, trong thơ càng sâu đậm. Điều này đã lý giải tại sao khi viết Bên kia sông Đuống Hoàng Cầm chú ý đến bức tranh Kinh Bắc thanh bình, trù phú hơn là Kinh Bắc của thực tại “kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang”.
Trong suốt hành trình thơ, thi nhân cũng luôn tâm niệm: Về Kinh Bắc (tên một tập thơ của Hoàng Cầm). Không ít lần tác giả “khấn nguyện” để trở về quê nhà qua những bài thơ chợt bật ra từ những hoài niệm: “Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa giẻ quạt voi lồng” (Đêm Thổ); kiếm tìm tuổi thơ qua những mơ tưởng hồn nhiên: “Về Kinh Bắc tìm chơi đàn kiến lửa/ Ngón tay di sợi chỉ nâu” (Đêm Hỏa).
Gom hết cảnh sắc Kinh Bắc vào thơ, tuy nhiên, thi nhân thường nhìn sự vật khá độc đáo. Trước sông Đuống “một dòng lấp lánh”, với “cát trắng phẳng lỳ, bãi mía bờ dâu ngô khoai biêng biếc”, Hoàng Cầm đã xoay ống kính và từ góc nhìn rất hẹp này đặc tả dáng điệu nghiêng nghiêng trữ tình của dòng sông. Ngỡ như ông cố tình đùa giỡn với các con chữ để tạo nên những bức tranh nghịch sắc sinh động về quê hương Kinh Bắc: “Đá nghễnh trông con/ gục đầu sườn núi Dạm” (Sương Cầu Lim); hay “Trống vẫn thúc/ sạt sườn Tam Đảo đổ nghiêng/ Loa vẫn giải/ núi đồi trùng trùng đi bốn hướng” (Hội vật).
Ngay cả khi đến chốn trang nghiêm, giọng điệu Hoàng Cầm vẫn thoát ly mọi khuôn phép: “Chùa Phật Tích ruỗi trong màn lụa bạch/ Tượng Quan Âm má ửng bồ quân” (Đêm Thủy).
Các lễ hội dân gian như Hội chen Nga Hoàng, Hội Vân Hà, Hội đền Tám vua triều Lý hay Hội Gióng cũng nhập vào hồn thơ Hoàng Cầm và thể hiện dưới dạng liên văn bản - cổ tích: “Chú bé lên ba là tướng võ nhà trời/ Ai ngờ đã bốn nghìn năm manh mối/ Xuân đến lụa the/ Cầm gậy tre đi xe duyên cô Tấm ông Hoàng/ Vớt Trương Chi về gấm đỏ lầu Tây” (Hội Gióng). Những hình ảnh kết nối từ mạch ngầm truyền thống văn hóa Kinh Bắc khiến thơ Hoàng Cầm, xét ở nhiều góc độ, chính là tiếng lòng sâu nặng với quê hương, đất nước và truyền thống văn hoá dân tộc.
2. Hoàng Cầm là nhà thơ thiên tính nữ và mang cảm thức “theo dòng mẫu hệ”. Hình tượng người phụ nữ chiếm mật độ dày đặc trong thế giới thơ, là cội nguồn của cõi thơ Hoàng Cầm. Đó là “Những nàng môi cắn chỉ quết trầu”, “Những cô hàng xén răng đen, cười như mùa thu tỏa nắng”; là “Gái Tam Sơn đờ đẫn môi trầu/ Ngực yếm phập phồng bưởi ngọt”.
Tuy vậy, trong số các thiếu nữ Kinh Bắc, Chị là hình mẫu ám ảnh sâu sắc nhất đến hồn thơ Hoàng Cầm. Chị là người thiếu nữ Kinh Bắc duyên dáng trong chiếc váy Đình Bảng cùng chiếc lá Diêu Bông thách đố (Lá Diêu Bông). Chị là những bến bờ Em không thể đến, là trung tâm của những mối “tình ngây”: “Em mười hai tuổi tìm theo Chị/ Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa/ Đi... Ngày tháng lụi tìm không thấy/ … Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau/ Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng” (Quả vườn ổi).
Thế giới của Chị và Em trong thơ Hoàng Cầm là thế giới ảo trỗi dậy từ tiềm thức, để giữa mộng và thực, con người vẫn được mơ tưởng về chiếc lá Diêu Bông tượng trưng, hư ảo - biểu tượng của những khát vọng tuyệt đích về hạnh phúc, tình yêu.
Khi đẩy chiếc xe thơ “Về Kinh Bắc”, Hoàng Cầm cũng đã làm một cuộc "tuần du", đi từ người mẹ ngược về những huyền thoại huyền sử. Người mẹ với Hoàng Cầm là sự tụ hội của quê hương Kinh Bắc giàu văn hóa và cũng là cội nguồn của cảm thức thiên tính nữ. Hoàng Cầm tự hào về mẹ: “Cô gái làng Xim mười bảy tuổi/ Hát hay nổi tiếng khắp vùng”; xem mẹ là hiện thân của sự dịu dàng: “Gọi mẹ bao giờ mẹ cũng thưa - Giọng bưởi đường - Không thấy tiếng”.
Với Hoàng Cầm, về Kinh Bắc, về với mẹ cũng là về với chính tâm hồn tác giả, như “con chào mào khát nước, về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm”. Đó cũng là lý do mà Hoàng Cầm có nhiều bài thơ lấy cảm hứng từ tín ngưỡng thờ Mẫu để khẳng định Mẹ là quyền năng, cội nguồn của sự sống. Có thể nói, cảm hứng thiên tính nữ đã chi phối suy nghĩ, cảm xúc của Hoàng Cầm từ thuở ấu thơ, để suốt đời tác giả vẫn “cứ mê man lạc đường” trong hành trình “theo dòng mẫu hệ” và đắm đuối với những Mẹ, những Chị, những người phụ nữ Kinh Bắc.
3. “Sử dụng chất liệu cũ để kiến trúc một phong cách thơ mới” (Đặng Tiến), Hoàng Cầm đã thành công trong việc kiến tạo một lối viết riêng. Với một chút hoài cổ, một chút tạo dáng cho lời thơ cộng thêm một chút tài hoa khi láy lại những điệu ca quan họ, Hoàng Cầm đã đem đến cho thơ nhạc tính riêng, quyến rũ. Thơ Hoàng Cầm tha thiết như lời nhắn nhủ trong câu giã bạn của dân ca quan với những ngọt ngào luyến láy và những bổng trầm xao xuyến: “Chiêu Hoàng giận núi hờn khe/ Trầu têm cánh phượng lỡ thề tử sinh/ Lý cây đa... Lý huê tình/ Nguyệt cầm long phím dỗ dành ai ca?/ Người ơi! Người ở... hay là...’ (Thể phách tinh anh).
Thơ Hoàng Cầm cũng mang tính hiện đại của trường thơ siêu thực (thơ của tiềm thức, của giấc mơ, của cách viết tự động tâm linh...). Có điều, thế giới hư ảo trong thơ Hoàng Cầm không phải là “thế giới kỳ dị” bởi những “lời thơ dính máu” của Hàn Mặc Tử, cũng không phải là thế giới vô thức từ bản năng sinh thực của Bích Khê. Trong thơ Hoàng Cầm, phần vô thức được biểu hiện mang đậm những yếu tố văn hóa Kinh Bắc. Nội dung dường như là dây neo giữ cho thơ Hoàng Cầm không sa hẳn vào thế giới thơ siêu thực.
Có thể xem Bên kia sông Đuống là một trong những bài thơ được hình thành từ lối viết tự động tâm linh. Rất nhiều hình ảnh, màu sắc chen lấn, từ những hình ảnh gần gũi của quê hương Kinh Bắc cho đến những hình ảnh mơ hồ, xa xưa thời Luy Lâu, Lý, Trần đã ập về khi Hoàng Cầm nhớ nhung, căm phẫn, hướng về quê hương đang bị giặc tàn phá.
Nhà thơ chợt nghe một giọng “như hát, như than thở, như ru em, một giọng phụ nữ trong trẻo” đọc ba câu đầu của bài Bên kia sông Đuống: “Em ơi! Buồn làm chi / Anh đưa em về sông Đuống/ Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ”. Và rồi, như mạch nước được khơi dòng, bao tâm sự ngổn ngang của tác giả bật ra thành những câu thơ dài ngắn không đều, lúc da diết đau thương, khi khô khốc oán hờn. Đây chính là những lời thơ được vọng lên từ vô thức. Hình ảnh quê hương mờ khuất chợt bừng dậy trong nỗi nhớ thương đến cháy lòng, tràn thành câu chữ một cách tự động, không theo bất kỳ quy tắc nào.
Hoàng Cầm sáng tác ở nhiều thể loại: thơ, kịch thơ và cả văn xuôi. Nhưng trước hết Hoàng Cầm là một nhà thơ. Hoàng Cầm quen thuộc với độc giả cũng bởi thơ. Với Hoàng Cầm, thơ bắt nguồn “từ những khát vọng người, từ vùng u huyền bí ẩn nhất, bật ra như một điệu đàn, như một hình bóng bất chợt, như tiếng nói các thần linh”. Bởi thơ nối yêu thương vào khát vọng, thơ là tinh tuý cõi thật người mà thơ Hoàng Cầm dễ cảm nhận dù không phải bao giờ cũng có thể cắt nghĩa.
Bình luận