Chấn thương và trị liệu, chữa lành qua một số tác phẩm văn học đề tài Phật giáo
Văn học và y học tuy khác nhau về bản chất song lại gặp nhau ở đích đến là nhằm trị liệu/ chữa lành cho con người, về thể xác và tinh thần, thông qua những cách thức riêng. Nhiều tác phẩm văn học mô tả các dạng bệnh tật mà con người có thể gặp phải. Nhiều hình thức chữa trị bệnh lý của y học sử dụng văn chương như một liệu pháp, một phương thuốc đặc biệt, giúp bệnh nhân hồi phục sức khỏe tâm - thân. Một điểm thú vị là cả văn học và y học đều cùng gặp gỡ Phật giáo, dù theo những cách thức riêng, liên quan đến đặc điểm của một bên là loại hình nghệ thuật, một bên là lĩnh vực khoa học, nhằm đạt được hiệu quả chung trong việc hỗ trợ, xoa dịu những chấn thương của con người. Không ít tác phẩm mang tư tưởng Phật giáo đã góp phần khiến con người tỉnh thức, đạt được sự an lạc, giác ngộ.
Mối quan hệ giữa thể xác và tinh thần, chấn thương và trị liệu/chữa lành nhìn từ sự khác biệt và gặp gỡ giữa văn học và y học
Con người, trong sự kết hợp hai mặt thể xác và tinh thần, là đối tượng trung tâm của nhiều ngành khoa học, nghệ thuật trong đó có y học và văn học. Tuy vậy, nếu y học quan tâm hơn đến thể xác, thì văn học chú ý nhiều hơn đến tinh thần. Y học thường cố gắng chữa trị cơ thể, trong khi văn học hướng đến xoa dịu tâm hồn.
Y học và văn học cũng có thể hỗ trợ nhau để chữa trị bệnh tật cho con người; cũng như thấu hiểu hơn những thống khổ của con người từ những chấn thương thể xác. Y học và văn học vì thế tuy khác biệt về bản chất, song lại cùng chung một đích đến là nhằm sửa chữa những bất ổn của con người.

Tranh minh họa. Nguồn: Anna Godeassi/USCDornsife
Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học, y học đã có thể chữa lành rất nhiều bệnh. Tuy nhiên với bệnh nan y, y học không phải lúc nào cũng chữa trị thành công. Đặc biệt, y học khó có thể chữa trị những nỗi đau tinh thần, mà nhiều trong số đó là bắt nguồn từ nỗi đau thể xác. Cũng như thế văn học tuy có khả năng trong việc xoa dịu tâm hồn song hiệu quả chữa lành của văn học không phải lúc nào cũng có thể đo đếm, và cũng không hẳn hoàn toàn hiệu quả đối với mọi người bệnh, nhất là những người không có thói quen đọc sách hay không có nhiều cơ hội tiếp xúc với văn chương.
Dù đánh giá rất cao những tác động tích cực của văn học và y học đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của con người, vẫn không thể không nhìn thấy những giới hạn của hai loại hình này trong việc chữa lành đồng thời cả tinh thần lẫn thể xác cho con người.
Trong văn học, nỗi đau bệnh tật kéo theo nỗi đau tinh thần thường được thể hiện nhiều ở khuynh hướng văn học chấn thương. Có thể thấy rõ điều này ở văn học đề tài chiến tranh (những thương tật chiến tranh là nguyên nhân của những đau đớn tinh thần; và thường thì những vết thương thể xác có thể lành, nhưng những vết sẹo tâm hồn có khi vẫn đeo đuổi con người đến tận lúc chết, hoặc di chứng cho nhiều thế hệ - những chứng bệnh hậu chiến đối với cựu binh, những nỗi đau da cam cho trẻ, những mất mát kép của người phụ nữ khi những người đàn ông của họ mang vết thương chiến tranh).
Nỗi đau thể xác và tinh thần cũng được khai thác nhiều ở những khuynh hướng văn học nữ quyền, ở các tác phẩm chú ý đến vấn đề giới (gender). Đó là những đau đớn gắn liền với sự trừng phạt của chúa trời dành cho Eva trong câu chuyện Vườn địa đàng và tội tổ tông. Đó là nỗi đau của những người đồng tính - những thân phận dị biệt luôn bị định giá bởi những cái nhìn đầy ngờ vực và định kiến.
Gần đây, bệnh tật và nỗi đau còn được khai thác nhiều ở khuynh hướng văn học di dân. Bệnh tật, cái chết gây ám ảnh trong các tác phẩm về đề tài thuyền nhân (Thuyền – Nguyễn Đức Tùng). Những chấn thương, bệnh lí tâm thần cũng được đề cập không ít trong những câu chuyện về đời sống lưu vong/nhập cư của nhiều tác phẩm văn học hải ngoại (chấn thương chiến tranh khi phải chạy trốn bom đạn, cú sốc tâm lý khi chứng kiến bố giết mẹ khiến cả An Mi lẫn Michel Kempf đều bị chứng quên – như một phản ứng tự vệ của cơ thể để xóa bỏ, vượt qua những đau khổ - Và khi tro bụi – Đoàn Minh Phượng).
Bệnh tật/nỗi đau còn hiện diện ở nhiều tác phẩm văn học đề tài Phật giáo (tiểu thuyết và truyện ngắn của Hồ Anh Thái, Huỳnh Trọng Khang, Nhụy Nguyên…).
Phật giáo và khả năng trị liệu tâm hồn, chữa lành thân xác
Có đáng ngại không khi chúng ta cho rằng một xã hội phát triển là một xã hội có nhiều bệnh viện, dù là bệnh viện hiện đại, tối tân. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từng nói: “Nếu chúng ta đóng cửa một nhà chùa thì phải xây thêm một bệnh viện”. Như vậy có bệnh viện là cần thiết, là tốt; nhưng sẽ tốt hơn nếu có nhiều chùa thay vì nhiều bệnh viện. Bởi theo quan niệm của Phật giáo, tinh thần có thể vực dậy mọi nỗi đau.
Phật giáo nếu chữa trị thân xác, thì bao giờ cũng bắt đầu bằng những trị liệu tâm hồn. Và xét về Y học, Đức Phật cũng là Đại Y Vương, bởi Ngài biết gốc của bệnh và đưa ra phương pháp chữa tận gốc, chữa tâm. Tâm bất định thì thân bất định. Tâm sáng thân sẽ ít bệnh, hoặc nếu gặp bệnh vẫn có thể tự chữa bằng sự việc “không biết” bệnh đang hiện diện trong tân (cũng giống như Tây y lưu ý rằng bệnh nhân cần lạc quan trong quá trình điều trị bệnh).
Theo Phật lý, bệnh tật hay cái xấu ác chỉ là tập tánh huân tụ lâu dài chứ không phải bản tánh. Và “Tự tánh hằng thanh tịnh” (Lục tổ Huệ Năng), chỉ cần không vọng tưởng u ám, nặng nề, nghĩ nhiều về bệnh tật mà quên nó, sống vì niềm vui của người khác, chuyên niệm Phật, tiết thực, trở lại “không”, thì vọng tưởng dần tan, bệnh tật dần hết. Hiện tượng này có lẽ gần với hiện tượng “giả dược” trong Tây y (bệnh nhân được điều trị, tưởng rằng đang được uống thuốc đặc trị, kì thực là không uống gì, nhưng vì tin tưởng nên khỏi bệnh hoặc sức khỏe tiến triển tốt hơn).

Ảnh minh họa. Nguồn: Ngọa Vân Yên Tử
Phật giáo, dựa vào năng lượng tâm và các phương pháp điều thân để chữa trị các bệnh tật về thể xác, tinh thần. Thực dưỡng, giảm tính tham và những thèm muốn vật chất, ăn uống khoa học, hợp lý trở thành một trong những phương pháp thanh lọc cơ thể và trị bệnh hiệu quả. Quan niệm này cũng không trái gì với Tây y khi ông tổ ngành Y khoa, Hippocrate đã đưa ra tuyên ngôn: “Thực phẩm là thuốc men. Thuốc men là thực phẩm”.
Hay việc niệm Phật, trì chú, tụng kinh nhìn từ góc độ khoa học cũng là việc tạo ra một sóng âm có lợi cho việc dưỡng thân tâm. Nhiều người bệnh có thể nhờ học pháp và niệm Phật mà tự chuyển hóa, không chữa trị mà lành, ung dung tự tại nhờ vào tu tập – tức là sửa mọi hành vi cho đúng với sự vận hành của vũ trụ. Đây là hình thức chữa bệnh từ tâm, từ gốc chứ không phải từ ngọn của Phật giáo. Hiệu quả chữa trị thân tâm của Phật giáo là có thật. Tuy vậy, điều này không hẳn đúng với mọi trường hợp và cũng chưa có những thống kê, cùng các số liệu đầy đủ để xác minh.
Liệu pháp của tính “không” và tinh thần xả bỏ để chữa lành trong văn chương
Ông tổ ngành Tây y Hippocrate nói “không có cái bệnh để chữa, mà phải chữa con người bệnh”. Nếu y học quan tâm hơn đến bệnh hơn thì văn học quan tâm hơn đến con người bệnh. Khảo sát một số tác phẩm văn học đề tài Phật giáo, chúng tôi nhận thấy thật thú vị khi cả bệnh, lẫn người bệnh, và cả tinh thần Phật giáo đều cùng hiện diện. Bệnh tật và trị liệu thể xác, tinh thần trong văn học đề tài Phật giáo trở thành một hiện tượng thú vị khi kết nối y học và Phật học, thông qua tác phẩm văn học.
Hồ Anh Thái một nhà văn viết nhiều về đề tài Phật giáo. Trong số nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn của tác giả, đáng chú ý có truyện Kiếp người đi qua, dựa vào tích Angulimala (người đeo vòng ngón tay) từ thư sinh thành cướp rồi được Đức Phật cảm hoá.
Nhân vật trong truyện được giữ nguyên tên Ahimsaka nghĩa là không sát sinh, không bạo lực. Chàng tầm sư học đạo để trở thành một guru thật sự của Bà la môn giáo, song bị sư phụ đuổi do hiểu lầm, bị gia đình từ mặt, bị xã hội quay lưng, đành sống cô độc nơi rừng vắng và dần trở thành một tên cướp đáng sợ. Ahimsaka từng giết cả một người đàn ông trên đường về thăm vợ khi con trai họ vừa mới được sinh ra. Chàng trở thành tên cướp nổi danh với chiếc vòng cổ được xâu từ ngón tay út của các nạn nhân đã bị chàng sát hại. May sao, nhờ đọc được những lời chỉ dạy của Đấng giác ngộ, nhờ tìm đến Đức Phật để nghe thuyết giảng mà chàng đã được phục sinh về tâm hồn.
Từ đó chàng đi hành khất, chữa bệnh cứu người cho đến khi bị phát hiện và bị đánh đập tàn nhẫn bởi người đàn bà mất chồng năm xưa khi vừa sinh con. Nhưng cũng kể từ đó, Ahimsaka hiểu rằng lòng chàng đã được yên tĩnh.
Bằng ngôn ngữ văn chương và bằng một vài chi tiết hư cấu để vừa tăng tính hấp dẫn, vừa nhấn mạnh cái đích đến của một cuộc đời không sát sinh, không bạo lực đôi khi là cả một quãng đường dài mê ngộ, Hồ Anh Thái đã khẳng định sức mạnh của lòng từ bi, khả năng thức tỉnh của Phật giáo trong việc cứu rỗi con người.
Huỳnh Trọng Khang là một trong số ít những nhà văn trẻ am hiểu và viết nhiều tác phẩm về Phật giáo. Tác phẩm tiêu biểu nhất của Huỳnh Trọng Khang ở đề tài này là tiểu thuyết Bể trăng côi. Bể trăng côi có kết cấu song tuyến, kể về hành trình của hai nhà sư (một là nhà sư Huyền Trang của quá khứ; một là chú tiểu ở thời hiện đại) trong hành trình tìm đạo và vướng vào các trận dịch bệnh lớn.
Thông qua điểm nhìn của hai nhà sư, nhà văn trẻ Huỳnh Trọng Khang đã suy tư về sự mong manh, hữu hạn của kiếp người, sự trỗi dậy của cái ác, cái vô minh trong dịch bệnh hay sức mạnh tinh thần của con người trước những thử thách về lòng từ bi và sự kham nhẫn. Trong tác phẩm, niềm tin tôn giáo và những thực hành tụng niệm đã giúp chú tiểu sống sót qua dịch bệnh, chăm sóc, đưa tiễn những người xa lạ đã chết và là điểm tựa cho những người còn sống gượng dậy được sau những nghịch cảnh bi thương. Những thử thách trên đường thỉnh kinh với kiếp nạn dịch bệnh cũng giúp sư Huyền Trang thấu hiểu câu chuyện của sự hủy diệt và tái sinh từ góc nhìn Phật pháp.
Với 2 tập truyện ngắn chủ yếu về Phật giáo là Trôi trên dòng thời gian trắng xóa và Bóng thuyền ảnh hiện, cùng với tiểu luận bàn về khả năng chữa bệnh của Phật giáo là Vũ điệu ý niệm trong cơn đau bản thể, Nhụy Nguyên có lẽ là một trong số rất ít nhà văn quan tâm sâu đến mối quan hệ giữa y học và Phật giáo, cũng như đã dùng chính tác phẩm của mình để làm rõ khả năng trị liệu của Phật giáo nhờ vào tính “không” và tinh thần xả bỏ.
Chỉ cần khảo sát tên các truyện ngắn của Nhụy Nguyên là đã phần nào thấy được điều này (Phật ở ngoài khơi xa, Trôi qua miền sáng, Bóng thuyền ảnh hiện, Buông, Bảy bước thiền, Máu đang lọc bởi sự lặng yên, Vung tay chạm đến vô cùng, Trôi trên dòng thời gian trắng xóa, Apsara và dòng kinh sám hối…).
Truyện của Nhụy Nguyên hay kể về những nỗi đau của con người, nhờ đến chùa, gặp sư, nhờ hiểu Phật pháp hay trì niệm mà bớt đau đớn về thể xác, nguôi ngoai về tâm hồn. Chẳng hạn, truyện Trôi trên dòng thời gian trắng xóa kể về chuyện nhân vật tôi vào bệnh viện chăm bố và tình cờ gặp lại người yêu năm xưa đang chăm chồng mắc bệnh ung thư. Oái oăm là chính cô cũng mắc căn bệnh hiểm nghèo đó mà người chồng không hề hay biết. Tôi muốn giúp người vợ trị bệnh, nhưng cô từ chối.
Cô lựa chọn niệm Phật cùng đạo tràng, “chữa bệnh bằng âm thanh, thứ âm thanh siêu thiện, là một dạng sóng tác động sâu vào thân tâm” và có niềm tin cứu rỗi từ ánh hào quang vô lượng. Tôi đã chứng kiến đôi môi hồng xinh, thần sắc cô rạng ngời sau câu Phật hiệu ngừng và như được hưởng lây hồng ân mầu nhiệm, khi cô tươi tắn vì phát hiện ra A Di Đà Phật là câu hát chỉ bốn từ mà nghe đi nghe lại mãi hoài không chán. Chồng của cô về sau không đủ sức chữa trị tiếp và phải xin về. Tôi không biết chuyện gì xảy ra tiếp theo cho cả cô và người chồng đang cùng bệnh ung thư. Tác giả cũng không đưa ra cái kết rõ ràng. Song niềm hi vọng khởi lên từ niềm tin Phật giáo ít nhất cũng đã giúp không chỉ cô mà cả tôi trong những cơn đau thể xác và tinh thần, để có thể bình thản xem sống chết chỉ tựa như việc cởi áo mặc quần.
Truyện của Nhụy Nguyên rất hay lấy bối cảnh là bệnh viện, với những phận đời được trình hiện trong không gian của khoa ung bướu, khoa cấp cứu. Phải chăng, bởi đây là nơi nỗi khổ tận cùng của nhiều kiếp sống được phơi bày; là nơi thấy được khả năng và giới hạn của y học, và cũng là nơi mà sự hiện diện của Phật pháp đôi khi lại là một phép màu, một liệu pháp chữa trị không chỉ ở tinh thần mà còn ở thể xác, khi con người có thể buông xả tham sân, vọng tưởng, hướng về chánh niệm và quán từ bi. Có thể thấy rõ điều này qua truyện ngắn Máu đang lọc bởi sự bình yên.
Máu đang lọc bởi sự bình yên là truyện không có cốt truyện và được cấu trúc từ mảnh ghép đối thoại. Song nhờ tính triết lý của những đoạn thoại mang màu sắc Phật giáo, nhờ những câu chuyện gắn với sống chết của nhiều thân phận cùng hiện diện nơi tử sinh chỉ cách nhau gang tấc, nhà văn Nhụy Nguyên đã bày ra một hiện thực vô thường của đời người, nơi đôi khi tôn giáo chứ không phải y học mới tạo ra những phép màu trong chữa trị thân tâm.
Phật giáo là một đề tài lớn của văn học, cũng là một cách nhìn mang chiều sâu triết lý về mối quan hệ giữa thể xác và tâm hồn con người. Y học cũng là một khía cạnh được đưa vào văn học nhằm nhận diện rõ hơn những nỗi thống khổ làm người từ phương diện thân tâm. Một số tác phẩm phân tích ở trên tất yếu chưa đủ để hiểu hết về y học lẫn Phật học.
Song sự hiện diện của cả y học và Phật học trong văn học là một dấu hiệu để khẳng định việc cần thiết phải tiếp cận văn chương từ góc nhìn liên ngành. Để y học quan tâm hơn đến các khía cạnh của văn học. Để văn học tiếp cận con người tốt hơn từ khía cạnh tâm linh. Và để phật giáo không chỉ là niềm tin tôn giáo mà còn là một con đường đưa văn học và y học ngày càng rộng mở hơn trong những cách thức trị liệu và chữa lành những chấn thương thể xác và tâm hồn cho con người.
Bình luận