Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh xem tướng con dâu (Trích tiểu thuyết “Phù sa máu” của Nguyễn Trọng Tân)
LTS: Tiểu thuyết “Phù sa máu” của nhà văn Nguyễn Trọng Tân được trao Giải Nhì (không có Giải Nhất) Cuộc thi Sáng tác Tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật năm 2023- 2025. “Phù sa máu” viết về một làng quê Bắc bộ cổ có từ thời Hùng Vương dựng nước. Tác giả đã dụng công trong ngôn ngữ, phương ngữ, dựng lại những trò vui, lễ hội, quan niệm sống trong bức tranh văn hóa làng với rất nhiều phong tục và hủ tục. Ngôi làng ấy đại diện cho hàng ngàn ngôi làng của đất nước làm nên sức mạnh của dân tộc hôm nay. Thời báo Văn học nghệ thuật trân trọng giới thiệu tới độc giả chương “Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh xem tướng con dâu” trong tiểu thuyết “Phù sa máu”.

Tiểu thuyết “Phù sa máu” của nhà văn Nguyễn Trọng Tân.
Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh đứng sau cụ lang Hanh về mức độ giầu có ở làng Phù (Kẻ Gió) nhưng lại nổi đình đám hơn bởi có chân trong “Hội đồng kỳ mục” tổng Thao Hùng. Của cải nhà cự phú Phạm Hữu Bảnh không phải do trồng lúa. Ông ta chỉ tậu 3 mẫu ruộng thuê người làm lấy thóc ăn. Nhưng đất bãi bồi ngoài sông thì mênh mông. Mỗi mùa lũ, nước sông Hồng tẩy hết lượt đất nghèo, trải lên lớp phù sa mới. Đó mới là nơi “hái ra tiền” của Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh. Gia đình ông Chánh trồng dâu, nuôi tằm, trồng mía, nấu mật... Vào lúc chính vụ, người làm thuê cho nhà ông Bảnh lên tới hàng trăm. Song chăn tằm, kéo kén và quay mật mía không phải ai cũng làm được. Vì thế phải là những người có tay nghề. Dân Kẻ Gió chỉ làm những việc giản đơn như hái dâu, nuôi tằm. Thợ khéo léo có kinh nghiệm đều thuê từ nơi khác đến.
Cái chức Chánh hương hội là chức mua để có danh có giá với làng. Khát khao chính đáng của các bậc nam nhi: “Miếng ăn đình làng bằng sàng giữa chợ”. Quan niệm đó thấm vào suy nghĩ của nhiều người. Nghèo thì phải chịu. Có tiền ai cũng cố mua một “chân”, một “vai vế” nào đó. Chức chánh hương hội của Phạm Hữu Bảnh chả có quyền lực gì trong bộ máy phong kiến cai trị địa phương. Nhưng tiếng nói của ông ta thì chánh, phó lý ở Kẻ Gió cũng không dám coi thường. Mỗi khi hàng tổng có việc, chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh ngồi mâm nhì chỉ sau chánh, phó tổng Thao Hùng. Còn việc làng, Phạm Hữu Bảnh ngồi mâm nhất. Gốc gác người Kẻ Gió vốn không phải ở đất này, trong tư tưởng dân Thao Hùng, Kẻ Gió vẫn là thân phận nhập cư. Những tước vị có thực quyền hàng tổng, người Kẻ Gió không đời nào tranh được. Vì vậy “oai” nhất Kẻ Gió có lẽ vẫn là cái chức chánh hương hội của ông Phạm Hữu Bảnh, dù nó mua bằng tiền.
Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh có đến ba người vợ. Ông tậu một gian hàng tạp hóa lớn trên chợ Phủ cho vợ lớn quản lý. Bà hai quản cái món trồng dâu chăn tằm. Bà ba trông nom việc trồng mía, quay mật… Ở đời cái sự giầu cũng còn phải do số phận, do may mắn. Mà cái số của bốn vợ chồng chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh là cái số giầu và may mắn không ngừng. Của nả thi nhau chảy vào nhà ông như nước chảy chỗ trũng. Nhưng trên đời này đúng là ông trời chẳng cho ai đạt được tất cả mọi thứ. Giầu đến mức nhìn thấy tiền mà phát chán, song đường con cái của vợ chồng chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh lại rất lận đận. Ba bà vợ ông sinh mười lần thì chín “công chúa”, tòi ra được mỗi thằng cu Tiền.
Phạm Hữu Tiền, con người vợ thứ hai. Tiền mười lăm tuổi, chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh đút lót cho hộ lại, chữa sổ khai sinh, đẻ lùi vài năm cho đủ tuổi và mua cho Phạm Hữu Tiền cái chức chưởng bạ. Ngoài hai mươi tuổi, chưởng bạ Phạm Hữu Tiền chưa làm được việc gì của một chức sắc trẻ, nhưng học bố cái thói đa thê rất nhanh. Tiền cưới hai cô vợ trong hai năm. Không hiểu Phạm Hữu Tiền có nghĩ đến trách nhiệm nòi giống, nhưng chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh thì lo ngày lo đêm. Hai đứa con dâu của chánh hội Bảnh cũng thuộc loại chịu khó đẻ. Sáu năm, sáu lần vượt cạn nhưng tòi ra đủ một mâm “lục đại mỹ nhân”. Một hai đứa cháu đầu ông Bảnh còn bình tĩnh, đến đứa thứ năm, thứ sáu vẫn thị mẹt thì hỏng rồi! Mỗi lần con dâu vượt cạn, người sốt ruột nhất là chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh chứ không phải chưởng bạ Tiền. Mỗi khi nghĩ đến, Phạm Hữu Bảnh lại lắc đầu quầy quậy: “Vậy là ngựa quen đường cũ rồi. Giống như con rắn, con chuột, con ếch… cứ theo vệt nhẵn mà bò vào ổ. Thằng Tiền có đẻ nữa với hai con vợ này chắc chắn cũng vẫn chỉ tòi ra giống đái ngồi thôi”.
Phạm Hữu Bảnh lo con trai dẫm phải cái lốt chân hiếm “đinh” của mình. Của nả tiền bạc, chức tước, danh vị để mà làm gì nếu thằng Tiền không sinh được con trai cho ông có cháu đích tôn nối dõi tông đường.
…
Một lần trong dịp hội xuân Kẻ Gió, chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh nhìn thấy Đản Thị Vện, con gái lớn của phu cày Đản Văn Vằn. Vằn nhà nghèo rớt mùng tơi. Nhiều mùa, ông ta cầy thuê cho nhà chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh. Đản Thị Vện cùng đám bạn gái đang xem trò “bịt mắt leo cầu đập niêu”. Trò này cần sự khéo léo và động tác thật chính xác. Tiếng cười rộn mặt đê mỗi khi một người chơi vung dùi giang thẳng tay đánh vào khoảng không cạnh cái niêu đất treo toòng teng trước mặt. Cú đánh trượt làm người chơi mất đà, ngã nhào xuống hố cát. Vui thật, tiếng hò reo, mách nước ầm ĩ, nhưng nó không làm chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh xao nhãng. Ông ta đến hội là để tìm kiếm “con dâu mới”. Đứa nào có tướng dạng có thể sinh cháu đích tôn cho ông. Sự giầu có và vai vế như ông, đứa con gái nào ở Kẻ Gió chả mơ ước được làm con dâu. Song với chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh, đẹp hay xấu không quá quan trọng. Tiêu chuẩn đầu tiên là phải sinh được con trai.
Đản Thị Vện năm ấy dễ mới 13, 14 tuổi, nhưng vóc dáng đã rất bắt mắt đàn ông. Con nhà đói rách, áo quần vá víu không làm giảm nhan sắc rực rỡ của gái đang lớn. Chánh hương hội Bảnh không lưu tâm lắm tới nhan sắc của Vện, song nhận ra ở con bé này cái vóc dáng đàn bà mắn đẻ ẩn hiện trong cơ thể còn non tơ. Bả vai cong cong nhìn cái lưng tưởng như hơi gù. Hơi gù một chút thôi nhưng tạo ra miền cong hiếm gặp ở phụ nữ. Bộ ngực đang lớn cân đối, hứa hẹn sự mầu mỡ, phồn thực. Lưng ong, háng rộng và bộ mông nở nang tạo nên đường cong vô cùng quyến rũ. Vẻ đẹp trẻ trung kết hợp với vóc dáng ấy khiến Vện càng thêm hấp dẫn. Theo sách tướng mệnh, những chi tiết này trên cơ thể cho biết Đản Thị Vện sẽ trở thành người đàn bà rất dễ đẻ và đẻ nhiều con trai. Đúng là hiếm có đứa con gái nào kết hợp được nhiều vẻ đẹp tuyệt mỹ và phồn thực như Vện.
Cơn khát cháu đích tôn khiến chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh phải cất công tìm người có khả năng xem nhân tướng để nhờ chỉ bảo. Ông ta tìm mua cả sách về tướng mệnh để đọc. Cứ như lời dạy của thầy, của sách thì chỉ hai, ba năm nữa con bé Vện sẽ hội đủ nhan sắc vào lúc rực rỡ nhất. Nó sẽ không thua kém gì nàng “Tây Thi” chứ chẳng bỡn. Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh chưa nhìn thấy nhan sắc đại mỹ nhân Tây Thi bên Tầu mà Việt Vương Câu Tiễn dâng cho Ngô Vương Phù Sai như thế nào. Nhưng lý trưởng Khạ, bạn ông ở Kẻ Vĩnh mỗi khi luận về nhan sắc phụ nữ thường đem nàng Tây Thi ra để so sánh. Thành thử chánh hương hội Bảnh cũng nghĩ chắc nàng ấy phải đẹp lắm. Còn ở cả cái tổng Thao Hùng này từ xưa tới nay, chưa đứa con gái nào có vẻ đẹp khiến ông phải ngẩn ngơ nhìn ngắm như con Vện. Vẻ đẹp của Đản Thị Vện càng được nhân lên trong con mắt thèm khát phụ nữ mắn đẻ và dễ sinh quý tử của chánh Bảnh. Ông ta lẩm bẩm: “Con bé này sẽ trở thành một Tây Thi chân đất không xa”. Kể ra, nếu thằng Tiền chưa có vợ thì ông xin con Vện từ bây giờ. 13 tuổi là xuất giá được rồi. Các cụ ngày xưa chả từng ngắm đứa nào ngoan nết, ưng bụng, cưới sớm về cho con trai mình đấy sao. Lấy trước kẻo có kẻ cuỗm tay trên mất. Chưa làm vợ ngay nhưng đã là dâu con trong nhà. Cho nó tập làm quen với “thói nhà chồng”. Còn non, còn mới “ngơ ngác như gái mới về nhà chồng” còn biết sợ, càng dễ dạy bảo. Đến tuổi, chúng khắc biết làm chuyện vợ chồng với nhau. Dân Kẻ Gió chả suốt ngày tếu táo: “Lấy em từ thuở mười ba/ Anh chê em bé không nằm với em/ Đến khi trăng mãn, thật trăng/ Em nằm dưới đất anh quăng lên giường/ Một thương… rồi… bốn, năm… thương/ Có bốn chân giường gẫy một còn ba”. Nghĩ thế, chánh Bảnh tự nhiên thấy lòng hứng khởi, vui vui.
Săm soi kỹ càng từng chi tiết trên cơ thể con Vện, nhưng chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh không ngắm nó cho mình. Ông Chánh quyết lấy thêm vợ cho thằng Tiền. Nhất định phải bằng mọi cách để thằng Tiền sinh cháu đích tôn cho ông. Gặp Vện, ông Chánh đặt ra bao nhiêu dự định. Nhưng rồi chợt Phạm Hữu Bảnh lại rất băn khoăn.
Đản Thị Vện là con nhà hạ tiện. Bố nó làm phu cầy cho nhà ông. Vậy là không “môn đăng hộ đối”. Vậy là phải hạ mình xuống làm thông gia với loại “khố rách áo ôm” ư? Điều này tuyệt đối không thể được. Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh vô cùng tiếc. Nhưng ông vẫn phải gạt phắt ý nghĩ làm thông gia, ngồi cùng mâm với cố nông Vằn. Làm thế thì còn gì thể diện. Đám chức sắc địa phương và cả cái tổng Thao Hùng này sẽ nhìn bố con ông là thứ gì. Còn dám ngẩng mặt lên với thiên hạ nữa không? Chuyện tình cờ nhìn thấy Vện trong hội làng năm ấy không bao giờ chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh nhắc tới nữa.
Thoắt cái đã mấy năm, gia sản của gia đình chánh hội Phạm Hữu Bảnh ngày càng lớn. Nhà xưởng mở rộng. Người làm thêm đông. Vợ chồng chánh Bảnh toại nguyện lắm. Thừa tiền thì mối quan hệ cũng phong phú, rộng rãi. Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh đánh bạn với khắp mặt chức sắc hàng tổng, hàng huyện. Có lần quan tỉnh cũng về thăm cái xưởng kéo kén lừng danh của ông. Nhiều người giục Phạm Hữu Bảnh chạy lấy cái chân chánh, phó tổng. Nhưng Phạm Hữu Bảnh không mặn mà lắm. Tuổi ông mỗi ngày một cao mà thằng Tiền thì cứ toàn són ra lũ vịt giời. Nỗi lo không có người nối dõi đè nặng tâm can. Chức tước, của nả để lại cho ai? Bao nhiêu công sức gây dựng nên cơ nghiệp này ai sẽ thay ông tiếp nối? Lúc này ông Chánh chỉ ham có cháu trai, lo mất giống, chứ không ham chức tước.
Nhiều đêm Phạm Hữu Bảnh không nhắm được mắt. Nằm vắt tay lên trán nghĩ ngợi. Đúng là không có gì bằng cháu đích tôn. Người Tầu chẳng có câu ngạn ngữ đóng chết vào suy nghĩ đấy sao: “Hảo gia bất như đa điền, đa điền bất như hiền thê, hiền thê bất như quý tử”. Nhà cửa, đất đai, vợ hiền… đều không thể so sánh với con trai, với cháu đích tôn. Nghĩ nhiều, nghĩ vẩn vơ, chợt chánh Bảnh nhớ đến con Vện. Nhớ cái bả lưng hơi cong cong. Nhớ cái bộ mông nở nang, nhớ cái háng rộng trên đôi chân dài thuôn đều của nó. Chẳng lẽ?... Ông Chánh vục dậy trong đêm pha trà ngồi nhâm nhi. Lòng nặng trĩu. Mùi trà gợi ông nhớ lý trưởng Khạ.
Lý trưởng Nguyễn Khạ người Kẻ Vĩnh, bạn đồng tuế với Bảnh. Hai người lúc rượu lúc trà vẫn thường gặp nhau. Khạ giầu có bậc nhất Kẻ Vĩnh, lại cầm chân lý trưởng thực quyền. Song cái chức tước, của nả nhà lý trưởng Khạ chánh hương hội Bảnh không quan tâm. Không so đo cao thấp. Điều khiến Phạm Hữu Bảnh ngưỡng mộ lý trưởng Khạ là ông ta đẻ tới bảy thằng con trai. Chỉ lấy hai vợ mà đúc được tới ngần ấy “đinh” thì phải thán phục. Phải vị nể. Mỗi lần hàng tổng, hàng thôn có đám, lý Khạ nói cười rổn rảng. Tiếng cười tự tin, kênh kiệu. Cười như chọc tức những người như ông. Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh nhớ, có lần lý Khạ bật mí về bí quyết chọn đàn bà dễ đẻ con trai: “Chỉ cần nhìn vóc dáng bên ngoài là biết được cái ổ nó ấp trứng bên trong”. Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh khi ấy không tin. Lão lý Khạ gặp may, đẻ được lắm con trai nên phét lác thế chứ bên trong bố ai biết được cái ổ đẻ nó tròn hay méo.
…
Nhiều đêm chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh khó ngủ, quẩn quanh chuyện cháu đích tôn. Nêu ra bao dự định rồi lại tự cãi lý với mình. Song càng nghĩ, càng cãi, càng thêm tắc, thêm rối. Từ ngày nhìn thấy con Vện ở hội làng đến nay cũng ba năm rồi. Đám vợ thằng Tiền coi như hết hy vọng. Mà tình hình xã hội thì nghe ra mỗi ngày mỗi thêm nhộn nhạo, phức tạp. Hình ảnh Đản Thị Vện trở lại nhiều hơn, và những đêm ông mất ngủ cũng nhiều hơn. Lời của lý trưởng Khạ, chánh Bảnh cũng hay nghĩ đến hơn. Thôi thì “có bệnh vái tứ phương”. Chánh hội Phạm Hữu Bảnh quyết định đi gặp lý trưởng Khạ.
Chánh Bảnh mời lý Khạ ra quán thịt chó chợ Hàng. Đã nhiều lần họ chén thù chén tạc với nhau ở đây. Quán cầy tơ “Lú Phệ” nổi danh khắp vùng. Tên cha sinh mẹ đẻ của chủ quán là Tào Văn Phệ, người Kẻ Gió. Phệ có tài chế biến món cầy tơ. Anh ta đặt tên quán là “Cầy tơ Phệ”. Từ khi khách ăn ngày một nhiều, Phệ mở rộng quán, đắp bếp phía sau làm nơi cất rượu. Cái món “quốc hồn quốc túy” RTC kết hợp với nhau càng thêm mặn nồng. Khách ra vào nườm nượp. Không hiểu có bí quyết gì mà quán lão Phệ làm bao đấng mày râu ngất ngư, tụ bạ suốt ngày, bỏ cả làm ăn. Từ sáng sớm tới đêm khuya, không lúc nào quán cầy tơ Lú Phệ vắng tiếng cười, tiếng nói. Cười chán, nói chán thì sừng sộ như sắp đánh nhau to đến nơi. Đủ thứ chuyện trên giời dưới đất. Rượu vào lời ra. Chẳng ai nghe ai. Bán giời không văn tự. Vui hết biết.
Một lần vào lúc đêm đã khuya, có ông tan tiệc, đi thẳng ra sông chứ không về nhà. Cả làng Phù nháo nhác. Ba hôm sau người ta mới tìm thấy ông ta nằm chổng bốn vó lên trời, lập lờ mặt nước ở mép bãi nổi giữa sông. Áo ngực mở phanh. Tay chỉ trời như vẫn đang chém gió. Chết mà gương mặt như cười, như còn đương say chuyện. Đúng là vui đến chết. Sau sự cố ấy, dân Kẻ Gió gọi tên quán là “Cầy tơ Lú Phệ”. Rượu quán “Lú Phệ” cũng được gọi là thứ “nước lú”, “nước nói”.
Mỗi lần đánh chén ở quán Lú Phệ, chánh hương hội Bảnh và lý trưởng Khạ đều gọi nhau bằng “cụ”. Vừa đặt đít lý Khạ bô lô ba la:
- Tôi nghe lão thư ký Hội đồng kỳ mục bảo bọn Phú Lang Sa đánh chiếm bên kia Tu Vũ rồi. Không khéo chả mấy nó vượt sông sang tổng mình.
Chánh hương hội Bảnh không gặp lý Khạ để bàn chuyện chính trị. Triều đình Huế với bọn Pháp lúc nào chả như chó với mèo. Rước nó vào thì trước sau gì nó cũng ngoạm tất. Chánh hương hội Bảnh ầm ừ cho qua chuyện. Rượu thịt bầy ra. Bảnh rót đầy hai chén mời lý trưởng Khạ:
- Nào đón cụ.
- Vâng cũng xin mời cụ lên đũa.
Tợp món “nước nói” cay cay, tê tê. Gắp miếng chả chó thơm lừng bỏ miệng trệu trạo nhai, lý Khạ cất lời:
- Tôi nói vậy không phải thích thú gì chuyện chính trị, nhưng cũng phải đắn đo. Bọn Pháp mà chiếm phủ ta thì nó thay đổi bộ máy chính quyền theo nó. Không biết cái chức chánh hương hội của cụ và lý trưởng của tôi nó xếp cho chân gì. Bọn tay thước thì làm trưởng đồn, xếp bốt còn cánh ta…Khà…khà…
Nhân lúc lý Khạ tợp rượu, chánh Bảnh vội chen ngang:
- Cái chuyện ấy chả biết thế nào mà bàn trước. Nhưng cứ có tiền, có thóc. Cứ phục vụ cho nó thì vẫn yên ổn thôi. Hôm nay thực lòng tôi muốn hỏi nhờ cụ việc khác, việc khó nói.
Lý Khạ nghe thế đặt chén rượu xuống, nhướng mắt ngạc nhiên:
- Cụ chánh lại còn gì khó mà phải hạ mình nhờ tôi?
- Chẳng giấu gì cụ, tiền bạc thóc gạo nhà tôi đủ dùng. Nhưng vẫn lo ngay ngáy chuyện thằng Tiền lấy vợ nhiều năm rồi, hai đứa con dâu tòi ra sáu cái thị mẹt. Chưa thấy lấp ló cái vòi voi đâu. Tôi sinh nó độc đinh, sau đời thằng Tiền không khéo dòng họ nhà tôi tuyệt chủng. Của cải, chức tước rồi để lại cho ai. Lần trước nghe cụ nói về vóc dáng đàn bà dễ sinh quý tử nên lại phải cầu cụ chỉ bảo, mách nước cho. Tôi muốn cưới thêm vợ cho thằng Tiền.
Lý trưởng Khạ cười phá lên. Bàn tay phốp pháp vỗ đánh đét vào đùi. Cầm be rót thêm vào hai chén, múa mép. Ông ta cố tình nói chệch lời người xưa để khích chánh hương hội Bảnh:
- Thật bất ngờ quá. Nhớ lần trước tôi nói cụ tỏ vẻ không tin. Các cụ xưa chả dạy: “Lấy chồng xem tông. Lấy vợ xem giống” là gì. Đàn bà là cái máy đẻ. Phải biết chọn chứ. Nói khí không phải, cụ bỏ qua. Chọn vợ cũng như mua con bò giống, con lợn nái. Phải xem lông, xem khoáy, phải tốc váy xem… bộ mông thế nào. Chả thế mua con trâu, con bò các cụ cũng rút ra câu: “Tai lá mít, đít lồng bàn” đấy thôi.
Đúng sở trường của lý Khạ, cứ để ông ta nói thì tối ngày chưa hết chuyện. Chánh Bảnh lại đảo đầu đũa gắp miếng dồi chó đặt vào bát Khạ:
- Tôi hiểu, tôi tin rồi nên hôm nay mới lên thỉnh cụ. Chẳng là tôi đã ngắm được một con bé, theo mô tả như của cụ thì rất dễ sinh con trai. Từ vài năm trước, giờ chắc nó đã 16, 17 rồi.
Lần nữa lý Khạ vỗ đánh đét vào đùi, khoái chí:
- Chín rồi. Tuổi ấy là thơm nức mũi rồi. Cụ kể chi tiết xem nào.
Chánh hương hội Bảnh ghé tai lý trưởng Khạ. Thư thoảng Khạ lại rinh rích cười, gật gật. Nghe xong liền bảo:
- Nếu đúng cái lưng, cái mông, cái eo, cái háng nó… như cụ chánh mô tả thì chắc chắn bên trong “tròn vo”.
Chánh hương hội Bảnh ngơ ngác:
- Bên trong tròn vo. Tôi chưa hiểu ý cụ?
- Bên trong tròn vo thì chỉ cần đi qua đầu giường cũng chửa.
Chánh hội Bảnh vẫn chưa hiểu ra làm sao. Mặt cụ Chánh đuỗn ra như đít vịt, lý Khạ cười sằng sặc:
- Thì đấy. Khổ lắm. Là cái tổ con chuồn chuồn. Con bé mà cụ chánh ngắm cho thằng Tiền được mã lắm. Đảm bảo cứ năm một cho coi.
Chánh hội Bảnh tỉnh ra, vội cắt ngang:
- Tôi không cần mỗi năm một đứa. Chỉ cần nó sinh được cho tôi thằng cháu đích tôn.
Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh lo chuyện nối dõi quá nên không hiểu hết ý lý Khạ. Người xưa từng dạy chỉ nhìn một cây là biết sự mầu mỡ của cánh rừng. Đối với đàn bà ý này tuyệt đúng. Nhìn mái tóc, làn da biết được sức khỏe. Nhìn bàn tay, ngón tay, động tác biết được sự tài khéo. Nhìn cách ngồi, dáng ngồi, lời thưa, lẽ gửi biết được phẩm hạnh và sự dạy dỗ. Nhìn bờ vai, eo lưng, vồng ngực, bộ mông… biết được khả năng sinh nở. Lý Khạ đập nhè nhẹ vào đùi chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh, phân tích như một triết gia:
- Thì đấy. Của này hiếm lắm. Tạo hóa khó tính và đỏng đảnh lắm. Cơ thể người đàn bà là sản phẩm vô cùng kỳ công, tinh tế và ảo diệu. Vì thế để đạt tới tuyệt tác là cực kỳ khó. Phần tuyệt lớn là hỏng. Hỏng mới thành số đông, mới thành nhân quần. Tôi đọc nhiều sách chữ Nho nên biết, trên thế gian này “sản phẩm” đạt tới độ hoàn hảo, tuyệt mỹ chỉ có một vài. Nước Tầu là xứ sở của các đại mỹ nhân. Xưa nay người ta vẫn nhắc tới vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của tứ đại mỹ nhân: Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi. Còn biết bao cái tên nữa như: Đát Kỷ, Bao Tự, Muội Hỉ, Ngu Cơ … nhưng trong số các đại mỹ nhân đó không phải ai cũng đạt tới tuyệt mỹ. Chỉ có Đát Kỷ và Tây Thi được xếp bậc nhất. Mấy ngàn năm, tạo hóa chỉ “nặn” ra được hai nàng ấy - Lý Khạ giơ ngón tay chọc chọc sang cười trêu chánh hội Bảnh - Nhưng cụ nhớ, cả hai nàng Đát Kỷ và Tây Thi đều làm tan nát quốc gia, quốc vương vong mạng.
Chánh Bảnh lại phải “chấn chỉnh” lý Khạ:
- Tôi chả sợ tan nát quốc gia. Mà cụ có vẻ đi xa quá. Cụ đang nói về cái “tròn vo” kia mà?
Lý Khạ lại “thì đấy”:
- Thì đấy. Nghĩa là “Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo cỗ lòng mới ngon”. Nếu các thứ cụ chánh thấy trên cơ thể con Vện đúng như kể thì có nghĩa cỗ máy sinh đẻ của nó vô cùng trơn tru, tròn trịa. Của cực hiếm. Không chừng Tây Thi đầu thai xuống Kẻ Gió chả chừng. Cháu đích tôn của cụ là ở đấy chứ đâu. Cụ chánh phải nhanh tay lên.
Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh đần mặt, cho dù vẫn như chưa rõ lắm cái mớ lý thuyết rối rắm về tướng dạng đàn bà mà lý Khạ vừa rao giảng. Nhưng chẳng lẽ bắt ông ta phải cầm tay rờ tận nơi mới hiểu chắc. Chánh Bảnh lắp bắp:
- Vâng vâng. Thế thì tôi phải quyết ngay.
Lý Khạ đập tay xuống chiếu:
- Đúng, quyết ngay.
Chợt nét mặt chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh bần thần. Rồi cụ Chánh thốt ra:
- Chỉ có điều…
Lý trưởng Khạ ngạc nhiên:
- Còn điều gì vướng mắc nữa cụ Chánh?
- Chả giấu gì cụ. Con Vện thân phận nghèo, hèn. Bố nó cày thuê cho nhà tôi, giờ thông gia với cố nông Vằn hóa ra…
Lý trưởng Khạ vê vê mấy sợi râu dê, gật gù. Chuyện này nghe ra nan giải thật. Chánh hương hội không thể ngồi cùng mâm với kẻ làm mướn. Tiếng Bảnh:
- Tôi ưng vóc dáng con bé ngay từ lần đầu nhìn thấy. Nhưng đúng là không thể hạ mình xin nó về làm dâu nhà mình được.
Câu chuyện tưởng chìm vào tắc tị. Rượu vẫn tợp, thịt chó vẫn nhai, nhưng cả hai im lặng. Lâu sau lý trưởng Khạ lại vỗ đùi đánh đét. Miệng nhọn, râu ria lởm khởm đẫm mắm tôm chĩa vào tai chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh. “Thế này… Thế này…Thế này…”. Nghe xong, mặt mày chánh Bảnh tươi rói. Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh đặt đũa, nhổm người chắp hai tay vái lý trưởng Khạ:
- Thần tình. Thần tình. Đúng là không thầy đố mày làm nên. Quả này xong mong lại được đón cụ Lý bữa rượu cầy tơ tưng bừng.
Lý trưởng Khạ cười rinh rích. Tay xua xua, bảo:
- Cụ Chánh cứ có tiếng nói ủng hộ đệ này tranh cái chức phó chánh tổng, theo hầu cắp tráp cho cụ là quý hóa lắm rồi. Chúc cụ Chánh mau đem được “Tây Thi Kẻ Gió” về nhà. Vương quốc cụ Chánh sẽ rất sum suê.
Chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh lại vái lý trưởng Khạ:
- Không dám. Không dám để cụ cắp tráp. Nhưng nhất định đem về. Nhất định đem về.
Hai vị chức sắc hàng tổng Thao Hùng chia tay trong tâm trạng mĩ mãn. Lý trưởng Nguyễn Khạ bầy kế gì cho chánh hương hội Phạm Hữu Bảnh không biết. Số phận của “Tây Thi Kẻ Gió” Đản Thị Vện ra sao, vương quốc của chánh Bảnh sum suê đến đâu xin chờ hồi sau phân giải.

Đêm tháng Chạp. Cái rét tê người. Những cơn gió đập liên hồi vào cánh cửa gỗ lỏng then khiến Lan không tài nào chợp...
Bình luận