Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm
Trường ca "Mặt đường khát vọng" (1974) của Nguyễn Khoa Điềm viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ thành thị miền Nam, và rộng hơn, sự tự thức nhận của tuổi trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, về bổn phận và trách nhiệm của mình đối với đất nước, hòa nhập với cuộc chiến đấu chung của toàn dân tộc. Đó cũng chính là con đường tìm về cội nguồn dân tộc, hướng về nhân dân, gắn bó máu thịt với đất nước, non sông. Với trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm đã có những phát hiện mới, làm sâu sắc thêm tư tưởng đất nước của nhân dân - một tư tưởng lớn - trong văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Tư tưởng đất nước của nhân dân đã dần được hình thành từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhưng chỉ đến thời kỳ hiện đại (từ đầu thế kỉ XX), tư tưởng đó mới được nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn. Phan Bội Châu (1867 - 1940) - nhà yêu nước lớn, nhà văn lớn - trong Hải ngoại huyết thư (1906) đã nói về quyền làm chủ đất nước của người dân một cách thống thiết:
“Nghìn, muôn, ức, triệu người trong nước,
Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà,
Người, dân ta; của, dân ta,
Dân là dân nước, nước là nước dân.
… Sông phía Bắc, bể phương Đông,
Nếu không dân cũng là không có gì”.
Nhà văn Nhất Linh trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt (1935), đã thể hiện quan niệm “Dân là nước” qua dòng suy tư của nhân vật Dũng: “Tiếng người gọi nhau ở dưới đồng đưa lên khiến Dũng nghĩ đến cái đời của dân quê, cái đời lạnh lẽo, vô vị kéo dài đã mấy nghìn năm. Đã mấy nghìn năm, họ sống như bám lấy mảnh đất già cỗi, xưa thế nào giờ vẫn thế, vui ít, khổ nhiều, bao giờ cũng thảm đạm như một buổi chiều đông này, không hề khao khát một cảnh đời sáng sủa hơn, mong ước một ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay. Chiều hôm ấy, Dũng như cảm thấy tâm hồn của đất nước, mà biểu hiện cho đất nước ấy không phải là những bậc vua chúa danh nhân, chính là đám dân hèn không tên không tuổi. Dân là dân nước. Yêu nước chính là yêu chung đám thường dân, nghĩ đến sự đau khổ của đám thường dân”.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, tư tưởng đất nước của nhân dân mới được nhận thức sâu sắc, thấm thía hơn và được nâng lên một tầm cao mới bởi quan niệm duy vật về lịch sử và do vai trò to lớn, những đóng góp và hi sinh lớn lao của nhân dân.

Mít tinh trước Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 17-8-1945. Ảnh: Bảo tàng Hà Nội
Nguyễn Đình Thi (1924 - 2003) trong bài thơ Đất nước (1955), đã gợi lên hình tượng đất nước từ “những ngày thu đã xa” đến “Mùa thu nay khác rồi […] / Trời thu thay áo mới/ Trong biếc nói cười thiết tha…”. Đã nói đến những con người thực sự gắn bó với đất nước: “Ôm đất nước những người áo vải/ Đã đứng lên thành những anh hùng”. Và sang sảng cất lên niềm tự hào được làm chủ non sông đất nước: “Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta/ Những cánh đồng thơm mát/ Những ngả đường bát ngát/ Những dòng sông đỏ nặng phù sa/ Nước chúng ta/ Nước những người chưa bao giờ khuất/ Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng nói về…”.
*
Sinh ra trong một gia đình trí thức cách mạng nổi tiếng ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, Nguyễn Khoa Điềm về miền Nam tham gia cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ; hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên - Huế từ năm 1964 đến năm 1975. Gần mười năm trời bám trụ ở một vùng chiến trường ác liệt, Nguyễn Khoa Điềm đã viết nên những tác phẩm: Đất ngoại ô (thơ, 1973); Cửa thép (ký, 1972); Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974); trong đó,

Mặt đường khát vọng là một trường ca xuất sắc, là tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm
Không có một kiến thức văn hóa sâu rộng và tài năng thơ ca, không sống sâu sắc với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và gắn bó sâu nặng với nhân dân; Nguyễn Khoa Điềm không thể viết nên bản trường ca này. Viết như một sự tự bộc bạch, giãi bày những tình cảm gắn bó máu thịt của mình với Tổ quốc, với đất nước, nhân dân. Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên, tới năm 1971, được đưa ra miền Bắc in lần đầu năm 1974.
Trường ca Mặt đường khát vọng là sự kế thừa và phát triển, nâng lên một tầm cao mới tư tưởng đất nước của nhân dân trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX. Tư tưởng đất nước của nhân dân đã chi phối cái nhìn riêng về đất nước và nhân dân, được thể hiện qua những hình tượng nghệ thuật sinh động, đã tạo nên ở tác phẩm những khái quát suy tưởng sâu sắc mà vẫn không rơi vào chung chung, mờ nhạt; nói đến những điều lớn lao mà vẫn không ồn ào, sáo rỗng; đã tạo nên những vần thơ âm vang, có sức lay động tâm trí người đọc.
*
Như trên đã nói, đất nước của nhân dân là tư tưởng chủ đạo của trường ca Mặt đường khát vọng. Tư tưởng sâu sắc này chủ yếu được kết tinh ở chương Đất Nước - chương V - của bản trường ca. Trước Nguyễn Khoa Điềm, chưa có một tác giả nào dùng cả một chương trong một tác phẩm có dung lượng lớn để nói về chủ đề đất nước.
Chương Đất Nước là sự cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm về vai trò và những hi sinh to lớn của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc. Cũng như những nhà thơ trẻ tiêu biểu của thời kì chống Mĩ, cứu nước, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy ngẫm của mình về nhân dân thông qua những trải nghiệm của chính bản thân mình. Tư tưởng “Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” là tư tưởng chủ đạo, chi phối cả nội dung và hình thức chương V của bản trường ca này.
Tư tưởng chủ đạo nói trên được Nguyễn Khoa Điềm thể hiện bằng một hình thức thơ trữ tình - chính luận. Cái lí lẽ mà tác giả đưa ra nhằm thuyết phục người đọc thật giản dị: không phải ai khác mà chính nhân dân - những con người vô danh - đã kiến tạo và bảo vệ, giữ gìn đất nước, đã xây dựng nên truyền thống văn hóa, lịch sử hàng ngàn đời của dân tộc.
Lí lẽ ấy nhà thơ không phát biểu một cách khô khan, trừu tượng mà bằng hình ảnh gợi cảm, bằng giọng thơ sôi nổi tha thiết của mình. Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn bó với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ trong những năm chống Mĩ, cứu nước.
Mượn hình thức trò chuyện tâm tình với một người con gái yêu thương, kết cấu chương V của bản trường ca có vẻ phóng túng, tự do, nhưng từ trong chiều sâu của thi tứ, cảm hứng của mỗi phần vẫn bám rất chắc vào tư tưởng cốt lõi: “Đất Nước của Nhân dân”.
Tư tưởng đó được nhà thơ thể hiện cụ thể, sinh động và được triển khai trên các bình diện: trong chiều dài của thời gian (“thời gian đằng đẵng”), trong chiều rộng của không gian (“không gian mênh mông”), và trong bề dày của truyền thống văn hóa, phong tục, tâm hồn và tính cách dân tộc. Ba phương diện ấy gắn bó, hòa quyện, thống nhất chặt chẽ với nhau trong một “hệ quy chiếu”, được soi sáng bởi tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” là linh hồn của tác phẩm.
Cả chương V của bản trường ca Mặt đường khát vọng như được bao bọc bởi không khí của văn hóa dân gian. Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng rộng rãi và linh hoạt các chất liệu của văn hóa dân gian, từ ca dao, tục ngữ đến truyền thuyết, cổ tích, từ phong tục tập quán đến thói quen sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của nhân dân. Những chất liệu ấy đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa gần gũi, quen thuộc, vừa sâu xa, kỳ diệu đủ sức gợi lên được cái hồn thiêng của non sông, đất nước. Điều đó không đơn thuần chỉ là thủ pháp nghệ thuật, cũng không phải chỉ là cách tiếp thu có sáng tạo văn học dân gian. Có thể nói, tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” - tư tưởng chủ đạo của bài thơ - đã thấm nhuần từ quan niệm đến cảm xúc, từ hình tượng đến chi tiết nghệ thuật của bản trường ca.
*
Phần đầu của chương V, có thể xem là một định nghĩa về đất nước. Cố nhiên là định nghĩa theo cách riêng của nhà thơ, được phát biểu thông qua những hình tượng cụ thể, sinh động, đầy gợi cảm.
Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết, ở ngay cuộc sống bình dị của mỗi con người. Đất nước hiện hình lên qua những lời kể chuyện của mẹ, qua “miếng trầu bây giờ bà ăn”, qua cái kèo cái cột, qua hạt gạo miếng cơm ta ăn hằng ngày.
Đất nước không phải là cái gì xa lạ mà ở ngay trong máu thịt của anh và em: “Trong anh và em hôm nay/ Đều có một phần Đất Nước”.
Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh chung của cộng đồng, của đất nước. Đó là tư tưởng chung của thời đại khi mà vấn đề dân tộc nổi lên như một vấn đề cơ bản nhất, có tính chất quyết định, chi phối hầu như tất cả các vấn đề khác của đời sống xã hội. Trách nhiệm, bổn phận đối với đất nước không phải cái gì khác mà cũng chính là trách nhiệm đối với chính bản thân mình:
“Em ơi Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…”
Đất nước còn được hình thành từ những truyền thống, lịch sử, văn hóa, phong tục hàng ngàn đời của dân tộc. Nhà thơ đã khai thác ý nghĩa các thành tố Đất và Nước trong mối quan hệ với không gian và thời gian, với lịch sử và hiện tại.
Chiều sâu của lịch sử, truyền thống, phong tục và văn hóa của đất nước được gợi lên từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ truyền thuyết Hùng Vương với ngày giỗ Tổ, từ những câu ca dao quen thuộc. Ở đây, đất nước được cảm nhận như là sự thống nhất của các phương diện truyền thống, văn hóa, phong tục rất thiêng liêng song cũng rất gần gũi với cuộc sống của mỗi người. Những giá trị tinh thần bền vững ấy của đất nước đã gắn liền quá khứ, hiện tại với tương lai, được nuôi dưỡng qua các thế hệ:
“Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”
*
Từ những quan niệm về đất nước như vậy, đến phần sau của chương V, tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng: “Đất Nước của Nhân dân, chính Nhân dân là người sáng tạo ra Đất Nước”.
Tư tưởng đó đã dẫn đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu về địa lý, về những danh lam thắng cảnh trên khắp các miền đất nước. Những núi Vọng Phu, những hòn Trống Mái, những núi Bút non Nghiên không còn là những cảnh thú thiên nhiên thuần túy nữa mà được cảm nhận thông qua những cảnh ngộ, số phận của nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của nhân dân, sự hóa thân của những con người không tên không tuổi: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu/ Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái”, “Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên”. Cả đến “Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh”.
Ở đây, cảnh vật thiên nhiên của đất nước, qua cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, hiện lên như một phần tâm hồn, máu thịt của nhân dân. Chính nhân dân đã tạo dựng nên đất nước này, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông, tấc đất này. Từ những hình ảnh, những cảnh vật, hiện tượng cụ thể, nhà thơ đã “quy nạp” thành một khái quát sâu sắc:
“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước,
một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”
Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” đã chi phối cái nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử bốn nghìn năm của đất nước. Nhà thơ không ngợi ca các triều đại, không nói tới những anh hùng đã được ghi lại trong sử sách mà chỉ tập trung nói tới những con người vô danh, bình thường, bình dị. Mỗi con người, mỗi cuộc đời bình dị đi qua lịch sử, trong không gian và thời gian, đều để lại một chút gì cho quê hương, đất nước, đều góp phần làm nên sự bất tử của giang sơn, tổ quốc. Vì thế, đất nước trước hết là của nhân dân, của những con người bình dị, vô danh đó:
“Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”
Họ lao động và chống giặc ngoại xâm, họ giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ mai sau những giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nước, từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, những câu ca dao, tục ngữ. Tái hiện lịch sử lao động hàng nghìn năm của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã dùng những hình ảnh rất đỗi thân thuộc, gần gũi trong đời sống hằng ngày của nhân dân, qua đó, làm sống dậy những phong tục tập quán của một đất nước nông nghiệp.
Nhân dân không chỉ gìn giữ và truyền lại cho ta ngọn lửa và hạt giống - những thứ tối cần thiết cho sự sống, cho sự sống còn của cộng đồng mà còn có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc: “Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói/ Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân”... Mạch cảm xúc, suy nghĩ cứ dồn tụ dần để cuối cùng dẫn tới cao trào, làm bật lên tư tưởng cốt lõi của tác phẩm vừa bất ngờ, vừa giản dị và độc đáo:
"Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao,
thần thoại"
Đất Nước là chương tiêu biểu và tinh túy nhất của trường ca Mặt đường khát vọng, thể hiện rất rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khoa Điềm. Đó là một hồn thơ kết hợp được vốn văn hóa với vốn sống thực tế, giữa trữ tình và chính luận, giữa suy tư và cảm xúc, giàu sức liên tưởng, gợi mở. Nguyễn Khoa Điềm đã nói về đất nước bằng một giọng điệu say mê nồng nhiệt, với những tưởng tượng, liên tưởng phong phú, mãnh liệt, tràn trề.
Chương Đất Nước đã tạo nên được những rung động, âm vang trong lòng người đọc chính là nhờ tác giả từ những cảm xúc chân thành, từ sự trải nghiệm và chiêm nghiệm của mình mà nói lên những suy nghĩ chung của cả thế hệ về đất nước.
Ngọn nguồn của văn học, xét đến cùng, chính là cuộc sống. Tác phẩm văn học, về một phương diện nào đó, là sự phản ánh cuộc sống, soi bóng thời đại mà nó ra đời. Cuộc sống không bao giờ đứng yên, thời đại có thể đổi thay, văn học tất yếu sẽ phải đổi thay. Nhưng văn hóa như một dòng chảy mạnh ở bề sâu, luôn nuôi dưỡng cái hồn của dân tộc, sức sống kì diệu của nhân dân, được thể hiện trong những tác phẩm văn học ưu tú qua các thời kì, qua từng giai đoạn, trong đó có những tác phẩm được sinh ra như là sự kết tinh tư tưởng lớn: đất nước của nhân dân. Chính vì thế, những sáng tác văn học, nghệ thuật xuất sắc chạm đến chủ đề lớn, tư tưởng nghệ thuật lớn này, thường có sức sống mãnh liệt vượt thời đại, có khả năng trở thành những áng văn chương muôn thuở, muôn đời.
Bình luận