Giải mã bản thể người trong tiểu thuyết ‘Hư thực’ và ‘Hồ đồ’ của Phùng Văn Khai

Khác với mảng đề tài lịch sử thường thấy trong các tiểu thuyết “Phùng Vương”, “Ngô Vương”, “Nam Đế Vạn Xuân”, “Triệu Vương phục quốc” - nơi nhân vật được khoác lên mình tấm áo quyền lực với vai vế rõ ràng, phản ánh những năm tháng thương đau mà hào hùng của quá khứ; thì trong mảng đề tài thế sự - đời tư với hai tiểu thuyết “Hư thực” và “Hồ đồ”, Phùng Văn Khai lại hướng nhân vật vào thực tại để truy nguyên thân phận con người. Nhân vật được miêu tả như những cá thể đơn lẻ, thường rơi vào trạng thái phân mảnh, không còn khả năng xác quyết về nhân vị, không còn phân biệt được đâu là đời, đâu là ảo. Giữa muôn vàn thăng trầm của đời sống, nhân vật bị cuốn vào những vòng xoáy hiện sinh, khiến danh tính, cảm xúc và giá trị sống bị mài mòn đến vô định.

Trước hết, ở Hư thực, Phùng Văn Khai bày tỏ một quan niệm nhân sinh về sự cô đơn của đời người. Hai nhân vật trung tâm là họ Đào và Y được khắc họa nhòe mờ giữa hỗn độn sự kiện bởi nhà văn đã tiến hành “tẩy trắng” nhân vật, tước bỏ danh tính, biến họ thành những con người khá chung chung qua vài nét phác thảo. Còn Y, đồng nghiệp và có thể xem là “tấm gương phản chiếu” với họ Đào, dù có gia đình, cơ quan đoàn thể, nhưng thiếu mật thiết, luôn mang cảm giác cô đơn, sáo rỗng. Điểm nhấn để khơi lẩy chiều sâu nội tâm nhân vật chính là việc tác giả tạo hai bối cảnh đắc địa: đẩy họ vào chốn bức bối, bất định trên con tàu và chốn u huyền, kì bí rừng núi để diễn giải những cảm xúc đa mang. Cả hai bước lên con tàu được cho là chở đến địa điểm tác nghiệp. Con tàu đơn độc lao mình trong đêm đen về nơi mịt mùng, chở theo hai kẻ cũng đang cảm thấy cuộc đời thăm thẳm, hoang liêu. Tại núi rừng, điều chờ đợi họ không chỉ là chất liệu sinh động của cuộc sống thâm sơn cùng cốc, mà nó chứa đựng nguồn cội hoang sơ của con người và tự nhiên. 

Qua Hồ đồ, tiếng nói nhân vị càng trở nên yếu đuối và bất lực một cách thương tâm. Các nhân vật đều không tên, không tuổi, không quê quán, ẩn hiện như chiếc “bóng” rồi nhập vào “đoàn người” lặng lẽ, nối đuôi nhau đi tìm công lí với tất cả sự bền bỉ của lương tri và khát vọng nhân quyền. Điều giúp độc giả có thể phân biệt được “người này” với “người khác” là những dấu hiệu bi kịch nhân sinh. Cụ thể, đó là đặc điểm cơ thể “có vấn đề” (Chị tóc dài, Người nhỏ bé, Người bất tử, Tóc vàng); tình trạng hôn nhân (Gã độc thân); vị trí không gian khơi tỏa chấn thương (Người đàn bà ở làng, Người đàn bà lạc sông, Người đàn ông về làng, Người lính phía bên kia, Thằng bé đến từ ngã ba sông, Người đàn bà ở ngã ba sông); kí tự mặc cảm (Người đàn ông tên K); công việc đang/ đã đảm nhiệm để lại tổn thất (Cựu chiến binh A.R.M, người y tá già, ngài cựu đô đốc, Trung úy E.Z., Người gác rừng, Giám đốc nông trường, Giám đốc trung tâm, Gã thợ săn, Ông viện trưởng, Ông trưởng đoàn); số lượng (Đám người, Đoàn người). Từng số phận đó ẩn hiện và luân chuyển liên tục trong một khí quyển văn chương khởi phát từ trạng thái vô thức, ẩn ức, đau thương.

Giải mã bản thể người trong tiểu thuyết ‘Hư thực’ và ‘Hồ đồ’ của Phùng Văn Khai - 1

Sự thất thế của con người được Phùng Văn Khai miêu tả như những sinh vật bị bao vây bởi bóng tối dày đặc, âm thanh dị thường, không gian ngột ngạt. Trong Hồ đồ, sự sống giảm xuống chỉ còn là những chuỗi phản xạ sinh học sơ khởi: hát, khóc, gào thét, mệt rã, thiếp đi - một vòng đời vô nghĩa, không định hướng, không khát vọng. Còn trong Hư thực, nhân vật cuốn vào mê cung của ảo giác đan xen, tan rã. Không còn điểm tựa tinh thần, con người rơi vào trạng thái hoài nghi bản thể, sống như không sống, hiện diện mà vô hình. Những cử chỉ, lời nói, suy tưởng trở nên rời rạc, phi lí, như vang lên từ một cõi nào đó không thuộc về nhân loại. Con người hiện ra trong âm vực vô thức, tồn tại dưới thể trạng mỏi mệt và mông lung. Họ không chỉ bị tước đoạt “quyền sống” mà còn bị đẩy vào vùng xám của tồn tại. Thế giới không còn là lãnh địa để thể hiện bản lĩnh, mà là chốn con người bị chi phối, loại trừ và mất nhân tính.

Trong thế giới đó, giới hạn giữa các loài trở nên mong manh, buộc nhân vật phải tái định nghĩa về chính mình. “Con người vẫn tồn tại một cách cẩu thả, tăm tối, đầy oán trách và đồi bại. Con người đang tụt xuống những con dốc miên man không dứt. Con người vĩnh viễn không tìm thấy mình từ hàng ngàn hàng vạn năm. Trước cái lồng quản thúc hết sức kiên cố, không ai đập vỡ được, càng không ai thoát ra khỏi móng vuốt của nó. Cứ theo những ý nghĩ của cái đầu rùm ròa kia thì con người khi mặt trời lặn cũng là lúc trốn vào những nỗi đau của mình, loay hoay trong cái lồng chật hẹp. Con người luôn cố thoát ra rồi lại không mong muốn thoát ra đầy khó hiểu”. Từ đây, Phùng Văn Khai bày tỏ quan niệm mới về nhân sinh: con người không chỉ xoay quanh bản ngã cá nhân, mà còn mở rộng tới mối quan hệ giữa môi trường sinh thái, giữa các thực thể khác nhau trong một vũ trụ tương thông, tương hỗ.

Trong lớp diễn ngôn nặng tư tưởng, hàm chứa nhiều ý niệm, các nhân vật tiểu thuyết Hồ đồ Hư thực không hiện diện như những cá thể đã được định danh. Dấu ấn hiển thị “sống” của họ luôn nhòe mờ bởi các sự kiện nhập nhằng, bị phân thân, lạc lối trong thế giới phi lí và rối nhiễu. Qua bút pháp huyền ảo và cấu trúc phi tuyến tính, Phùng Văn Khai đã kiến tạo một không gian tồn tại “hư thực”, một xã hội còn nhiều “hồ đồ”, biến con người trở thành những “dị bản”, rơi vào trạng thái nghi vấn về chính mình và cuộc đời.

Việc phân tích những bản mệnh kì quái, dị dạng liên quan như thế nào đến sự giải mã bản người? Để trả lời câu hỏi này, có thể mượn sự diễn giải của Bakhtin với hình tượng nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa, ông cho rằng: “chủ nghĩa lãng mạn cũng có một phát hiện có ý nghĩa tích cực vô cùng to lớn, đó là phát hiện ra con người nội tâm, con người chủ quan với chiều sâu, tính phức tạp và phong phú vô tận của nó. Cái tính vô tận bên trong ấy của bản ngã con người lại rất xa lạ với nghệ thuật nghịch dị thời trung cổ và Phục hưng, nhưng sở dĩ các nghệ sĩ lãng mạn phát hiện ra nó là bởi họ biết vận dụng phương pháp nghịch dị với sức mạnh giải phóng khỏi mọi chủ nghĩa giáo điều, mọi khuynh hướng hoàn kết hẹp hòi. Trong một thế giới đóng kín, hoàn tất, ổn định với những ranh giới rạch ròi và bất di bất dịch giữa các hiện tượng và giá trị, thì sự vô tận bên trong ấy ở con người không thể được khám phá. Để thấy rõ điều đó, chỉ cần so sánh lối phân tích duy lí và khai thác cạn kiệt những xúc cảm nội tâm trong sáng tác của các tác gia cổ điển chủ nghĩa với những hình tượng cuộc sống nội tâm ở Sterne và các tác gia lãng mạn chủ nghĩa. 

Đối chiếu với tiểu thuyết của Phùng Văn Khai, hình tượng con người nghịch dị, bất thường là cách thức nhà văn giải cấu trúc những ảo tưởng về nhân tính, sự sống và niềm tin. Các nhân vật Y, họ Đào, hai người đàn bà điên ở sông và ở rừng (Hư thực), người đàn bà ở làng, chị tóc dài, người nhỏ bé, hài nhi (Hồ đồ),… là tấm gương phản chiếu sự khủng hoảng của con người khi bị tách khỏi các hệ thống ý nghĩa truyền thống, phải sống trong một thế giới không còn cứu rỗi: chiến tranh và áp lực đời sống. Nó làm nên nỗi sợ sống, sợ sự hiện diện vô nghĩa của chính mình, chứ không đơn thuần là nỗi sợ cái chết. So sánh với dòng văn học hiện sinh của Kafka hay Beckett, các nhân vật của Phùng Văn Khai không đi tìm ý nghĩa cuộc sống như một bi kịch, mà họ nỗ lực tìm giá trị tồn tại, nhưng vì thế mà họ rơi vào trạng thái hoang mang, day dứt. Điều này đặt ra tra vấn về con người thời nay: còn điều gì là thực? còn điều gì là nhân tính?

Cụ thể, trong Hư thực, các nhân vật cô gái rừng, người đàn bà điên, đội quân đen, quân vàng giữa lòng sông, những đứa trẻ làng Bái,... đều toát lên sự bất bình thường của đời sống, cái thiếu khuyết trong tâm hồn và mong manh của nhân sinh. Hơn hết, họ đều khát khao một điều gì không rõ, như muốn được khỏa lấp nỗi lòng, mong được thấu hiểu nỗi đau và cô đơn, nỗ lực thoát khỏi tâm thế chông chênh giữa đời. Từ đó, các nhân vật trở thành những hình tượng tiêu biểu cho từng khía cạnh đa dạng trong hoạt cảnh cõi thế. Và nhìn xa hơn, những hành động bất thường, phi lí của các nhân vật đều có thể được hiểu như sự thực hành nghi lễ thanh tẩy, hóa giải, kết nối nguồn cội với tổ tiên, cộng đồng. Người đàn bà điên thường ngồi bên kia sông, lẩm bẩm những câu hát vu vơ tựa lời khấn nguyện, tay cầm con búp bê bện bằng rác, tiến hành nghi lễ “tái sinh” bằng cách nhỏ giọt máu của mình ngấm vào đôi môi nhỏ bé của hình nhân. Đội quân đen, quân vàng ẩn nấp ở hai bên bờ sông, cờ xí ngợp trời, sát khí bốc lên ngùn ngụt, thực hiện cuộc giao tranh với những đòn giáng chí mạng, cuốn phăng mọi sinh linh hiến tế. Sự biến mất bí ẩn lần lượt từng đứa trẻ làng Bái, mặc người ta luôn cử người sục sạo ở bờ ao bờ sông tìm chúng, không có cái xác nào, nhưng không khí luôn u uất, có lúc “sôi lên như chảo lửa”. Đến nỗi, “một dạo, không hiểu sao, người ta đốn tất cả những gốc dâu cổ thụ quăng xuống dòng sông. Dòng sông đỏ sậm dần dần tím tái xác cội dâu. Nước chảy nghẹn lại Trước đó còn kinh hoàng hơn, trong một đêm mưa bão, người ta quăng rất nhiều tượng gỗ sơn son thếp vàng ở các đình chùa xuống lòng sông” [4, Tr. 145]. Tất cả những câu chuyện rời rạc trên, nếu ghép lại trong một chỉnh thể toàn vẹn với quan niệm cái đẹp Chân - Thiện - Mĩ, hẳn không liên quan và có phần khập khiễng. Nhưng nếu nhìn ở tinh thần nghịch dị với những gương mặt hóa trang kì quái thường thấy trong các lễ hội dân gian mà Bakhtin gợi dẫn, thì đó là một sân khấu với những màn trình diễn đầy tính phúng dụ và siêu hình. Ở đó, cái thiêng và tục, sống và chết, người và vật, lí trí và phi lí cùng hòa vào nhau trong một dòng vận động hỗn loạn nhưng mang chiều kích chữa lành, thanh tẩy và tái cấu trúc thế giới.

Phùng Văn Khai không xây dựng nhân vật theo cách thông thường. Thay vào đó, hình ảnh con người trong Hư thực đều tồn tại ở trạng thái phiếm định, biến hóa liên tục, không có ranh giới rõ ràng giữa người/ ma, người/ thú. “Con người mãi mãi là một bí mật không thể giải mã” Nhà văn cũng thừa nhận, “với những người điên, chết chắc chắn chả là gì. Họ sẽ bước sang một cõi mà ở đấy thực ra cũng giống như đây thôi. Vẫn những dòng sông hiền từ ấy, những thức ăn có sẵn, những ngạc nhiên có sẵn. Khác chăng có thể là ở đó họ sẽ không gặp con người, đỡ phải vắt óc ra xem những con người kia làm cái gì vậy, tất bật và bận rộn lo nghĩ để làm gì” Nơi đó, cái đẹp không còn mang dáng dấp thuần khiết và ổn định, mà mang tính lưu động, thô ráp, bị nhiễm bẩn bởi máu, bùn, và nước mắt; song lại chứa đựng chiều sâu thanh lọc và biến hình - như chính những mặt nạ kì quái trong các nghi lễ dân gian, gợi nỗi sợ để rồi vượt qua nó. Những biểu tượng ấy, vì thế, không khép lại trong khung mĩ học cổ điển, mà bung ra trong nguồn cội mẫu gốc, huyền thoại, và trong cả chiều sâu tâm linh của một cộng đồng từng trải qua những đứt gãy lịch sử, văn hóa và chiến tranh.

Giải mã bản thể người trong tiểu thuyết ‘Hư thực’ và ‘Hồ đồ’ của Phùng Văn Khai - 2

Trong Hồ đồ, Phùng Văn Khai càng khiến người đọc ngợp chìm trong cảm giác “quái đản”, “lạnh gáy”. Là tác phẩm viết về dioxin, nhà văn không tạo nên một nhân vật chính cụ thể, mà đó là cộng đồng các nạn nhân chất độc da cam. Bao gồm: những người phụ nữ có vấn đề về tử cung và rối loạn nhiễm sắc thể: chị tóc dài sinh ra quái thai hay người đàn bà ở làng đẻ lần thứ tám vẫn chỉ là “một cục đen thẫm”, “lầy nhầy”. Hay lớp Cựu binh A.R.M người Mĩ, có thân hình to lớn một cách dị thường, chỉ dám sống trong cảnh đêm tối bủa vây tứ phía, với một đứa con tật nguyền - di chứng của chất dioxin trong thời gian tham chiến tại Việt Nam. Và cả những hài nhi méo mó, dị hình, vừa sinh ra đã không được làm “người” mà bị nhốt vào những chiếc “ang” rồi thả trôi sông. 

Với những hình bóng trầy xước, dị hợm, đứt gãy đó, Phùng Văn Khai đã nhấn mạnh một thế giới đã không còn trật tự và lí tính bởi sự tàn phá của chiến tranh. Hình tượng người anh hùng với những chiến công vang dội - vẫn thường thấy trong những trang sử dân tộc - được thay thế bằng những người lính nhiễm da cam, họ trở về cuộc sống thường nhật với thể xác thương tật và tâm hồn sang chấn. Sự kiện quân đội Mĩ dùng vũ khí sinh học, rải chất độc dioxin vào Việt Nam diễn ra vào những năm đầu thập niên 60 thế kỉ XX đã để lại hậu quả nặng nề cho môi trường và con người. Cùng với sự tàn phá thiên nhiên, những người lính trực tiếp tham chiến lẫn người dân thường đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc và nhấn mạnh sự thức tỉnh lương tri, Phùng Văn Khai đã đề cập đến rất nhiều kiểu người dị dạng khởi sinh từ chất dioxin: quái thai, vô sinh, tàn tật, rụng tóc, mất ngủ, ung thư, máu trắng,…

Điều đặc biệt là, khi tái hiện lại những kiểu người dị dạng vì dioxin, Phùng Văn Khai một mặt cho thấy hành trình đấu tranh công lí được thực hiện bằng cách thu thập chữ kí cho những tờ đơn tố cáo gửi cơ quan chức năng; một mặt, đi tìm công lí bằng con đường thực hành nghi lễ hiến tế, khấn nguyện. Qua nhiều thủ tục hành chính làm ở cõi trần chưa có kết quả và chờ đợi trong vô vọng, họ kêu gọi sự hỗ trợ và tìm kết nối âm - dương. Những tập tục văn hóa được gợi lên, không mang màu sắc dị đoan, mà cho thấy quá trình đấu tranh của các nạn nhân da cam cần phải được thực hiện bằng niềm tin tâm linh sâu sắc. Tất thảy lắng tụ trong cảm thức xót xa, đau nhói vì bóng hình dị nhân vô tội, oan ức bởi chiến tranh. 

Những nhân vật dị dạng, méo mó trong văn học nói chung và trong Hư thực, Hồ đồ của Phùng Văn Khai nói riêng chính là tấm gương phản chiếu sự khủng hoảng bản thể, trượt vỡ niềm tin và vị thế của con người ở thế giới hiện đại. Bằng cách xây dựng những nhân vật “kì quái” này, Phùng Văn Khai đã khơi dậy một diễn ngôn đầy ám ảnh về thời đại con người chỉ là một “vệt mờ” đang trôi dạt giữa hư và thực, lí trí và hỗn loạn. Đây không chỉ là sáng tạo nghệ thuật mà còn là một hành động phản tư triết học sâu sắc về chiến tranh và thân phận con người hôm nay. Viết về cái dị thường để truy lùng bản chất con người, Phùng Văn Khai bày tỏ vai trò quan trọng của sự dấn thân và sáng tạo của văn chương. Có thể thấy, đôi khi, các nhân vật trong sáng tác của Phùng Văn Khai trở thành “người phát ngôn” cho tư tưởng nhà văn. Như họ Đào, tác phẩm của hắn “phần lớn những nhân vật không tên tuổi, kì dị, đi lại thất thường, hành trang bí ẩn và thường là những kẻ bị thiên hạ hắt hủi, xa lánh, điên loạn hoặc đã chết”. Người ta, thoạt tiên, có thái độ dè chừng, xem nhẹ những gì họ Đào viết, vì cho rằng nó dị thường, không giống như đời sống vẹn toàn mà chúng sinh hướng tới. Nhưng bằng lương tâm của một nhà văn trách nhiệm, họ Đào thấy rằng, “thằng nhà văn không khám phá ra sự thật thì còn ra gì”. Phải chăng, Phùng Văn Khai đã xây dựng kiểu nhân vật dị dạng như một cách giải cấu trúc nhân vật truyền thống để khám phá bản chất thật sự của con người? Chính trong sự biểu đạt muôn hình vạn trạng của cái khuyết tật, kì quái, tổn thương đó, nhà văn đã mở đường truy tìm căn cước con người trong thế giới hiện đại. 

Cuộc sống hiện tại thường diễn ra nhiều điều nghịch lí, dễ khiến con người hoang mang, tổn thương, rơi vào bế tắc giữa các sự kiện phải đối mặt về vấn nạn môi trường, bệnh tật, áp lực công việc, an ninh toàn cầu,... Đứng trước những lo âu ấy, mĩ cảm nghệ thuật dần chuyển hướng, nhà văn không xây dựng nhân vật một chiều, đơn giản, mà hướng trọng tâm vào những cá thể phức tạp, đại diện cho những phi lí đang tồn tại trong xã hội loài người. Họ trở thành chứng nhân/ nạn nhân của quy luật cuộc sống khắc nghiệt, là tiếng nói chất vấn các giá trị đã lỗi thời và tư duy không còn phù hợp. Từ việc khảo sát hai tác phẩm Hư thựcHồ đồ, bài viết đã tập trung lí giải tiến trình giải thiêng bản thể người như một phương diện trung tâm trong quan điểm sáng tác của nhà văn. Với thủ pháp nghịch dị, kĩ thuật đảo chiều không thời gian theo dòng kí ức, tiểu thuyết của Phùng Văn Khai không đơn thuần kể lại câu chuyện về những người cô đơn lạc lối, méo mó, bất toàn, mà đặt ra câu hỏi mang tính hiện sinh về vị trí và giá trị của con người. Điều này đồng nghĩa với việc những hình tượng thiêng liêng, những mô hình phổ quát như “người anh hùng”, “con người lí tưởng”, “đấng cứu thế”, hay “cái tôi bất khả xâm phạm” dần bị nghi vấn, giải cấu trúc, và thay thế bởi các cá thể tầm thường, kì quái, phức tạp. Đây chính là cách mà văn học trở thành diễn ngôn phản tư “nhân loại trung tâm”, xác lập quan điểm mang tính sinh thái sâu sắc hơn; nhằm khẳng định con người không còn là kẻ thống trị mà trở lại làm một sinh thể khiêm nhường giữa muôn loài. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Phùng Văn Khai không cố gắng nâng con người lên tầm thiêng, thay vào đó là lột bỏ mọi lớp vỏ huyền thoại, để phơi bày con người trong sự vụn vỡ, trần trụi, mâu thuẫn và không ngừng tự hoài nghi. Từ góc nhìn ấy, những sinh thể đánh mất nhân vị vừa là biểu tượng của nỗi cô đơn, vừa như lời cảnh báo về hậu quả của lối tư duy tách biệt con người khỏi tự nhiên, xa cộng đồng và lạc giữa chính mình. Đồng thời, nhà văn cũng gợi mở hành trình khả thể tái thiết “bản thể người” - không phải bằng sự khôi phục vị trí thống trị, mà qua việc học cách tồn tại trong mối cộng sinh, hòa bình và kết nối với thế giới sống. Đây chính là đóng góp đáng kể của nhà văn trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam, đồng thời mở ra triển vọng tiếp cận văn học từ các lí thuyết bản thể và sinh thái trong nghiên cứu hiện nay. 

TS. Nguyễn Thùy Trang

Tin liên quan

Tin mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Cincinnati Open 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Cincinnati Open 2026 mới nhất

Cincinnati Open 2026 khởi tranh từ 13/8 tại Mỹ, quy tụ những ngôi sao hàng đầu ATP. Djokovic, Zverev, Felix Auger-Aliassime, Medvedev, Fritz cùng nhiều tên tuổi lớn sẽ bước vào cuộc đua trên mặt sân cứng, trong bối cảnh Sinner và Alcaraz vắng mặt, mở ra cơ hội hấp dẫn cho nhóm bám đuổi.

Kết quả thi đấu tennis đơn nữ Cincinnati Open 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nữ Cincinnati Open 2026 mới nhất

Những diễn biến mới nhất tại Cincinnati Open 2026 đơn nữ sẽ liên tục được cập nhật, từ vòng đấu đầu tiên đến chung kết. Sabalenka, Rybakina, Swiatek, Gauff và Pegula đều đặt mục tiêu tiến sâu, hứa hẹn tạo nên những màn so tài hấp dẫn trên mặt sân cứng nước Mỹ.

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Cincinnati Open 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Cincinnati Open 2026 mới nhất

Cincinnati Open 2026 đơn nữ diễn ra từ 13/8 với sự góp mặt của hàng loạt ngôi sao WTA. Sabalenka, Rybakina, Gauff, Pegula và Swiatek dẫn đầu cuộc đua trên mặt sân cứng, trong khi nhiều cựu vô địch và tài năng trẻ sẵn sàng tạo bất ngờ tại Ohio.

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Cincinnati Open 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Cincinnati Open 2026 mới nhất

Cincinnati Open 2026 hứa hẹn liên tục xuất hiện những trận đấu hấp dẫn khi Djokovic, Zverev, Felix Auger-Aliassime và nhiều tay vợt hàng đầu tranh tài. Kết quả từng vòng đấu sẽ quyết định những cuộc đại chiến đáng chờ đợi trên hành trình tìm ra nhà vô địch Masters 1000 tại Ohio.

Thể lệ Cuộc thi Lan tỏa tri thức Con đường tương lai”

Thể lệ Cuộc thi Lan tỏa tri thức Con đường tương lai”

Chào mừng Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026), đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng;  Nghị quyết 57/NQ-TW ngày của Bộ chính trị về Đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Nghị Quyết 80/NQ-TW ngày 07/1/2026 về Phát triển Văn hoá, góp phần xây dựng xã hội học t

Trao giải Cuộc thi “Đến với Con đường tương lai” và Phát động Cuộc thi “Lan tỏa tri thức Con đường tương lai”

Trao giải Cuộc thi “Đến với Con đường tương lai” và Phát động Cuộc thi “Lan tỏa tri thức Con đường tương lai”

Chiều 19/8, tại Hà Nội, Thời báo Văn học nghệ thuật phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục và Môi trường, Sàn Văn hoá Học và Đọc, Công ty cổ phần Truyền thông tri thức số TTS tổ chức Lễ Trao thưởng Cuộc thi “Đến với Con đường tương lai” nhằm ghi nhận, biểu đương tâm huyết và trí tuệ của bạn đọc dự thi, truyền cảm hứng tiếp tục lan tỏa giá trị của cuốn sách, phát triển v