Trưng Nữ Vương - Từ lịch sử đến thơ ca

Khí thế nữ nhi xả thân vì quốc, đánh quân xâm lược vốn không hiếm trong lịch sử nước nhà. Trong đó, sự kiện khởi đầu chói lọi để lại ấn tượng nhất trong tâm hồn con người Việt Nam là hình ảnh Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa đầu xuân năm Canh Tý (năm 40). Sự kiện này là nguồn cảm hứng vô tận cho các thế hệ nghệ sĩ, nhà yêu nước, nhà sử học, từ những tác phẩm văn học đến những bài ca tôn vinh. Gần 2000 năm sau, nhà thơ Phùng Văn Khai đã tái hiện lại uy linh đầy khí thế của hai vị nữ anh hùng dân tộc trong tiểu thuyết lịch sử của ông. Đặc biệt với sắc thái Trưng Vương oai phong, dũng mãnh, quyết trả “thù nhà, nợ nước” qua tác phẩm “Bài ca Trưng Nữ Vương”.

Đất Mê Linh nghìn năm xanh mát

Trưng Nữ Vương bát ngát huân công

Rạng danh dòng giống Lạc - Hồng

Phong quang quấn quýt con Rồng cháu Tiên.

Mở đầu bài thơ, tác giả khẳng định lập trường tư tưởng mạnh mẽ của mình. Ở đây, nhà thơ không chỉ nhắc đến mảnh đất Mê Linh trù phú đã có từ ngàn xưa, mà còn khẳng định sự trường tồn, bền vững của vùng đất này. Hình ảnh “nghìn năm xanh mát” ngầm thể hiện quan điểm của tác giả về sự bất khả xâm phạm của văn hóa và ý chí dân tộc, phản bác ý niệm “ngàn năm Bắc thuộc”. Bởi nếu là một quốc gia bị lệ thuộc trước đó, sẽ chỉ tồn tại “nghìn năm u uất” chứ khó lòng có được một “nghìn năm xanh mát”. Nhưng thử ngồi lại suy ngẫm: nếu quả thật “nghìn năm xanh mát” như cách thi nhân hình dung, khi đất nước vốn yên bình, đời sống ấm no, thì phải có nguyên nhân lớn lao, phải có sự đè nén khắc nghiệt lắm mới khiến làn sóng phẫn nộ bùng lên dữ dội. Đỉnh điểm của sự bất mãn này là chính sách tàn bạo của Thái thú Tô Định. Khi đời sống bị kiểm soát gắt gao cũng là lúc ý chí quật khởi của người dân sẽ trào dâng mãnh liệt hơn bao giờ hết. Đây chắc hẳn là cuộc chiến mới của một đất nước từ yên bình bỗng rơi vào thảm cảnh phong ba.

Trưng Nữ Vương - Từ lịch sử đến thơ ca - 1

Tiểu thuyết “Trưng Nữ Vương” của nhà văn Phùng Văn Khai.

Không dừng ở đó, khổ thơ tiếp theo tác giả tiếp tục khẳng định chủ quyền của dân tộc Việt Nam từ thuở sơ khai cho đến hiện tại. Dù trải qua bao biến động của thời cuộc, đất nước này vẫn luôn thuộc về nhân dân Việt Nam, không chỉ trên phương diện chính trị mà còn trong chiều sâu văn hóa. 

Kể từ lúc khai minh thiên địa

Người phương Nam chủ đất phương Nam

Sánh cùng Ngũ Đế, Tam Hoàng

Chia riêng phong tục Bắc - Nam ngàn đời.

Phương Nam và phương Bắc không lệ thuộc, không hơn kém nhau mà cả hai chủ thể đều “sánh cùng”, đều tồn tại song song trong tiến trình phát triển của lịch sử. Song song với các triều đại ở phía Bắc là thời kỳ họ Hồng Bàng, nơi các vua Hùng trị vì với quốc hiệu Văn Lang ở phía Nam. Cho đến giai đoạn từ năm 257 TCN - 208 TCN, Thục Phán xưng vương đổi quốc hiệu thành Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội ngày nay). Trong khoảng thời gian này, nhà Tần với dã tâm mở mang bờ cõi đã bắt đầu tiến hành những cuộc xâm lược tàn bạo vào lãnh thổ phía Nam.

Vừa trước đó nhà Tần vô đạo

Dấy can qua lốc bão phương Nam

Đồ Thư trăm vạn binh hùng

Tràn vào Ngũ Lĩnh ầm ầm muôn nơi.

Bách Việt tộc không cam chịu khuất

Khắp núi cao, vực thẳm, sông sâu

Tần binh “người chết trông nhau”

Đồ Thư bị bắt muôn màu tang thương.

Trước sức mạnh áp đảo của quân Tần, “người Việt bấy giờ đều rủ nhau núp vào trong rừng rậm, không ai chịu để cho người Tần dùng” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Viện Sử Học, NXB Giáo dục, 1998, trang 81). Đó không phải là một cuộc chạy trốn vì sợ hãi hay thất bại, mà ngược lại, là một chiến lược khéo léo tương tự kế sách “vườn không nhà trống” sau này. Việc rút vào rừng không chỉ để tránh thế mạnh ban đầu của quân Tần mà còn là cách người Việt kéo dài thời gian, tránh trận chiến lớn khi chưa có đủ chuẩn bị và chưa nắm được ưu thế. Đây chính là biểu hiện của sự khôn khéo và kiên nhẫn, chờ thời cơ thuận lợi phản công.

Ở phân đoạn này, nhà thơ khắc họa thế trận đánh giặc tinh vi, bao trùm “khắp núi cao, vực thẳm, sông sâu”. Kết hợp với sử liệu “ngầm bầu những người tài giỏi lên làm tướng, đánh nhau với người Tần” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Viện Sử Học, NXB Giáo dục, 1998, trang 81). Rõ ràng, đây là cuộc chiến đấu kiên cường, đầy mưu trí và có tổ chức. Hai Bà Trưng đã khéo léo lợi dụng địa hình núi rừng để tiến hành một cuộc kháng chiến trường kỳ, áp dụng lối đánh nhỏ và thường xuyên tấn công vào ban đêm nhằm làm suy yếu sức mạnh của quân địch, đồng thời cắt đứt nguồn lương thực mà chúng cướp bóc. Có thể nói, đây chính là hình thức sơ khai của chiến thuật đánh du kích - một phương thức chiến đấu dựa trên sự linh hoạt, tận dụng địa thế tự nhiên và gây hao mòn dần lực lượng đối phương. Sử gia Tư Mã Thiên từng miêu tả cuộc chiến Tần - Việt với thảm trạng quân Đồ Thư như sau: “Đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái không xong. Đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta phải thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau”.

Cuộc chuyển giao quyền lực giữa nhà Tần sang nhà Hán còn là sự tiếp nối dã tâm xâm lược, kế tục “chứng tật” của triều đại đi trước. 

Hán thay Tần vẫn nguyên chứng tật

Dụng mưu gian thống thuộc phương Nam

Muôn dân rên xiết, cơ hàn

Oán Tô Thái thú tham lam thấu trời.

Quân vô đạo sát phu hiếp phụ

Tướng vô luân bụng dạ sói lang

Dầu sôi, lửa bỏng lan tràn

Mẹ già, con đỏ xương tàn, máu rơi.

Tô Thái thú, tức Tô Định, được Hán Quang Vũ Đế cử xuống làm Thái thú Giao Chỉ năm 34. Là người gian hùng, tham lam, tàn bạo, chuyên vơ vét của cải, trấn áp bách dân Giao Chỉ, người đã bắt và chém đầu Thi Sách - thủ lĩnh đất Chu Diên, chồng của Trưng Trắc. Hành động này gây phẫn nộ và dẫn đến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng khiến Tô Định bại trận phải cắt tóc, cạo râu, trốn chạy về phương Bắc.

Đầu Thi Sách lìa rơi vô cớ

Đất Mê Linh lệ ứa máu tuôn

Thù nhà, nợ nước chất chồng

Chị em Trưng thị xưng vương, phất cờ.

“Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kêu oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này”.

Sau nợ nước, đến thù nhà. Thi Sách là thủ lĩnh đất Chu Diên, người dũng lược, chồng Bà Trưng Trắc, bị Tô Định sát hại dẫn đến cuộc khởi nghĩa năm 40. “Vô cớ” trong cái chết của Thi Sách không chỉ đơn thuần là cách diễn đạt trong thơ ca, mà còn phản ánh thực tế lịch sử có nhiều khía cạnh cần được làm sáng tỏ.

Từ đây, “thù nhà, nợ nước” đã lên đến đỉnh điểm và nổi bật ở cuộc khởi nghĩa đầu xuân Canh Tý (năm 40) với bốn lời thề sắt đá được ghi trong Thiên Nam ngữ lục. Trên đền thề cửa sông Hát ngày hội quân, chủ soái và toàn thể quân lính đã khẳng định mục tiêu chính của cuộc khởi nghĩa là để trả nợ nước, đồng thời sạch nợ nước cũng chính là rửa mối thù nhà.

Đội quân Hai Bà Trưng nhanh chóng tụ hội được quần chúng và lan rộng khắp nơi:

Khắp Giao Chỉ, Cửu Chân, Hợp Phố...

Bắc Động Đình, nam tới Nhật Nam

Theo về cờ nghĩa chứa chan

Quét quân đô hộ vén quang mây mù.

Sáu lăm thành theo về chính nghĩa

Dân suy tôn hoàng đế Lĩnh Nam

Vẹn nghĩa nước, thắm tình làng

Ban chầu văn võ hai hàng uy nghi.

Sức mạnh cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng lan tỏa khắp vùng Giao Chỉ, Cửu Chân và Hợp Phố, tạo thành một phong trào yêu nước mạnh mẽ. Khi cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi, Trưng Trắc được muôn dân suy tôn Nữ Vương và đặt tên nước là Lĩnh Nam, kinh đô đóng tại Mê Linh, nơi hiện nay trở thành Đền thờ Hai Bà Trưng. 

Ở phương diện văn hóa, nước ta xuất phát từ nền sản xuất nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng âm dương cân xứng nên không mang tư tưởng “trọng nam khinh nữ” như phương Bắc. Nhiều câu tục ngữ, phong dao còn lưu lại trong đời sống dân gian là minh chứng rõ rệt cho thấy vai trò quan trọng của người nữ trong gia đình và xã hội, như câu “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, “lệnh ông không bằng cồng bà”, hay “phúc đức tại mẫu”. Sự thật này xé toạc luận điểm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” mà giới thống trị Trung Hoa cố cài cắm vào văn hóa Việt Nam.

Lại thêm, ở Giao Chỉ lúc bấy giờ di tích của chế độ thị tộc vẫn rõ nét, địa vị của đàn bà con gái còn cao, nên không những hai chị em bà Trưng cầm quân xướng nghĩa mà trong số người hưởng ứng, phụ nữ cũng chiếm đông đảo như bà Nát Bàn, bà Đào Nương, bà Lê Chân, bà Lê Thị Hoa… sau đều được suy tôn công chúa. Nhiều gia đình cả mẹ con, anh em cũng đứng lên quật khởi dưới ngọn cờ Trưng Vương khởi nghĩa: ba mẹ con bà Man Thiện, năm mẹ con bà Lê Thị Hoa (Thanh Hóa), vợ chồng Phương Dung - Đào Kỳ (Hà Nội), hai chị em Nguyệt Thai - Nguyệt Độ (Nam Hà), ba anh em họ Đào (Hà Nội). Sử gia Lê Văn Hưu nhận xét: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. Việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, đủ biết hình thế đất Việt ta có thể dựng được nghiệp bá vương” (Đại Việt sử ký toàn thư - Kỷ Trưng Nữ Vương, NXB Khoa học xã hội, 1983, trang 146).

Hán Quang Đế thất kinh, uất nghẹn

Vội triệu ngay Mã Viện trưng binh

Lại phong Đoàn Chí, Lưu Long

Ba quân thủy bộ núi sông chuyển dời.

Hán Quang Đế hay Hán Quang Vũ Đế là vị hoàng đế sáng lập triều đại Đông Hán. Ông trị vì từ năm 25 đến năm 57, là một trong những hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc. Dưới sự thất bại của tàn quân Tô Định, Hán Đế thất kinh hồn vía liền hạ chỉ triệu danh tướng Mã Viện chinh phạt phương Nam. Mã Viện vốn là đại tướng nhà Đông Hán đã lập nhiều chiến công giúp Hán Quang Vũ Đế thống nhất Trung Nguyên sau thời kỳ loạn Vương Mãng, sau được phong chức Phục Ba tướng quân thống suất binh tướng thủy bộ xuống đánh dẹp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Cuộc ra quân rầm rộ của Mã Viện có thể thấy sức đối địch ở phương Nam vốn không yếu, đến mức Hán Đế phải dùng đến binh tướng và đại quân dũng mãnh nhất của mình “ba quân thuỷ bộ núi sông chuyển dời”.

Binh năm vạn, thuyền hai nghìn chiếc

Chiến xa đen đặc cả vòm trời

Những toan nuốt sống, ăn tươi

Tấm thân bồ liễu, nụ cười trung trinh.

Ở đoạn thơ này, thi sĩ Phùng Văn Khai vẽ ra cảnh tượng kiêu hùng khi toán quân Mã Viện kéo xuống phương Nam “Binh năm vạn, thuyền hai nghìn chiếc/ Chiếc xa đen đặc cả vòm trời”. Nhịp thơ 3/4/7 như gấp rút, hối hả muốn “nuốt sống, ăn tươi” cả đất trời phương Nam. 

Đối diện với đại quân lang sói là “tấm thân bồ liễu” với “nụ cười trung trinh”. Hai chữ “bồ liễu” được nhà thơ sử dụng hết sức đắt giá. Dù ở cương vị danh tướng oai nghi, nhưng thâm sâu trong tâm hồn Hai Bà vẫn giống như bao người phụ nữ khác tựa loài bồ liễu mềm yếu. Hình ảnh tương phản, một bên muốn “nuốt sống ăn tươi”, một bên với “nụ cười trung trinh” làm người ta không khỏi khắc khoải trước viễn cảnh đầy trắc trở và cam go. Hai chữ “bồ liễu” thể hiện sâu sắc bản chất mềm mại, nhạy cảm của phái nữ, nhưng cũng chính từ đây bật lên dũng khí phi thường khi đối diện với kẻ thù hung ác. Việc giữ vững “nụ cười trung trinh” dù đứng trước hiểm nguy tột cùng gợi lên cảm giác kính phục xen lẫn xót xa, khắc sâu thêm ý nghĩa về một cuộc chiến không chỉ vì lãnh thổ, mà còn vì nhân phẩm và lý tưởng con người. 

Sóng Động Đình kinh tâm Mã tướng

Lửa Đằng Giang rúng động Đoàn gia

Uy phong lẫm liệt vua bà

Bành voi chém tướng binh xa rụng rời.

Mã tướng bí xui quân trò bẩn

Bỏ áo quần lâm trận như điên

Than ôi! Đấng, đấng nam nhân

Lại dùng trò khỉ như quân vô loài.

Binh tướng Mã Viện, dù mang trong mình sức mạnh của quân đội nhà nghề cũng phải chịu thất bại thảm hại trước khí phách dũng cảm và tài trí của các nữ tướng như Phật Nguyệt, Thánh Thiên. Thậm chí đời sau vẫn còn lưu truyền câu ca: “Một trận Động Đình uy trấn Hán/ Tên còn trong sử sức phù Trưng”, như một minh chứng cho hùng khí của nghĩa quân. 

Khí thế cuộc khởi nghĩa hùng hồn đã dồn cánh quân Mã Viện vào thế trận điêu đứng. Hết đường tiến đánh, Mã Viện nhơ nhuốc dùng mưu hèn kế bẩn để dành chiến thắng. Theo nhà thơ, khi phát hiện binh tướng Hai Bà Trưng phần nhiều là thanh nữ chưa chồng, Mã Viện gấp rút cho binh lính trút bỏ áo quần khi lâm trận khiến họ thẹn mà bỏ chạy. Kế sách này bị người đời sau phỉ báng, chê bai thậm tệ, không xứng bậc nam nhi quân tử và cũng là một trong những nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Trưng Vương.

Nhị Vương phải lấy lui làm tiến

Đưa quân về Lãng Bạc, Mê Linh

Biết không giữ được trị bình

Bèn đem thân ngọc gieo mình Hát Giang.

Sau nhiều cuộc lui binh trước thế giặc rất mạnh, để tránh bị rơi vào tay binh tướng Mã Viện, Hai Bà đem số tàn quân thưa thớt chạy đến Hát Giang, thuộc làng Hát Môn, chỗ sông Đáy nhập vào Hồng Hà. Để khỏi bị Mã Viện bắt sống, ngày mồng 6 tháng 3 năm Quý Mão (năm 43) (Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Quyển I, Trung tâm học liệu xuất bản, 1971, trang 40), hai chị em Trưng Vương cùng nhảy xuống sông trầm mình tại đây. Cuộc đời Hai Bà làm rạng rỡ giống nòi, làm phấn khởi tinh thần nhân dân và làm điểm tựa cho tâm thức dân tộc mỗi khi đất nước gặp nạn can qua nổi dậy.

Người trung liệt danh thơm vạn thuở

Bậc nữ lưu khí tiết đế vương

“Đồng trụ chiết hoàn, Giao Lĩnh trĩ

Cẩm Khê doanh trạc, Hát Giang trường”.

Tác giả Phùng Văn Khai không chỉ vẽ nên hình ảnh cao đẹp của hai bậc Nữ Vương kiên trung, liệt sĩ mà còn phản ánh lòng tôn vinh vĩnh cửu mà hai bà xứng đáng nhận được qua bao thế hệ: “Người trung liệt danh thơm vạn thuở/ Bậc nữ lưu khí tiết đế vương”. Dù mang hơi thở thơ ca, nhưng tác phẩm này được viết ra từ những dòng sử liệu khách quan, đủ sức để trở thành một bài diễn văn ca ngợi và khẳng định công lao trời biển của Hai Bà. Lời thơ không chỉ tôn vinh giá trị về lòng yêu nước và khí tiết quật cường mà còn khuyến khích thế hệ hôm nay gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp đó.

Trưng Nữ Vương - Từ lịch sử đến thơ ca - 2

Nhà văn Phùng Văn Khai cùng các nhà văn, nhà thơ tại Bảo tàng Minh Chuyên.

Đoạn kết Bài ca Trưng Nữ Vương, tác giả khéo léo gợi nhắc điển cố cột đồng Mã Viện. Theo ghi chép trong sách Việt Nam sử lược của tác giả Trần Trọng Kim: “Mã Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ về thuộc nhà Hán như cũ, rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành lũy đến đấy và biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận. Đem phủ trị về đóng ở Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao Chỉ mất nòi (Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim, Quyển I, Trung tâm học liệu xuất bản, 1971, trang 41).

Gần 2000 năm sau, trước giọng điệu khiêu khích từ Mã Viện, tác giả mượn đôi câu đối được đặt trang nghiêm tại Đền thờ Hai Bà Trưng tại Mê Linh (Hà Nội) làm câu trả lời: “Đồng trụ chiết hoàn, Giao Lĩnh trĩ/ Cẩm Khê doanh trạc, Hát Giang trường”. Nghĩa là Đồng Trụ của Mã Viện đã gãy tan, Giao Lĩnh vẫn hiên ngang sừng sững; Cẩm Khê nơi cửa sông Hát Giang vẫn rực sáng và chảy mãi muôn đời. Bằng cách này,  tác giả đã tạo nên sợi dây liên kết sâu sắc giữa quá khứ và hiện tại, nhấn mạnh rằng dù có trải qua bao thăng trầm thì tinh thần đấu tranh vì độc lập và tự do của dân tộc vẫn luôn vững bền.

Nhờ những chứng cứ sử liệu còn ghi lại, chúng tôi nhận thấy dù nằm trong phạm vi văn học nhưng tác giả Phùng Văn Khai vẫn hết mực trung thành với sự thật lịch sử. Điểm sáng nhất từ ngòi bút thi nhân là tài năng biến hóa con chữ, cấu trúc chặt chẽ, thể hiện kết cấu rõ ràng từng dòng chảy thời gian của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. 

Một dân tộc hùng cường là dân tộc có một sản nghiệp vĩ đại trong quá khứ, và sản nghiệp ấy phải luôn được truyền thừa và giàu có hơn qua các thế hệ. Dưới tâm hồn của một văn nhân, một thi sĩ giàu lòng cảm mến với dáng hình Tổ Quốc và những trang sử oai hùng của dân tộc. Có thể nói, nhà thơ Phùng Văn Khai đã thành công trong việc đón nhận và truyền đạt công lao vệ quốc thiêng liêng của nhị vị Trưng Vương qua Bài ca Trưng Nữ Vương.

Qua đây, chúng tôi hy vọng Bài ca Trưng Nữ Vương nói riêng và các tác phẩm thơ ca về lịch sử dân tộc cần được lan tỏa rộng rãi bằng nhiều hình thức diễn xướng dân gian như phổ nhạc, ngâm vịnh… nhằm đưa lịch sử dân tộc gần gũi hơn với những người đang tìm về nguồn cội.

Thái Hải Đăng

Tin liên quan

Tin mới nhất

Lịch thi đấu cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 mới nhất

Lịch thi đấu cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin bóng chuyền) Cúp bóng chuyền Hoa Lư 2026 quy tụ 12 đội mạnh của bóng chuyền Việt Nam, tranh tài từ 18/3 đến 23/3 tại Ninh Bình. Kết quả bốc thăm chia bảng hứa hẹn nhiều trận đấu hấp dẫn ngay vòng bảng.

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Indian Wells 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Indian Wells 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Indian Wells 2026 khởi tranh sôi động với loạt trận đơn nam hấp dẫn. Các hạt giống hàng đầu như Alcaraz, Sinner, Djokovic đồng loạt ra sân, tạo nên những diễn biến đáng chú ý tại ATP Masters 1000 đầu tiên mùa giải.

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Indian Wells 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Indian Wells 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Nội dung đơn nữ Indian Wells Open (BNP Paribas Open) diễn ra từ 5-16/3 tại Indian Wells Tennis Garden, quy tụ 96 tay vợt tranh tài ở hạng mục WTA 1000. 32 hạt giống được miễn vòng một, trong đó nhánh đấu hứa hẹn hấp dẫn với Aryna Sabalenka, Iga Swiatek, Coco Gauff và đương kim vô địch Mirra Andreeva, tạo nên cuộc đua nóng bỏng.