Nghị quyết 06-NQ/TW và chiến lược nâng tầm ngoại giao Việt Nam đến năm 2045
Bài viết tập trung phân tích những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Dưới góc nhìn của chuyên ngành Quan hệ quốc tế, bài viết làm rõ tư duy chiến lược mới trong việc nâng cao năng lực dự báo, định vị tự chủ chiến lược và phát huy vai trò tiên phong của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Qua đó, khẳng định đối ngoại và hội nhập quốc tế là động lực trực tiếp phục vụ mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
1. Đặt vấn đề
Bước vào năm 2026, cục diện chính trị - an ninh và kinh tế thế giới đang trải qua những biến chuyển mang tính cấu trúc, sâu sắc, nhanh chóng và tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định chưa từng có kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Dưới góc nhìn của lý luận Quan hệ quốc tế đương đại, thế giới đang bước vào một thời kỳ quá độ chuyển hướng sang đa cực, đa trung tâm, nơi sự cạnh tranh chiến lược gay gắt và toàn diện giữa các siêu cường không chỉ giới hạn ở không gian địa lý truyền thống mà đã mở rộng sang không gian mạng, không gian vũ trụ và đặc biệt là sự khốc liệt trong cuộc đua làm chủ công nghệ lõi (trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, năng lượng mới). Cùng với đó, xu hướng tái định hình, khu vực hóa và phân mảnh các chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc lẫn nhau đang làm thay đổi căn bản dòng chảy của địa kinh tế thế giới. Bên cạnh các thách thức an ninh truyền thống như xung đột vũ trang cục bộ và chạy đua vũ trang, các vấn đề an ninh phi truyền thống - điển hình là biến đổi khí hậu khắc nghiệt, an ninh nguồn nước, an ninh mạng và rủi ro từ sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) - đang đặt ra yêu cầu bức thiết về quản trị toàn cầu. Trong bối cảnh sự cọ xát chiến lược giữa các nước lớn ngày càng tạo ra nhiều “đứt gãy” và thu hẹp không gian trung lập, các quốc gia tầm trung đứng trước sức ép to lớn buộc phải cập nhật và nâng tầm tư duy đối ngoại nhằm bảo vệ tối đa không gian sinh tồn và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Đối với Việt Nam, sau 40 năm kiên định thực hiện công cuộc Đổi mới (1986 - 2026), thế và lực của đất nước đã có bước phát triển vượt bậc, đưa quốc gia vươn lên trở thành một nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng và là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu. Sự phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam là một quá trình biện chứng, không ngừng được bồi đắp và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội. Nếu như Đại hội XII (2016) đánh dấu chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr. 153), thì đến Đại hội XIII (2021), Đảng ta đã nâng tầm tư duy với định hướng “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 162). Đặc biệt, bản sắc “Ngoại giao cây tre Việt Nam” với gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển đã trở thành một di sản lý luận và thực tiễn vô giá, giúp đất nước giữ vững thế cân bằng chiến lược. Kế thừa những nền tảng đó, bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV (2026), Đảng ta tiếp tục khẳng định đối ngoại không chỉ là mặt trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, mà phải trở thành một động lực nội sinh trực tiếp tạo ra các xung lực mới cho tăng trưởng, phục vụ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Nhằm thể chế hóa và cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV vào thực tiễn quản trị quốc gia, ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai thực hiện đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Nhìn từ góc độ của khoa học Chính sách đối ngoại, Nghị quyết số 06-NQ/TW không chỉ là một văn bản chỉ đạo chính trị mang tính thường kỳ, mà thực sự là một văn kiện mang tính bước ngoặt, một bản tuyên ngôn chiến lược về hội nhập của Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Nghị quyết này một mặt kế thừa truyền thống ngoại giao hòa hiếu, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; mặt khác, chính thức định hình một chiến lược ngoại giao chủ động kiến tạo, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và phát huy vị thế tiên phong của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương. Mặc dù đường lối đã rõ ràng, nhưng việc chuyển hóa một Nghị quyết chiến lược thành các chính sách đối ngoại, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa cụ thể đòi hỏi phải có sự soi đường của lý luận. Nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách của giới nghiên cứu quan hệ quốc tế, chính trị học và quản lý nhà nước hiện nay là phải giải phẫu sâu sắc, làm rõ nội hàm, những điểm mới đột phá của Nghị quyết 06-NQ/TW. Qua đó, bài viết này hướng tới việc cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng, phân tích các giải pháp mang tính hệ thống nhằm kiến tạo một nền ngoại giao thông minh, nhạy bén; đưa công tác đối ngoại thực sự phục vụ trực tiếp, hiệu quả hơn cho công cuộc phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, hướng tới mục tiêu chiến lược năm 2030 và tầm nhìn 2045.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
2. Nâng cao năng lực dự báo và bảo đảm tự chủ chiến lược trong môi trường biến động
Dưới góc nhìn của lý luận Quan hệ quốc tế và phân tích Chính sách đối ngoại, một trong những điểm nhấn cốt lõi, mang tính đột phá về tư duy của Nghị quyết số 06-NQ/TW (ngày 19/5/2026) chính là yêu cầu cấp bách về việc nâng cao năng lực nghiên cứu, tham mưu và dự báo chiến lược. Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hệ thống quốc tế đang vận hành trong một môi trường VUCA (biến động, không chắc chắn, phức tạp và mơ hồ) với cường độ khốc liệt. Các điểm nóng xung đột địa chính trị không ngừng leo thang, sự đứt gãy của chuỗi cung ứng công nghệ bán dẫn, cùng với các rủi ro an ninh phi truyền thống đã làm suy yếu các thiết chế đa phương truyền thống. Trong bối cảnh đó, nền ngoại giao Việt Nam tuyệt đối không thể chỉ dừng lại ở tâm thế “phản ứng thụ động” trước các sự kiện đã rồi, mà bắt buộc phải chuyển dịch mạnh mẽ sang “tâm thế chủ động kiến tạo” môi trường an ninh và phát triển.
2.1. Đổi mới tư duy tham mưu chiến lược và thiết lập kịch bản đa chiều
Nghị quyết số 06-NQ/TW đòi hỏi bộ máy đối ngoại phải trải qua một cuộc cách mạng về phương pháp luận nghiên cứu và tham mưu. Tư duy tham mưu chiến lược hiện đại yêu cầu các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại không chỉ dự báo được các xu hướng lớn mà còn phải nhận diện được các “thiên nga đen” - những sự kiện xác suất thấp nhưng mang tính hủy diệt cao. Bộ máy đối ngoại được yêu cầu phải có khả năng tham mưu nhanh, chính xác, hành động chủ động, linh hoạt trước những chuyển biến phức tạp của tình hình thế giới.
Để hiện thực hóa điều này, Văn kiện Đại hội XIV đã tiếp tục phát triển luận điểm của Đại hội XIII, nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, Tập 1, tr. 162), nhưng ở một mức độ hội nhập sâu sắc hơn về mặt hệ thống. Sự “toàn diện và hiện đại” này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn mang tính hữu cơ giữa ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Nếu như đối ngoại Đảng đóng vai trò định hướng tư tưởng và củng cố tin cậy chính trị chiến lược, ngoại giao Nhà nước thực thi các cam kết pháp lý và bảo vệ lợi ích quốc gia trên các diễn đàn chính thức, thì đối ngoại nhân dân lại là “sức mạnh mềm” tạo nền tảng xã hội vững chắc. Sự phối hợp đa trụ cột này tạo ra một mạng lưới thông tin tình báo đối ngoại đa diện, giúp Đảng và Nhà nước thiết lập các kịch bản ứng phó đa chiều (multi-scenario planning). Cơ chế này đã được tái khẳng định trong Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 09/01/2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII (Bộ Chính trị, 2023), và nay được Nghị quyết 06-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2026) cụ thể hóa thành các chỉ tiêu đo lường năng lực phản ứng nhanh của hệ thống cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Nhờ đó, Việt Nam có thể linh hoạt chuyển đổi kịch bản đối ngoại, hóa giải các rủi ro từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc lợi ích cốt lõi của quốc gia ngay trong những thời khắc hệ thống quốc tế bị chao đảo mạnh nhất.
2.2. Củng cố tự chủ chiến lược và nghệ thuật “cân bằng động”
Trong khoa học Quan hệ quốc tế, “tự chủ chiến lược” (strategic autonomy) của một quốc gia tầm trung không đồng nghĩa với chủ nghĩa biệt lập (isolationism) hay tự cấp tự túc khép kín. Việc kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ ngoại giao hoàn toàn không mâu thuẫn với tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Thậm chí, theo tinh thần Nghị quyết 06-NQ/TW, tự chủ chiến lược chính là khả năng bảo vệ tính độc lập trong việc ra quyết định quốc gia ngay giữa mạng lưới phụ thuộc lẫn nhau phức tạp của kinh tế toàn cầu.
Trước áp lực chọn bên từ sự cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các siêu cường, tự chủ chiến lược của Việt Nam được biểu hiện qua năng lực duy trì thế “cân bằng động” (dynamic balancing). Kế thừa triết lý “ngoại giao cây tre Việt Nam” với “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, Việt Nam kiên định nguyên tắc: “không chọn bên mà chọn lẽ phải, chọn sự công bằng, công lý và lợi ích quốc gia - dân tộc” dựa trên nền tảng của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). “Gốc vững” chính là nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là lợi ích quốc gia tối thượng không thể nhượng bộ; “cành uyển chuyển” là sách lược linh hoạt, khôn khéo trong việc xử lý các mối quan hệ song phương và đa phương.
Bằng cách thiết lập mạng lưới Đối tác chiến lược toàn diện, Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả các nước lớn và các trung tâm quyền lực trên thế giới, Việt Nam đã kiến tạo nên một cấu trúc an ninh “đan xen lợi ích” (interlocking interests). Cấu trúc này không chỉ ngăn chặn các nỗ lực cô lập, mà còn tạo ra không gian đệm để Việt Nam tối ưu hóa vị thế địa chính trị, địa kinh tế của mình. Thêm vào đó, Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã chỉ rõ, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ nằm ở sức mạnh quân sự mà còn ở “thế trận lòng dân” và “thế trận ngoại giao” (Ban Chấp hành Trung ương, 2023). Do vậy, việc củng cố tự chủ chiến lược theo Nghị quyết 06-NQ/TW chính là việc sử dụng công cụ ngoại giao để gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo đảm Việt Nam không bị lôi kéo vào các khối liên minh quân sự, không cho phép nước ngoài đặt căn cứ quân sự, nhưng lại hội nhập sâu bậc nhất vào các chuỗi cung ứng công nghệ và dòng vốn toàn cầu. Đây chính là nghệ thuật quản trị rủi ro chiến lược xuất sắc, khẳng định vị thế của một Việt Nam bản lĩnh, tự tin vươn mình tiến tới mục tiêu cường quốc tầm trung, thu nhập cao vào năm 2045.
3. Đối ngoại phục vụ trực tiếp cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quốc gia
Dưới góc nhìn địa kinh tế và phân tích chính sách đối ngoại hiện đại, Nghị quyết số 06-NQ/TW (ngày 19/5/2026) của Bộ Chính trị đã xác lập một hệ hình tư duy hoàn toàn mới về vai trò của công tác đối ngoại trong cấu trúc phát triển quốc gia. Nếu như ở các giai đoạn lịch sử trước đây, nhiệm vụ hàng đầu của ngoại giao là “tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” để đất nước tập trung kiến thiết, thì bước sang kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra đã có bước nhảy vọt về chất. Ngoại giao không còn đóng vai trò đơn thuần là “tấm lá chắn” phòng ngự bên ngoài, mà bắt buộc phải trở thành một “động lực nội sinh” trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất, gia tăng sức mạnh công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi của quốc gia trên trường quốc tế. Tư duy này là sự tiếp nối, nâng tầm quan điểm của Đại hội XIII về việc “huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, Tập 1, tr. 163) và được nâng lên thành một định hướng chiến lược có tính hành động cao tại Văn kiện Đại hội XIV (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
3.1. Đột phá từ Ngoại giao kinh tế và Ngoại giao khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên số
Để biến đối ngoại thành động lực phát triển trực tiếp, Nghị quyết 06-NQ/TW đòi hỏi sự chuyển dịch toàn diện từ “ngoại giao giao thiệp” sang “ngoại giao kết quả”, trong đó Ngoại giao kinh tế được xác định là một nhiệm vụ cơ bản, trung tâm. Bám sát tinh thần Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 10/8/2022 của Ban Bí thư về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030 (Ban Bí thư, 2022), mọi hoạt động đối ngoại của các ngành, các cấp và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài giờ đây phải được đo lường, lượng hóa bằng các kết quả thực chất: giá trị vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao được thu hút, số lượng thị trường xuất khẩu mới được mở rộng, và khối lượng nguồn lực tài chính xanh, công nghệ xanh được huy động cho quốc gia.
Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra với tốc độ phi mã, Nghị quyết 06-NQ/TW lần đầu tiên đặt “Ngoại giao khoa học - công nghệ” ở vị trí đột phá hàng đầu của hạ tầng đối ngoại. Điều này hoàn toàn tương thích và kết nối chặt chẽ với Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Bộ Chính trị, 2024). Công tác đối ngoại được giao sứ mệnh làm “cầu nối tiên phong” để Việt Nam đi tắt đón đầu, nhanh chóng bắt nhịp và làm chủ các xu hướng công nghệ lõi của thế giới. Mạng lưới ngoại giao phải chủ động tiếp cận, đàm phán và thiết lập các mối quan hệ hợp tác chiến lược với các tập đoàn công nghệ toàn cầu, các trung tâm nghiên cứu hàng đầu trong các lĩnh vực sinh tử như: công nghệ bán dẫn (semiconductors), trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo và vật liệu mới. Ngoại giao khoa học - công nghệ không chỉ dừng lại ở việc “tranh thủ chuyển giao công nghệ”, mà sâu xa hơn là thu hút dòng vốn trí tuệ của mạng lưới chuyên gia, trí thức kiều bào và các tập đoàn đa quốc gia về Việt Nam, hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo đạt chuẩn quốc tế ngay trong nước.
3.2. Tái định vị quốc gia trong cấu trúc chuỗi cung ứng và mạng lưới sản xuất toàn cầu
Trước xu hướng phân mảnh kinh tế và đứt gãy các chuỗi cung ứng truyền thống do cạnh tranh địa chính trị, Nghị quyết số 06-NQ/TW giao cho ngành Ngoại giao một sứ mệnh lịch sử: tái định vị nâng tầm vị thế quốc gia. Việt Nam không thể tiếp tục đóng vai trò là một điểm đến gia công lao động giá rẻ hay tham gia thụ động ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Thay vào đó, ngoại giao phải là công cụ sắc bén giúp Việt Nam vươn lên trở thành một “mắt xích quan trọng, an toàn và không thể thay thế” (indispensable hub) trong mạng lưới sản xuất và cung ứng chiến lược của khu vực và thế giới.
Để thực hiện sứ mệnh này, chính sách đối ngoại của Việt Nam phát huy tối đa lợi thế từ hệ thống 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực, đồng thời tích cực đàm phán, nâng cấp các FTA thế hệ mới mang tính bứt phá. Thông qua các cơ chế hợp tác song phương cấp cao và các khuôn khổ đa phương như CPTPP, EVFTA, RCEP, ngoại giao Việt Nam đã chủ động lồng ghép các cam kết về tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG), chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) để biến các rào cản kỹ thuật thành cơ hội bứt phá. Cùng với việc triển khai Nghị quyết số 81/2023/QH15 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia (Quốc hội, 2023), ngành Ngoại giao đã phối hợp liên ngành để quảng bá các hành lang kinh tế, các khu kinh tế tự do và hệ thống hạ tầng cảng biển, hàng không hiện đại của Việt Nam tới các nhà đầu tư chiến lược. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế đã giúp Việt Nam xây dựng “lòng tin chiến lược về tính an toàn của chuỗi cung ứng”, biến Việt Nam thành điểm đến ưu tiên hàng đầu trong chiến lược “China Plus One” (Trung Quốc cộng một) và xu hướng dịch chuyển dòng vốn toàn cầu. Đây chính là bệ phóng kinh tế vững chắc, tạo ra nguồn lực vật chất dồi dào để đưa đất nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
4. Làm sâu sắc mạng lưới đối tác và nâng tầm ngoại giao đa phương trong cấu trúc an ninh toàn cầu
Từ lăng kính lý thuyết về mạng lưới quyền lực (network power) trong Quan hệ quốc tế, uy tín và vị thế của một quốc gia tầm trung không chỉ được đo lường bằng sức mạnh nội sinh vật chất, mà còn phụ thuộc sâu sắc vào cấu trúc và chất lượng của các mối quan hệ mà quốc gia đó kiến tạo nên. Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đến năm 2045, Nghị quyết 06-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2026) đã định rõ sự cần thiết mang tính sinh tử của việc củng cố tin cậy chính trị (political trust), không ngừng mở rộng biên độ và làm sâu sắc hơn nữa về chất lượng quan hệ đối tác với các nước láng giềng, các cường quốc toàn cầu và các đối tác tầm trung quan trọng. Đây là hạt nhân của triết lý “thêm bạn, bớt thù”, lấy hợp tác làm công cụ hóa giải xung đột.
4.1. Định vị chiến lược và tối ưu hóa quan hệ với các đối tác then chốt
Trên bình diện đối ngoại song phương, thực tiễn triển khai đường lối đối ngoại từ sau Đại hội XIII đến nay đã chứng minh sức sống mãnh liệt của nền ngoại giao Việt Nam khi liên tiếp thiết lập và nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện với các cường quốc hàng đầu thế giới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Tuy nhiên, Nghị quyết 06-NQ/TW yêu cầu giai đoạn tới không chỉ dừng lại ở mặt “lượng” (số lượng các khung khổ đối tác) mà phải tạo ra sự đột phá về “chất”.
Việt Nam cần tiếp tục duy trì đà phát triển tốt đẹp, nhưng phải biết cách “chiết xuất lợi ích” và làm sâu sắc thêm nội hàm hợp tác thực chất trong các khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện và Đối tác chiến lược. Theo định hướng này, sự “tin cậy chính trị” ở cấp độ cao nhất không chỉ là những tuyên bố ngoại giao, mà phải được hiện thực hóa, trở thành bệ đỡ vững chắc để tháo gỡ các điểm nghẽn, các rào cản kỹ thuật trong thương mại, đầu tư. Hơn thế nữa, tin cậy chính trị phải là chất xúc tác để thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác về an ninh - quốc phòng, chia sẻ công nghệ quân sự lưỡng dụng, hợp tác an ninh mạng và tình báo chiến lược, nhằm gia tăng năng lực tự vệ của quốc gia theo tinh thần “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đề ra (Ban Chấp hành Trung ương, 2023). Đối với các nước láng giềng, Việt Nam tiếp tục ưu tiên củng cố mối quan hệ truyền thống hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, kiên quyết giải quyết các bất đồng (đặc biệt là vấn đề chủ quyền trên Biển Đông) bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982).
4.2. Khẳng định dấu ấn ngoại giao đa phương và năng lực kiến tạo luật chơi
Bên cạnh đối ngoại song phương, ngoại giao đa phương được Nghị quyết 06-NQ/TW xác định là mặt trận mũi nhọn để Việt Nam “nâng tầm vị thế”, chuyển mình từ vị thế tham gia thụ động sang tâm thế chủ động đóng góp, kiến tạo và dẫn dắt. Năm 2026 đóng vai trò là một giao điểm lịch sử, đánh dấu những cột mốc quan trọng như kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan (1976 - 2026) và 59 năm thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Dưới tinh thần của Nghị quyết 06-NQ/TW, Việt Nam kiên định nguyên tắc ASEAN luôn là ưu tiên chiến lược trong chính sách đối ngoại. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu Việt Nam phải tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong việc củng cố sự đoàn kết, thống nhất nội khối và vai trò trung tâm (centrality) của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Bằng kinh nghiệm và uy tín của mình, Việt Nam tích cực tham gia định hình các khuôn khổ hợp tác kinh tế, an ninh mới trong khuôn khổ ASEAN, góp phần biến khu vực này thành tâm điểm tăng trưởng của toàn cầu.
Vượt ra khỏi không gian khu vực, ở tầm vóc toàn cầu, Nghị quyết 06-NQ/TW chỉ rõ nhiệm vụ của ngoại giao Việt Nam là phải tham gia sâu hơn vào quá trình “kiến tạo luật chơi” tại các cơ chế đa phương của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các diễn đàn quốc tế khác. Kế thừa tinh thần Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08/8/2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 (Ban Bí thư, 2018), Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng đóng góp trí tuệ và nguồn lực (thông qua hoạt động gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo) để giải quyết các thách thức toàn cầu (biến đổi khí hậu, an ninh mạng, phòng chống dịch bệnh), qua đó củng cố vững chắc “quyền lực mềm” của quốc gia.
5. Kết luận
Nhìn lại tiến trình phát triển tư duy đối ngoại của Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị không chỉ đơn thuần là một văn kiện chỉ đạo điều hành, mà thực sự là một bản tuyên ngôn chiến lược mang tính thời đại. Bản tuyên ngôn này phản ánh độ chín muồi, sự sắc bén và tầm nhìn vượt thời gian trong tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam tại thời điểm bước vào kỷ nguyên phát triển mới của nhiệm kỳ Đại hội XIV.
Bằng việc xác lập và gắn kết chặt chẽ ba trụ cột mang tính hữu cơ: (1) Nâng cao năng lực dự báo và tự chủ chiến lược, (2) Đưa ngoại giao phục vụ trực tiếp cho mục tiêu kiến tạo phát triển kinh tế - công nghệ, và (3) Hội nhập đa phương toàn diện để nâng tầm vị thế, Nghị quyết đã cung cấp một kim chỉ nam sắc bén, định vị rõ ràng lộ trình cho toàn bộ mặt trận đối ngoại quốc gia. Việc quán triệt sâu sắc và tổ chức thực thi thành công, quyết liệt Nghị quyết này không chỉ là phương thức tối ưu giúp con tàu Việt Nam vững vàng vượt qua những cơn sóng cả, những “cú sốc” địa chính trị khốc liệt của hệ thống quốc tế hiện tại, mà còn là bệ phóng vững chắc để liên tục gia tăng quyền lực mềm, nâng tầm uy tín và vị thế quốc gia. Trong kỷ nguyên mới, một nền ngoại giao mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”, được hiện đại hóa và mài dũa sắc bén, chắc chắn sẽ là xung lực sống còn, đóng góp trực tiếp và quyết định vào mục tiêu lịch sử: đưa Việt Nam bứt phá trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao, phồn vinh và hạnh phúc vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước (năm 2045).
Tài liệu tham khảo
Ban Bí thư. (2018). Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 08/08/2018 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Bí thư. (2022). Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 10/08/2022 của Ban Bí thư về công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển đất nước đến năm 2030. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương. (2023). Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2023). Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 09/01/2023 của Bộ Chính trị về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/05/2026 về triển khai thực hiện đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1, Tập 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội. (2023). Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
TS. TRẦN THỊ THANH TÂM
LÊ HÙNG
Học viện Chính trị khu vực I
Theo lsvn.vn
Bình luận