Bốn mươi năm văn học đổi mới (1986 - 2026) - Tiếp cận tổng quan từ phương diện văn hóa
Bài nói chuyện của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh trong cuộc gặp gỡ văn nghệ sỹ và các nhà hoạt động văn hóa (ngày 7/10/1987, tại Hà Nội) được xác định như là kim chỉ nam cho việc tiếp cận quá trình văn học đổi mới ở Việt Nam diễn ra trong vòng 40 năm qua (1986-2026).
Đổi mới văn học như một quy luật tất yếu nhìn từ văn hóa
Sau 40 năm, chúng ta đọc lại vẫn thấy như mới nguyên, nóng hổi thời sự vì nền tảng văn hóa của tri thức, sự nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn trong cách đặt vấn đề và kiến giải thuyết phục vì sự cần thiết, tất yếu đổi mới văn học nước nhà.
“Các đồng chí nói nhiều đến sự “cởi trói”. Có như vậy mới phát huy được hết khả năng trong lĩnh vực của các đồng chí. “Cởi trói” như thế nào? “Cởi trói” nói ở đây trước hết tôi nghĩ rằng Đảng phải cởi trói. Cởi trói trong lĩnh vực tổ chức, chính sách, trong các quy chế, chế độ. (...). Một mặt khác, tôi nghĩ, trong lĩnh vực của các đồng chí, không thể có ai khác hơn là các đồng chí phải tự làm. Hồi sáng, nhân có ý kiến đồng chí nào đó phát biểu, tôi có nói chen vào “Hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu” là trên ý nghĩa như vậy. Chính các đồng chí cũng đòi hỏi rằng trong lĩnh vực của các đồng chí, không được áp đặt mọi công việc như đặt con tàu chạy trên đường ray, các đồng chí cần được tự do lo liệu cho các công việc của mình. Nếu như trong lĩnh vực kinh tế hiện nay cần phát huy dân chủ cho người sản xuất thì ở lĩnh vực của các đồng chí, các đồng chí cũng cần phải làm chủ” (Theo Tạp chí Văn học, Viện Văn học, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, số 1, năm 1988).
Như vậy, hiểu một cách tổng quát, cốt lõi của đổi mới trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật là phục hồi, phát huy dân chủ nhằm khơi dậy năng lượng sáng tạo của văn nghệ sỹ và những người hoạt động văn hóa (được tính đến như lực lượng quản trị văn hóa cấp vĩ mô, quản lý nhà nước).

Một số tác phẩm văn học thời kỳ đổi mới
Tất nhiên, để có kết quả tốt đẹp thì đổi mới văn hóa, văn học nghệ thuật là một quá trình kép, liên hoàn giữa chủ thể sáng tạo trực tiếp và lãnh đạo, quản lý. Nhưng suy cho cùng thì “hãy tự cứu lấy mình trước khi trời cứu” mới thực sự quan trọng đối với một ngành sản xuất tinh thần đặc thù, ở đó tính chất cá thể hóa và cá tính sáng tạo nghệ thuật được đề lên hàng đầu.
Đổi mới văn học nhìn từ thế hệ nhà văn
Có thể nói không quá, chưa có một giai đoạn nào mà các thế hệ nhà văn lại song hành hùng hậu như trong khoảng thời gian 40 năm đổi mới văn học 1986-2026. Có đến 5 thế hệ tiếp nối theo quy luật “tre già măng mọc”, “gừng càng già càng cay”: Thế hệ tiền chiến vẫn “tham chiến” (Tô Hoài, Bùi Hiển…). Thế hệ chống Pháp, chống Mỹ đông đảo, giàu nội lực (Nguyễn Đình Thi, Hồ Phương, Phan Tứ, Quang Dũng, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Minh Huệ Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Dũng Hà, Thu Bồn, Phạm Ngọc Cảnh, Tô Hoàng, Hữu Thỉnh, Đào Thắng, Chu Lai, Vương Trọng, Anh Ngọc, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tân, Lê Minh Khuê, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Trần Văn Tuấn, Dạ Ngân, Đoàn Tuấn, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa…).
Thế hệ hậu chiến cùng nhịp đập với đổi mới văn học (Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Dạ Ngân, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Linh Khiếu, Sương Nguyệt Minh, Phạm Ngọc Tiến, Y Ban, Thùy Dương, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đắc Như, Lê Hoài Nam…).
Đặc biệt thế hệ f (bao gồm các thế hệ 7X, 8X, 9X), theo tinh thần “trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng” thi đua sáng tác. Thế hệ này đem lại sức sống, sinh khí mới cho văn học trong bối cảnh mới của thế giới phẳng và mở, trong xu thế hội nhập thế giới ngày càng sâu, rộng.
Mỗi thế hệ đều có sở trường sở đoản. “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau”, nhưng văn tài thời nào cũng có. Sáng tác văn học nghệ thuật là quá tình “cá thể hóa” sâu sắc, bền bỉ để đạt tới thành tựu. Vì thế, nhân tố nhà văn như khởi đầu quá trình sáng tạo ngày càng được quan tâm. Tuy nhiên, mỗi cá tính sáng tạo lại thuộc về/ nằm trong một: thế hệ nhà văn được mặc định bởi đặc thù không gian – thời gian sống và sáng tác, trong một “khí quyển văn hóa” do các điều kiện chính trị - lịch sử - xã hội quy định.
Đổi mới văn học - nhìn từ các thể loại
Nhìn từ văn xuôi
Nếu nói “Văn xuôi là mặt tiền của văn học đổi mới” có nghĩa đề cao vai trò của các thể loại văn xuôi trong đổi mới văn học vào những năm tám mươi của thế kỷ XX và vẫn giữ được địa vị độc tôn trong ba thập niên đầu văn học thế kỷ XXI.
Có thể xác quyết người đi tiên phong mở đường tinh anh cho công cuộc đổi mới văn học Việt Nam từ sau 1975 không ai khác ngoài Nguyễn Minh Châu - tác gia truyện ngắn tài danh trên văn đàn Việt Nam đương đại. Nhưng chính ông cũng là một tác giả tiểu thuyết có hạng trong thế hệ của mình. Tư tưởng về “hòa giải, hòa hợp dân tộc” bây giờ ta vẫn đôi khi nói, tuy nhiên còn có vẻ ngập ngừng thì ngay sau ngày thống nhất đất nước, nhà văn đã nói thuyết phục bằng hình tượng văn học qua tiểu thuyết Miền cháy (1977). Mãi 40 năm sau, Hội Nhà văn Việt Nam mới tổ chức sự kiện văn hóa - văn học “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc” (tại Hà Nội, 2017).
Chúng ta có thể tự hào nói về một nền truyện ngắn dân tộc thời hiện đại. Một nền truyện ngắn đang được kê cao bởi sự đóng góp của các cây bút tài danh. Truyện ngắn của các cây bút này đậm đà chất sống, khả năng gợi suy nghĩ, cảm xúc tích cực về các vấn đề đời sống, hướng tới thân phận con người với tinh thần không bỏ quên ai, nhất là những số phận khuất lấp, bên lề xã hội.
Trong thể loại ký, vào những năm 80 thế kỷ XX nổi lên tên tuổi của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lê Văn Ba, Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hoàng Minh Tường. Mỗi tác phẩm ký đều “ròng ròng sự sống”, đều đặt ra những vấn đề nhân sinh - đạo đức khẩn thiết như Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, Vua lốp của Trần Huy Quang, Người đàn bà quỳ của Lê Văn Ba... Có một dòng ký chan chứa trữ tình kiểu Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, theo nhận xét của Nguyễn Tuân là “rất nhiều ánh lửa”. So với các thể loại văn xuôi khác, gần đây ký có vẻ chững lại, có thể do sự bành trướng của internet và mạng xã hội (!?).
Nhưng khi nói, văn xuôi là mặt tiền của văn học đổi mới thì không thể không nói đến vai trò tiên phong của tiểu thuyết. Giới nghiên cứu, lý luận, phê bình vẫn thống nhất đánh giá Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu mới thực sự ghi dấu sự thống ngự của văn học đổi mới khúc xạ trong tiểu thuyết. Có thể coi là khúc dạo đầu cho sự chuyển đổi quan niệm văn học viết về chân dung tập thể đến chân dung cá thể (cá nhân - con người này, lạ mà quen).

Giới nghiên cứu, lý luận, phê bình vẫn thống nhất đánh giá Thời xa vắng (1986) của Lê Lựu mới thực sự ghi dấu sự thống ngự của văn học đổi mới khúc xạ trong tiểu thuyết
Nhân vật Giang Minh Sài trở thành hình tượng văn học trong (thuộc) phạm trù “cái bi kịch” trước đó (thời kỳ 1945-1975) vắng bóng trên văn đàn. Với tư cách người lính, Giang Minh Sài có một cuộc chiến khác - cuộc chiến giành và giữ hạnh phúc cá nhân. Nhưng anh ta đã thất bại. Sự thất bại không mang tính cá nhân mà mang tính thế hệ, tận hiến nhưng không có cơ may tận hưởng. Có thể nói, cùng với Thời xa vắng của Lê Lựu, gần như cùng thời là sự nối gót Đám cưới không có giấy giá thú (1988) của Ma Văn Kháng, Thiên sứ (1988) của Phạm Thị Hoài, Đi về nơi hoang dã (1988) của Nhật Tuấn, Trả giá (1988) của Triệu Xuân, Chim én bay (1988) của Nguyễn Trí Huân, Ngược chiều cái chết (1989) của Trung Trung Đỉnh, Người đưa đường thọt chân (1990) của Bùi Việt Sỹ đầy chất men nồng đậm cường độ kích thích đổi mới văn học từ tiểu thuyết.
Vẫn là tiểu thuyết có khả năng dẫn dụ độc giả, gần nhất là Hương (2022) của Nguyễn Thụy Kha, Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (2023) của Nguyễn Một, Phù sa máu (2024) của Nguyễn Trọng Tân, Hai chồng (2025) của Hoàng Dự, Hồi sinh (2025) của Thùy Dương, Tấm thẻ bài (2025) của Từ Nguyên Tĩnh… Những cuốn tiểu thuyết có sức ám ảnh nghệ thuật mạnh mẽ khiến chúng ta tin tưởng hơn vào văn hóa đọc trong cuộc cạnh tranh với văn hóa nghe nhìn.
Nhìn lại Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1991 cùng trao cho ba tiểu thuyết Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường như là một “mùa bội thu” của đổi mới văn học, cũng là “mùa bội thu” của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Văn học đổi mới và tiểu thuyết thành công đã tạo được sự cộng hưởng lớn, văn học và đời sống, văn học và bạn đọc đã xích lại gần nhau, cố kết, liên thông như J.P. Sartre viết chí lý và thuyết phục: “Chỉ có nghệ thuật cho người khác và bởi người khác”.
Ba cuốn tiểu thuyết này đã tạo dư ba suốt mấy chục năm qua. Đó là một hiện tượng văn học xưa nay hiếm. Từ năm 1991 đến nay vẫn có giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt Nam trao cho tiểu thuyết nhưng không tạo nên ấn tượng và dư âm mạnh mẽ như vậy.
Từ 1998-2019, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức 5 cuộc thi tiểu thuyết. Theo thống kê sơ bộ, Ban tổ chức đã nhận khoảng 1000 tác phẩm (được in thành sách hoặc dạng bản thảo hoàn chỉnh). Thực tiễn ấy cho phép chúng ta tin vào khả năng “tiểu thuyết hóa văn học”, đặc quyền của một thể loại được coi là “ngành công nghiệp nặng” của một nền văn học phát triển bền vững.
Gần nhất, Thời báo Văn học nghệ thuật tổ chức Cuộc thi tiểu thuyết Thời báo Văn học nghệ thuật lần thứ nhất (2023-2025). Ban tổ chức đã nhận được gần 150 tác phẩm dự thi của hơn 130 tác giả. Đó là một con số biết nói. Một tín hiệu đáng mừng. Bởi tiểu thuyết là thể loại nòng cốt của văn học, thước đo “sức khỏe” của một nền văn học cường tráng. Tiểu thuyết, nói không quá, tạo nên “chân tủy” của văn học. Tiểu thuyết không chết, cũng không có cái chết của tác giả. Ít nhất nói riêng, ở Việt Nam hiện nay.
Nhìn từ thơ
Nếu nói “Văn xuôi là mặt tiền của văn học đổi mới” thì cũng có thể nói “Thơ là tiếng vọng của văn học đổi mới”. Thế hệ nhà thơ chống Mỹ gánh vác sứ mệnh đổi mới thơ bởi vì trong chiến tranh “Chúng tôi đã dàn hàng ngang gánh đất nước trên vai” (Bằng Việt), bởi vì “Không có sách chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh).
Cũng chính họ, dạo khúc đàn đầu trên đường đổi mới thơ. Thời hòa bình, không còn “đồng phục”, “đồng ca” trong thơ, Mỗi cây bút thơ là một cá tính sáng tạo, bản sắc không lặp lại. Bằng Việt và Hữu Thỉnh đều cố gắng “đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ, đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim” trong thơ. Cả hai đều trí tuệ và trữ tình tận trong máu huyết. Thanh Thảo và Nguyễn Trọng Tạo, đều trên đại lộ thi ca “đến hiện đại từ truyền thống”. Nguyễn Duy và Nguyễn Quang Thiều, bề ngoài có vẻ đối lập (một bên chân quê, một bên tân kỳ) nhưng sâu thẳm lại gần gũi ở “nhịp tâm hồn”, ở “tìm tòi tứ thơ”. Ý Nhi và Xuân Quỳnh, một trầm mặc, sâu thẳm từ cấu tứ đến biểu tượng thơ, một sôi nổi như “sóng”, phá cách và tìm tòi.
Vũ Quần Phương và Trúc Thông, một bên cứ như “một mình một ngựa”, bình tĩnh, khoan thai từng bước một đưa thơ đến với mọi người mọi nhà, một bên thì sôi sục, trăn trở, kiếm tìm ráo riết cái đẹp của thơ. Y Phương và Trần Quang Quý, một người từ chiến tranh trở về, người từ trên núi xuống đồng bằng, như là đại diện của văn hóa dân tộc Tày hòa nhịp với văn hóa Việt trong tầm vóc quốc gia, một người giống như người làm vườn (chữ) vĩnh cửu.
Trần Mạnh Hảo và Lưu Quang Vũ bề ngoài như mặt trời và mặt trăng. Thơ của mỗi thi sĩ đều tụng ca đất nước nhân dân bằng những cách thức khác nhau nhưng gặp nhau ở lòng biết ơn “đất nước hình tia chớp”, “Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi”. Phan Thị Thanh Nhàn và Lệ Thu đều cổ kính, cổ điển, đều bằng thơ làm sáng đẹp hơn tâm hồn Việt, đặc biệt là người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh, hòa bình, đổi mới và xây dựng.
Thơ đổi mới là tiếng gọi đàn, không ngẫu nhiên tập hợp cả một “dàn” cây bút thơ thời hậu chiến từ Bế Kiến Quốc, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Việt Chiến, Trần Anh Thái, Nguyễn Thành Phong, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Linh Khiếu, Nguyễn Bình Phương, Mai Văn Phấn, Đặng Huy Giang, Trương Nam Hương, Tuyết Nga, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thúy Quỳnh... Họ, mỗi người một vẻ mười phân gần vẹn mười.
Nói đến thơ đổi mới nhất thiết phải nói đến sự xuất của trường ca. Cần ghi nhận công lao đóng góp của các thi sĩ Thu Bồn (Badan khát, Campuchia hy vọng, Oran 76 ngọn, Người vắt sữa bầu trời), Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố, Trường ca biển, Trăng Tân Trào, Giao hưởng Điện Biên), Thanh Thảo (Những người đi tới biển, Những ngọn sóng mặt trời, Metrô), Nguyễn Đức Mậu (Trường ca Sư đoàn), Nguyễn Trọng Tạo (Con đường của những vì sao, Tình ca người lính, Biển mặn), Hoàng Trần Cương (Trầm tích, Long mạch), Trần Anh Thái (Mỗi loài hoa một mặt trời, Đổ bóng xuống mặt trời), Nguyễn Việt Chiến (Tổ quốc nhìn từ biển), Nguyễn Hữu Quý (Hạ thủy những giấc mơ), Phùng Trung Tập (Quê mẹ, Thần Nông chân đất), Mai Văn Phấn (Thời tái chế, Người cùng thời)... Trường ca, theo lý thuyết thể loại, là những tác phẩm dài hơi, những “biên niên sử bằng thơ”, hợp thời với những không gian - thời gian sống trong đó chứa đựng những cảm xúc, suy tư lớn về thời cuộc, con người.
Đổi mới văn học nhìn từ lý luận phê bình
Cách nói “Lý luận phê bình thiếu và yếu” hàm chứa một định kiến có tính cực đoan, hơn thế biểu hiện của tính quan liêu khi người phát ngôn đọc không thấu đáo một lĩnh vực dường như đi giữa đôi bờ khoa học và nghệ thuật. Cũng như cách nói “Phê bình định hướng sáng tác” lại nặng tính chất xã hội học đơn giản. Về bản chất sáng tạo, chỉ có đời sống mách bảo hay “định hướng” người nghệ sĩ ngôn từ nên viết cái gì và viết như thế nào. Ngoài ra không có một nhân tố nào mặc định được quá trình sáng tác của chủ thể sáng tạo.
Một cái nhìn khách quan, công bằng, viễn kiến sẽ cung cấp cho chúng ta cơ sở thực tiễn sát thực để đánh giá hiện trạng của lý luận phê bình 40 năm qua trong bối cảnh đổi mới văn học. Trước hết, đó là tinh thần dân chủ, cởi mở (“cởi trói”) thể hiện trong các chính sách văn hóa, văn học nghệ thuật của Đảng và Nhà nước. Những chân trời mới mở ra cho người làm công tác nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học. Ngoài việc tiếp thu tinh hoa truyền thống dân tộc, người làm công tác trong lĩnh vực này cũng đồng thời có điều kiện mở cửa, tiếp thu tinh hoa văn học thế giới, vận dụng sáng tạo trong tác nghiệp.
Tinh thần tiếp biến văn hóa một cách khoa học đã tạo điều kiện cho các phương pháp nghiên cứu hiện đại, tiên tiến có đất dụng võ. Phương pháp “Thi pháp học” vốn xuất xứ từ phương Tây đã được các nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu, Lê Đình Kỵ, Hoàng Ngọc Hiến, Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà vận dụng sáng tạo và có thành quả trong hướng nghiên cứu văn học trung đại, hiện đại cũng như phê bình văn học (tác gia và tác phẩm tiêu biểu Nguyễn Du và Truyện Kiều, thơ Tố Hữu), mở rộng giao diện đến thi pháp thể loại (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết).
Trong lĩnh vực nghiên cứu, lý luận, phê bình tinh thần tiếp nối thế hệ cũng thể hiện khá rõ nét. Hiện thời, đang trỗi dậy thế hệ f (bao gồm 7X, 8X), từng bước chiếm lĩnh văn đàn trên tư thế người trong cuộc, sống với văn chương cùng thời. Họ đa số cắm chốt ở các trường đại học, viện nghiên cứu, các báo và tạp chí văn học nghệ thuật lớn (Trung ương và địa phương) có uy tín. Họ dám tiếp cận những “hiểm địa văn chương”, sẵn sàng bảo vệ “cái khác” bằng các lập luận khoa học, tất nhiên không phải lúc nào cũng đã tuyệt đối thuyết phục tất cả độc giả. Trong nghệ thuật, dám chấp nhận những thể nghiệm có thể không/ chưa thành công, xét ra, là một thái độ dấn thân, lẽ thường tình.
Khát vọng ra biển lớn
Trên bản đồ văn học thế giới, vị thế của văn học Việt Nam hiện nay còn khiêm tốn. Ai đó nói rằng “Tiếng Việt cô đơn” không phải không có lý. Hiện chúng ta đang “nhập siêu văn học”. Giải Nobel văn học của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đang kích hoạt hơn 1000 nhà văn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Giấc mơ Nobel văn học mà văn sỹ Hộ trong truyện ngắn Đời thừa (1943) của Nam Cao từng ấp ủ, nung nấu đang hồi sinh. Chúng ta có đầy đủ lý do để hy vọng.
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đổi mới văn hóa, văn học nghệ thuật trong bối cảnh hiện nay cần phải vượt lên ở tầm mức mới có đóng góp thực tiễn vào văn minh nhân loại. Đổi mới văn học có tính liên tục xuyên văn hóa.
Bình luận