Nhà thơ, chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ

Nhiều người Việt Nam thuộc lòng hai câu thơ: “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”, mà nhiều người nghĩ đó là hai câu thơ cổ, nhưng thực ra đó là hai câu thơ trong bài thơ "Nhớ Bắc" của “thi tướng” Huỳnh Văn Nghệ.

Nhà thơ, chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ - 1

Nhà thơ, chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ

Huỳnh Văn Nghệ được nhiều người biết đến, không chỉ từ những thành tích cách mạng, và những trận đánh oai hùng, lừng lẫy một thời mà người ta biết đến ông một nhà thơ xuất hiện trong các cao trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Thơ ông là lời kêu gọi đấu tranh của những người cùng khổ ở nông thôn bị hai tầng áp bức bóc lột của giai cấp phong kiến địa chủ, quan lại thực dân và là tiếng kèn xung trận trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Đặc biệt có hai câu thơ mà nhiều người thuộc làu và trở thành cửa miệng mỗi khi nghĩ về cội nguồn Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, đất ngàn năm văn hiến: 

“Tử thuở mang gươm đi mở cõi,

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”

Nhưng cũng có bản ghi: 

“Từ thuở mang gươm đi mở nước

Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” 

Nhiều người vẫn ngỡ rằng đó là hai câu thơ cổ, mà không biết đó là hai câu thơ nổi tiếng trong bài thơ dài của nhà thơ chiến sỹ, vị tướng tài ba Huỳnh Văn Nghệ, người bắt đầu làm thơ từ năm 1935, ở tuổi 20 đầy nhiệt huyết.

Mở đầu bài thơ Huỳnh Văn Nghệ viết: 

“Ai về Bắc ta đi với,

Thăm lại non sông giống Lạc Hồng,

Từ độ mang gươm đi mở cõi,

Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

Theo Nhà xuất bản Đồng Nai, thì tác giả làm bài thơ này ở chiến khu D năm 1946. Nhưng trong một cuốn sổ tay, tác giả lại ghi: được sáng tác tại ga Sài Gòn năm 1940, với tiêu đề: Tiễn bạn về Bắc, về sau đổi thành Nhớ Bắc. Nhớ Bắc là một bài thơ viết theo thể hiện đại, nhưng mang nét cổ kính, gợi cho người đọc nhớ đến thể thơ Đường.

Huỳnh Văn Nghệ có nhiều bài mang phong vị thơ Đường qua cách dùng từ cổ như ở bài Xuân chiến khu (1945); Bức thư thành (1947)

Một sáng tác khác của Huỳnh Văn Nghệ được nhiều người nhắc đến là Bên bờ sông xanh, bài thơ tái hiện hình ảnh chiến sĩ - thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ và cũng là lời tuyên ngôn của ông về sứ mạng của mình: 

Tôi cũng biết nhớ thương, tơ tưởng

Nào chỉ là võ tướng hay thi nhân

Tôi là người lăn lóc trên đường trần

Không phân biệt lúc mài gươm, múa bút”

Ngay từ năm 1937, anh thanh niên Huỳnh Văn Nghệ đã có những vần thơ ngời ngời tình cảm và nói lên chí hướng: 

Đưa tay chỉ lên trời cao trong vắt

Hai ngôi sao trong hai chòm sao Nam, Bắc

... Muốn làm sao ta có sợi dây đàn 

Đem giăng thẳng nối Nam Bắc

(Trăng lên)

Khi phác họa lịch sử quê hương mình, ông viết:

“Có con sông cũng từ hướng Bắc

Vượt núi rừng ghềnh thác

Tràn vào Nam cuộn cả bóng mây cao”

Năm 1953, ông viết bài thơ Mẹ Nam, con Bắc, kể về tình mẫu tử sâu nặng của một bà mẹ miền Nam đã hành động dũng cảm, mưu trí để kẻ thù phải trả người con nuôi là anh lính miền Bắc.

Năm 1960, ông sáng tác bài Hình ảnh Bác Hồ trong lòng Nam Bộ, nhắc lại ký ức của nhà thơ về Bác Hồ trong kháng chiến chống thực dân Pháp, kể về một anh chiến sỹ bị thương đã lấy máu mình viết lên tường 5 chữ: Thành phố Hồ Chí Minh:

Nhớ ngày sau kháng chiến.

Giữa thành phố Sài Gòn

Một chiến sĩ bị thương.

Lấy máu mình đang chảy

Tô lên tường năm chữ

“Thành phố Hồ Chí Minh”

Rồi mới đành lòng tắt thở

Cuộc kháng chiến bắt đầu từ đó

Sử Việt Nam, thêm một trang đỏ anh hùng.

“Thành phố Hồ Chí Minh”

Một lời thề thiêng liêng

Khắc sâu bằng chữ đỏ

Trong lòng người Nam Bộ

Như máu thắm lòng tim

Những vần thơ trong bài Tiếng hát giữa rừng không chỉ tái hiện hiện thực chiến tranh khốc liệt mà còn khắc họa khí phách kiên cường của người chiến sĩ cách mạng:

“Trở lên yên ngựa đi từng bước

Cúi đầu nén nỗi đau thương

Nhưng lửa căm hờn

Bỗng dựng cao đầu ngựa dậy

Vang trời ngựa hí

Chí phục thù cháy bỏng tay cương”.

Thơ Huỳnh Văn Nghệ tả những gì ông nhìn thấy và những chuyện xảy ra xung quanh ông. Đó có thể là gia đình ông, mẹ ông mà cũng có thể là bà bán trầu cau quê ông: 

Mẹ ơi! Cảnh ấy dẫu trăm năm 

Một phút sau này con còn sống

Cảnh kia còn đất mãi trong lòng  con”.  

Hay: 

“Mồ hôi chảy quanh gò má rám

Bà bán cau bước mãi dưới mưa hè”.

Theo nhận định của Hoài Anh về Huỳnh Văn Nghệ: “Làm thơ giữa lúc đấu đội nón ni, mốt - xăng xanh đen, tay cầm cái xắc da mầu huyết dụ, lưng đeo khẩu súng ngắn, đi kiểm tra trận địa phục kích ở xóm Đền, xã Tân Hòa, hay khi một mình với hai bàn tay trắng đơn phương độc mã  vượt sông Đồng Nai, vượt hệ thống bao vây của giặc ở Biên Hòa...., vượt sông Lòng Tàu đến tận chiến khu Rừng Sác, hiểm trở xông vào sào huyệt của Bảy Viễn... để thuyết phục Bảy Viễn trở về với chính nghĩa, bất chấp họng súng của thủ hạ Bảy Viễn chỉ chờ lệnh là ghìm đạn đồng vào ngực ông. Ông làm thơ giữa lúc giặc dốc toàn lực san phẳng chiến khu D... Thế nhưng, những trận đánh bốc lửa vẫn diễn ra  giữa một chiến khu bên bờ sông Đồng Nai... Và những vần thơ của ông chan chứa tình yêu con sông, cánh rừng, vẫn được du kích, nhân dân và cả lính Páctidăng (pactidang), lính Cao Đài phản động bí mật truyền tay nhau đọc... Những vần thơ thép của ông đã được tôi trong lửa đạn, để ta có thể nói đến nhà thơ -  chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ, kiếm, bút song song”. 

Ông qua đời ngày 05/3/1977, tại thành phố Hồ Chí Minh. Thể theo nguyện vọng của ông trước khi mất, phần mộ của ông được an táng tại quê nhà, cạnh dòng sông Đồng Nai xanh thẳm đã tắm mát đời ông trong những ngày thơ ấu.

Và khi ra đi ông vô cùng thanh thản:

Gửi lại bạn mấy vần thơ trên cát

 Và giờ đây tôi qua bến lên đường”.

Đó là lời thơ khắc trên bia mộ ông.

Huỳnh Văn Nghệ được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, truy tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Nhiều người dân Nam Bộ yêu kính và trìu mến gọi ông là “Thi - tướng” Huỳnh Văn Nghệ. Tên tuổi ông được ghi trong danh sách Trí thức Sài Gòn - Gia Định, được đưa vào Từ điển Danh nhân Việt Nam, Từ điển Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh và được đặt tên cho một trường học ở Tân Uyên, vùng đất chiến khu D “gian lao mà anh dũng”.

Để tưởng nhớ công lao ông, Đảng bộ và chính quyền Bình Dương quyết định đặt tên  một đường phố ở Thành phố Thủ Dầu Một mang tên Huỳnh Văn Nghệ (nay thuộc phường Phú Lợi, TP Hồ Chí Minh) và một giải thưởng Văn học nghệ thuật 5 năm một lần của tỉnh Bình Dương (cũ) cũng mang tên ông: Giải thưởng Văn học nghệ thuật Huỳnh Văn Nghệ.

Nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ sinh ngày 02/1/1914, tại làng Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ Hạ, tỉnh Biên Hòa, hiện là xã Thường Tân, TP Hồ Chí Minh. Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân. Ông là người con thứ 7 nên gọi là Tám Nghệ. Thuở nhỏ ông học trường làng, lớn lên ông được gửi lên học ở Sài Gòn. Học xong bậc phổ thông tại trường Trung học Petrus Ký, ông đi làm ở Sở Hỏa xa.

Huỳnh Văn Nghệ sớm tham gia các hoạt động do Đảng lãnh đạo, và đó chính là bước ngoặt quyết định đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng cũng như sự nghiệp thơ ca của ông.

Sau ngày khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, khoác chiếc áo “khách chinh phu”, năm 1942, Tám Nghệ tạm biệt gia đình, tạm biệt quê nhà ông sang Bangkok - Thái Lan tìm đường hoạt động cách mạng trong phong trào Việt kiều yêu nước. Tại đây ông tổ chức ra tờ báo Hồn cố hương, kêu gọi Việt kiều hướng về Tổ quốc và ủng hộ cách mạng.

Năm 1944, Huỳnh Văn Nghệ trở lại Sài Gòn và năm 1945, ông cùng các đồng chí của mình tham gia lãnh đạo  nhân dân Sài Gòn - Gia Định đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi .

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Huỳnh Văn Nghệ trở về quê tham gia lãnh đạo, tổ chức nhân dân đánh Pháp. Nhân dân miền Đông Nam Bộ biết Huỳnh Văn Nghệ một chiến sỹ tài ba, dũng mãnh, một vị chỉ huy trưởng Khu VII - Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, chỉ huy sở đặt tại quê hương ông, cùng nhân dân miền Đông lập nên những chiến công hiển hách.

Sau Hiệp định Gèneve cùng đơn vị, Huỳnh Văn Nghệ tập kết ra Bắc, phụ trách Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu. Cuối năm 1959, theo yêu cầu nhiệm vụ, Huỳnh Văn Nghệ chuyển ngành ra Tổng cục Lâm nghiệp.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam ngày càng diễn ra ác liệt, Huỳnh Văn Nghệ trở về miền Nam. Tại đây ông lần lượt giữ các chức vụ: Trưởng ban căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Phó Bí thư Đảng ủy căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Phó ban Kinh tài Trung ương Cục miền Nam, Trưởng ban Lâm nghiệp Trung ương Cục miền Nam

Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông là Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp miền Nam, rồi Thứ trưởng Bộ Lâm nghiệp.

Trần Mạnh Thường

Tin liên quan

Tin mới nhất

Hình tượng người phụ nữ Nga trong chiến tranh vệ quốc qua thơ Isakovsky

Hình tượng người phụ nữ Nga trong chiến tranh vệ quốc qua thơ Isakovsky

Tên tuổi nhà thơ Nga Mikhail Isakovsky (1900 - 1973) ngay từ năm 1955 đã được bạn đọc Việt Nam biết đến, ông có một di sản hơn chục tập thơ viết về đất nước và con người Nga, trong đó có nhiều bài thơ ca ngợi hình tượng cao đẹp của người phụ nữ Nga ở hậu phương và ở chiến trường trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941 - 1945).