Chất thép trong thơ Đỗ Quảng
Đây là bài thứ hai tôi viết về thơ Đỗ Quảng. Bài trước nói về sự cảm nhận cõi lòng tác giả với điểm tựa: “Thơ hay cốt ở tấm lòng”. Nhưng còn nhiều điều cảm nhận khác, đặc biệt là tính chiến đấu qua những bài thơ nóng hổi hơi thở những ngày chúng ta đang sống.
Nhìn xuyên cả ba tập thơ đã xuất bản của Đỗ Quảng, nếu Thương lắm Sài Gòn ơi phần lớn ông viết về cuộc “chiến đấu” của người dân thành phố Hồ Chí Minh giành giật sự sống trong đại dịch Covid, tình người trong hiểm họa và những trăn trở, xót xa về sự mất mát, thì ở hai tập sau: Vui buồn tháng tư và Những lời nói thật, ngòi bút Đỗ Quảng ngời lên tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, cái phi lý, bất công. Trong thơ Đỗ Quảng có chất thép, chất thép ôm chứa trong đó hiện thực, một hiện thực nhiều khi rất nghiệt ngã, vô lý và vô nhân. Chất thép thể hiện quan niệm sống và thái độ không đồng lõa với thói đời giả dối, lọc lừa. Chất thép tỏ rõ trách nhiệm của người cầm bút với Tổ quốc và Nhân dân mình. Chất thép ở bản lĩnh thâm hậu, sự thông tuệ, trải đời của một tấm lòng thương đời, đau đời. Viết đến đây tôi nhớ câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi - Nhật ký trong tù).

Tác giả Đỗ Quảng
Thơ Đỗ Quảng ngời lên chất thép với tư thế dũng mãnh, quyết liệt của người lính xung trận.
Sự khác biệt và độc đáo của thơ Đỗ Quảng chính ở chỗ ông dám nói những điều xưa nay thơ thường lảng tránh. “Nhân vật” trong thơ ông, nếu có thể nói thế, từ vị nguyên thủ quốc gia, các quan chức có trọng trách lớn tới bạn bè, người lao động bình thường, nhiều khi không quen biết, cũng được ông dành cho sự tôn trọng, yêu thương. Song là sự yêu thương sòng phẳng, trắng đen rạch ròi. Hai điểm nhấn xuyên suốt tác phẩm, ông quan niệm ai cũng từ tinh cha huyết mẹ mà ra, có quyền được sống như một thực thể tự nhiên trên cõi đời này: “Vua chúa, tướng tài, người trồng lúa, đưa hàng, người bán thịt ngoài chợ đều cha mẹ sinh ra (…) Hãy để họ sống như cây cỏ, hoa lá, biết yêu biết ghét, sướng khổ vui buồn” (Vô đề 1). Và thứ hai, ai cũng phải tôn trọng pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách công bằng, không có ngoại lệ, cá biệt nào:“Sống trong đời/ Dù ai cũng phải thượng tôn pháp luật” (Nói vậy mà không sống vậy). Từ hai điểm tựa mang tính tuyên ngôn ấy, với trách nhiệm người cầm bút ông hướng thơ mình trở thành một vũ khí sắc bén:
“Danh dự là trên hết
Tiền bạc nhiều chết có mang được đi (…)
Tôi từng nghe mấy quan tham phỉnh dụ
Nơi đầu lưỡi rặt những điều cao đạo
Kỳ nhông đổi mầu, trò ảo thuật
Ăn tiền của dân, sân sau sân trước
Dùng quyền lực tham ô mấy con chữ
Vài từ thôi túi đút nghìn, vạn tỷ (…)
Còn viết sách răn dạy đời
Ô hay
Trời cao như có mắt
Sách vừa ra quầy thì người sa lưới
Tá hỏa một dây lộ mặt
Chuột to, chuột nhỏ, chuột bố, chuột mẹ”.
(Danh dự)
Ở bài trước tôi nói thơ Đỗ Quảng giống như một mũi lao tốc ký thời đại, một phóng sự văn chương về cõi nhân sinh. Ngẫm ngợi cho kỹ, đọc xong tĩnh lại để chiêm nghiệm thì thơ ông không chỉ phản ánh hiện thực như một hiện thực trần trụi. Chất thép ấy rọi ánh sáng vào những góc khuất, những khoảng tối, sau “bức màn” che mắt thế gian, vạch trần cái bản chất thật những trò dối trá của “những kẻ lẻo mép”, “những con sâu” đang đục khoét làm ruỗng lòng tin của con người vào cuộc sống:
“Đừng nhiều lời mấy vị quan bẻm mép (…)
Quên rồi sao, Cụ Hồ dạy
Một tấm gương hơn trăm bài diễn thuyết
Nhiều lời làm gì
Càng nói càng sai
Lộ bài dối trá
Người nghe xói cạn lòng tin”.
(Diễn thuyết)
Đỗ Quảng không phê phán chung chung. Ông phản ứng gay gắt trước thói vô trách nhiệm khi một vị lái xe đâm chết người rồi bỏ chạy, gọi đó là: “Thái độ hèn/ Trái tim vô cảm?/ Khí chất đàn ông chó gặm” (Nói vậy mà không sống vậy). Và sự sa đọa, ăn đút lót của những vị có chức có quyền mà tay nhúng chàm, không giữ được liêm sỉ:
“Chới với niềm tin
Mấy ông nghị sa lưới
Ăn của đút, nhận tiền vàng, tiền Mỹ
Chống lưng bọn xã hội đen.
Đêm nằm, nghe mọt kêu
Vân vi tự hỏi mình:
Đời nhiễu nhương
Đạo đức suy vi
Tin ai?”
(Vô đề 9)
“Chới với niềm tin” và “Tin ai?” là những câu hỏi lớn, là nỗi đau chung của người dân. Nhân dân một nắng hai sương luôn đặt niềm tin vào những người đại biểu của mình. Nhân dân không quay lưng với hiện tình đất nước. Nhưng trước một số tệ nạn và tiêu cực đến mức trầm kha, ai cũng “vân vi” trăn trở. Vậy thì thơ ấy, trách nhiệm ấy của người cầm bút đã thể hiện tinh thần chiến đấu rất cao trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực lãng phí do Đảng khởi xướng và tiến hành. Ông đặt câu hỏi:
“Đất nước hết chiến tranh từ lâu
Phong tướng nhiều làm gì?
Một Bộ tư lệnh biển
Hơn mười tướng dính tội
Tướng bị bắt nhốt giam
Tướng đưa ra khỏi Đảng
Tướng lột hết lon sao”.
(Câu hỏi khi ngồi xem tivi).
Con mắt của nhà thơ có một dải phổ rất rộng, rất sâu. Ông nhìn thấu đáo hầu hết mọi lĩnh vực xã hội. Đó là thế mạnh của một nhà báo giàu kinh nghiệm và lão luyện trong mảng phóng sự điều tra. Ông đưa cái mạnh đó vào thơ kết hợp với quyền năng văn chương giúp người đọc thẩm thấu tầng sâu bản chất của cái xấu, cái giả dối, lươn lẹo. Vài câu thôi mà nhận diện đúng đám tham nhũng:“Mấy gã quan tham/ Giống nhau ở cái mặt mốc/ Oai phong bề ngoài/Phủ lấp cái hèn/ dấu kín bên trong” (Hèn).

Tập thơ "Những lời nói thật" của Đỗ Quảng.
Đằng sau sự trực tính, đôi khi quyết liệt thường là một tâm hồn giàu có yêu thương, thậm chí rất yếu đuối. Nó như thuộc tính của người trải nhiều cay đắng. Ông thương những người lính trẻ ra chiến trường, không trở về:
“Tuổi thanh xuân một nụ hôn chưa biết
Yêu là gì, mùi đàn bà đắng ngọt chưa từng nếm trải (…)
Nửa thế kỷ rồi, nằm suối nằm rừng
Mẹ chờ con trôi dạt nơi đâu vẫn chưa tìm thấy”.
(Đêm tháng Năm viết bài thơ tưởng niệm)
Ông khóc trước đời thói xảo trá, trước sự bất công của luật pháp khi một cô giáo, lãnh đạo nhà trường 5 năm, chi sai nguyên tắc 45 triệu bạc mà bị xử tù đến 5 năm trời trong khi lãnh đạo ngành điện làm thất thoát cả nghìn tỷ mà vẫn vô can:
“Cay đắng một kiếp người
Thất thoát bốn lăm triệu (…)
Năm năm tù tòa tuyên
Quàng lên cổ cô giáo
Mấy nghìn tỷ làm lỗ
Lãnh đạo điện vẫn vô can
Hạ cánh vẫn an toàn
Luật pháp. Đời xảo trá con ơi”
(Tại sao bố khóc).
Về lý do cầm bút làm thơ, trong bài Tự bạch, Đỗ Quảng viết: “Tôi chỉ là nhà báo/ Chẳng phải nhà thơ/ Quỹ thời gian không còn nhiều/ Dùng thơ ghi lại chuyện đời nhớ quên”. Mượn thơ ghi lại đời mình, như ghi nhật ký, chép lại cuộc sống và hiện tình đất nước, nhưng “bức tranh thơ” ấy lại là bức tổng phổ với đủ các gam màu được dựng lên từ quan niệm rõ ràng: “Người làm thơ phải biết/ Trước hết có tấm lòng” (Tự bạch). Đó vừa là quan điểm sống, quan điểm sáng tác của ông. Trước hết phải là hiện thực, là sự thực, sau đó mới là văn chương. Có những bài thơ, đoạn thơ mà hàm nghĩa của nó vượt xa sự thức tỉnh, cảnh báo:
“Đất nước
Chiến tranh lùi xa
Chân lý, con đường đã chọn
Chông gai, rào cản, gian nan đi mãi chưa tới (…)
Bệnh trầm kha níu kéo vòng quay lịch sử
Tham ô, tham nhũng, lãng phí, hà lạm
Giặc nội xâm, những quan tham giấu mặt”.
(Những lời nói thật).
Ông trăn trở, suy nghĩ tỏ rõ thái độ rõ ràng trước bước chuyển động lớn của đất nước:
“Hội nghị 15 vừa họp
Đại hội Đảng tới rồi
Ai lãnh đạo điều hành đất nước hơn trăm triệu người?
Lo chi ông ơi.
Bốn ngàn năm lịch sử
Nước Việt mình lúc thịnh lúc suy
Anh hùng hào kiệt người tài thời nào chẳng có.
Ai cũng được
Phải là người tử tế
Lo cho dân cho nước
Biết trước biết sau
Đừng nói một đường làm một nẻo
Biết trọng danh dự
Tận hiến hy sinh”
(Đêm cuối năm trò chuyện một mình).
Và cả những điều thật gần gụi, giản dị, nhỏ bé quanh ta mà đâu mấy người biết. Một loài rau bình thường cũng hiển thị trong thơ ông cung cấp cho người đọc thêm hiểu biết về nguồn gốc của nó:
“Tam Đảo
Nửa vòng trái đất
Ai đưa su su từ Mỹ về trồng
Loài rau lạ thoạt đầu ai biết
Su su xanh lặng lẽ vươn mình (…)
Giàu nghèo suy tôn
Rau vương giả
Su su kỳ đài
Khách sạn vàng năm sao
Vua quan phủ chúa (…)
Cơm ngày tiệc cỗ
Món ăn sang nhất
(Su su).
Nhiều lần ông nhắc tới câu: “Tiền bạc nhiều chết có mang đi được” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để cảnh báo răn đe những ai có chức có quyền hãy sống đúng lương tâm trong sạch và trách nhiệm công dân của mình. Tôn vinh cái đẹp, sự liêm khiết là một cách khác nêu tấm gương cảnh tỉnh, qua nhân cách cao đẹp của cụ Trọng khi dặn lại vợ hiền:
“Chớ lấy ruộng đất của dân xây mộ tôi đấy nhé
Lúc sống quan to chọn nhà to ở
Khi chết chiếm đất xây lăng mộ hoành tráng làm chi
Đời người, bia miệng, sử sách tạc ghi
Con cháu sau này nguyền rủa bà ơi
Một việc thôi
Con chữ nào chứa nổi nhân cách, đạo đức, phẩm giá người con đất ngàn năm văn hiến Thủ đô”
(Lời cuối)
Đỗ Quảng không chỉ phê phán cái sai cái ác, cái lọc lừa, dối trá, ông nhiệt thành ủng hộ cái mới, chủ trương mới của Đảng, đưa đất nước vươn mình:
“Câu chữ bàn luận chi nhiều
Sắp xếp lại giang sơn
Hay chỉnh đốn hàng ngũ
Tinh gọn chính quyền phục vụ dân tốt hơn (…)
Tầm nhìn trăm năm tới
Bản đồ vẽ lại
Tên cũ mất đi
Tên mới ra đời
Tổ quốc nơi nào chẳng là quê hương”
(Câu chữ).
Nhà thơ cảm phục và cổ vũ những người lính trở về từ chiến trường mà tiêu biểu ở đây là hình ảnh những thương binh của “Tập đoàn thương binh nặng Hòa Bình” do Doanh nhân Nguyễn Hữu Đường đứng đầu. Họ đã góp một phần xương máu trong cuộc kháng chiến để giành lấy độc lập, thống nhất cho đất nước. Thoát chết trở về vẫn “Sức còn lại xin hiến dâng tất cả”. Với tinh thần:
“Danh dự người lính
Đạo đức kinh doanh (…)
Thương binh Hà Nội
Tổ hợp chín người
Nay thành lập Công ty
Ba nghìn lao động, thương binh, chiến binh và cả người có công, yếu thế
Cứ dấn thân tiếp tục cống hiến
Kỳ vĩ công trình để đẹp cho đời”.
(Nước mắt tử tù)
Cùng với âm hưởng ngợi ca, có một bài thơ dài Gửi người tôi yêu. Đỗ Quảng dành những lời có cánh để khen ngợi vị Tổng thống thứ 47 của nước Mỹ Donald Trump. Những câu thơ như bài ca hữu nghị ngân vọng
“Việt Nam nước tôi đang mùa sen nở
Cốm làng Vòng thơm cả bàn tay
Quanh xa, nửa trái đất
Gửi tặng những đóa sen, cốm non ngậm đòng
Và bài thơ ngợi ca chưa đủ
Donald Trump tuyệt vời
Chẳng giống ai, mà nhiều người yêu quý ngả mũ chào”.
Có lẽ Đỗ Quảng là nhà thơ Việt Nam duy nhất thể hiện tình cảm yêu mến bằng thơ với người đứng đầu nước Mỹ. Một cựu thù xưa, nay là bạn, là đối tác chiến lược toàn diện, vẫn thể hiện sự dũng cảm khai mở một “kênh” bắt tay hữu hảo trong văn chương. Nhà Lý luận phê bình Bùi Việt Thắng nói: “Phi Đỗ Quảng bất thành thơ về Trump ở Việt Nam”. Có lẽ vậy!
Cả một đời, một nghiệp gắn với một cơ quan, là báo Nhân dân. Tờ báo làm nên tên tuổi Đỗ Quảng. Nghề báo đã cho Đỗ Quảng vinh quang và hẳn cả những đắng cay, vết thương chữ nghĩa. Nhưng thế mới là đời. Sâu nặng lắm chứ, nghĩa tình lắm chứ. Vì thế Đỗ Quảng đã sống có trước có sau như một với cái nghĩa tình ấy. Ông tự nhủ mình:“Mai sau tái sinh ta lại chọn nghề này” (Nghề báo). Nhiều người lấy làm lạ, gần 90 tuổi đời, mặc dù thừa khả năng lo cho mình một căn nhà tươm tất, tiện nghi nhưng Đỗ Quảng vẫn gắn với căn hộ như cái chuồng cu trên tầng 5 của nhà chung cư cũ xây từ hồi bao cấp ở khu Ngọc Khánh. Không có thang máy, nhà đã cũ nát lắm, đến nỗi: “Phòng bố, phòng con/ Nước dột như ngoài sân/ Chậu to chậu nhỏ hứng không xuể/ Nhà lâu năm, vôi vữa trên trần bong lở” (Mưa dột), chỉ với một lý do đó là căn hộ báo Nhân dân phân cho ông. Nó là kỷ niệm, là tấm lòng của báo, của đồng nghiệp nên ông sẽ gắn bó tới khi chết.
Căn hộ và tòa soạn báo là hai nơi ông trân quý. Sân báo Nhân dân có cây đa nổi tiếng đã trở thành cây di sản. Với Đỗ Quảng, cây đa là người bạn, một “cây thần” đã trở thành “mộc tinh”. Nhìn cây nhớ đồng nghiệp cũ: “Cây đa còn đây/ Mà người không thấy/ Mây trắng bay về trời/ Để lại dáng đi” (Nhớ anh Hoàng Tùng). Ông nghe tiếng vọng lời cây qua chiếc lá rơi nghiêng trong đêm như một lời cảnh tỉnh, một phán xét nghiêm khắc đầy linh ứng:
“Cây đa thần xanh lá che chung
Chiếc lá rơi nghiêng trong đêm nghe rất rõ
Chẳng phải lá đâu
Kính chiếu yêu đấy
Kẻ phá kẻ xây nhìn thêm tỏ
Rời khỏi nơi này
Thế giới hiện con người”
(Lá rơi nghiêng).
Hầu hết những bài thơ trong tập Những lời nói thật viết trong đêm. Những đêm cô đơn một mình đối diện với trang giấy, với ngọn đèn, với lương tâm mình làm sao có thể nói dối, làm sao có thể uốn éo câu chữ. “Văn là đời”. Chữ nghĩa là “kính chiếu yêu”. Nó chịu người có tâm, nỡm kẻ mượn nó để tiến thân. Nhà thơ Đỗ Quảng dùng thơ kể chuyện đời mình, những năm tháng mình sống như một chứng nhân với một cái tâm trong sáng và trách nhiệm rất cao. Bài thơ dài nhất, mang hơi thở của một trường ca ông lấy làm tên chung cho tập thơ như một tuyên ngôn tràn đầy hứng khởi, khi:
“Lần đầu nghe những lời nói thật (…)
Lời nói thật
Khai thông vận khí
Khơi mọi mạch nguồn, thắp sáng niềm tin
Vì nhân dân
Vì Tổ quốc hùng cường”.
Cái đích cuối cùng của mọi hành động là làm cho:“Đất nước hùng cường”. Và “Cuộc sống lương dân đúng nghĩa CON NGƯỜI”. Nhà thơ đã chạm tới cái lõi của mọi cuộc cách mạng, mọi chủ thuyết, mọi sự đổi thay là vì CON NGƯỜI.
Chính vì thế tiếng thơ mang chất thép sang sảng ấy được bạn đọc đón nhận một cách tự nhiên như mình gặp lòng mình vậy. Và không ngạc nhiên chỉ trong hai tháng sau khi phát hành, tập thơ Những lời nói thật đã được tái bản hai lần, trở thành một sự kiện văn học. Điều ấy cũng chứng minh cho giá trị nội dung và nghệ thuật thi ca của tác phẩm này.

PGS. TS Nguyễn Đức Hạnh vốn là một nhà giáo đã quen thuộc với bạn đọc bởi những công trình nghiên cứu, lý luận, phê...
Bình luận