Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn là đề tài lớn, nguồn cảm hứng cao đẹp trong sáng tạo văn học nghệ thuật

Do các yếu tố về lịch sử, văn hóa, địa lý, nhất là yếu tố địa chiến lược mang tính đặc biệt, nên lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam ta là lịch sử vẻ vang của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không ngừng nghỉ, lịch sử của nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Việc cảm nhận, khám phá, thể hiện con người Việt Nam, đất nước Việt Nam trước, trong và sau mỗi cuộc chiến tranh, nhất là đề tài về lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn là đề tài lớn, quan trọng, khơi gợi nguồn cảm hứng cao đẹp, dồi dào cho văn học nghệ thuật.

Nguồn cảm hứng cao đẹp và vô tận

Đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn là nguồn cảm hứng, là đích đến rất cao đẹp và vô tận của các văn nghệ sĩ nước ta; là đề tài có chiều sâu về văn hóa, tầm cao tư tưởng, rung động sâu sắc về thẩm mỹ và nghệ thuật; có sức lan tỏa mạnh mẽ tính nhân văn, nhân bản. Từ ngày có Đảng, có Nhà nước Việt Nam dân chủ, cộng hòa đến nay, việc phản ánh hiện thực chiến tranh yêu nước và cách mạng; xây dựng hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, chiến sĩ Công an Nhân dân được coi là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của văn học, nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sĩ.

Không chỉ ở lĩnh vực sáng tác mà ở các lĩnh vực khác như nghiên cứu lý luận, phê bình tác phẩm, tuyên truyền, quảng bá đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn được nhìn nhận, được khẳng định vị trí, vai trò, đóng góp to lớn của văn học, nghệ thuật. 

Quân đội nhân dân, Công an nhân dân lớn lên cùng cách mạng, cùng dân tộc; hơn 50 năm chúng ta được sống trong hòa bình, thống nhất, đổi mới và phát triển nhưng đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng vẫn luôn là dòng chảy mạnh mẽ, thao thiết, thôi thúc các thế hệ văn nghệ sĩ trong và ngoài quân đội, công an say mê khám phá, sáng tạo. Số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật ra mắt công chúng trong những năm qua; chất lượng, sức lan tỏa của các tác phẩm, công trình, nhất là các giải thưởng văn học, nghệ thuật có uy tín cho thấy, đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn là mảnh đất màu mỡ thu hút mạnh mẽ sự sáng tạo của văn nghệ sĩ, là khoảng trời nghệ thuật cao đẹp, hấp dẫn đối với công chúng.

Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn là đề tài lớn, nguồn cảm hứng cao đẹp trong sáng tạo văn học nghệ thuật - 1

Năm 1963, với tác phẩm sơn mài "Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ", họa sĩ Nguyễn Sáng đã dựng lại thời khắc hào hùng của những người chiến sĩ Điện Biên. 

“Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”

Được sự lãnh đạo, dìu dắt, định hướng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, những năm tháng đội ngũ văn nghệ sĩ cùng cả dân tộc hào hùng đi vào cuộc trường chinh chống thực dân Pháp mới thấy rõ những đổi thay to lớn, mang tính bước ngoặt của nền văn hóa, văn nghệ cách mạng với hai nhiệm vụ chiến lược là kháng chiến và kiến quốc. 

Đề tài nổi bật là cuộc sống, rèn luyện, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của vệ quốc quân, nông dân, công nhân và các tầng lớp khác trong xã hội; là tình yêu đất nước, quê hương qua mỗi ngôi làng, ngọn núi, dòng sông; là những trận thắng trên mọi nẻo đường chiến dịch; là tình yêu đôi lứa “anh yêu em như anh yêu đất nước”... 

Đây cũng là giai đoạn các giải thưởng, triển lãm, giao lưu văn nghệ được tổ chức và tiến hành bình xét, trao giải: Giải thưởng Văn nghệ (1951 - 1952); Triển lãm hội họa kháng chiến ở Việt Bắc (1951), Giải thưởng Văn nghệ (1954 - 1955); Giải thưởng văn nghệ Phạm Văn Đồng (1952) (do Liên khu 5 tổ chức); Giải thưởng văn nghệ Cửu Long Giang (Nam Bộ, 02 đợt: 1949 - 1950 và 1951 - 1952)...

“Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Sau chín năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp với nhiều hy sinh, gian khổ, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đất nước bước vào một giai đoạn cách mạng mới, miền Bắc xây dựng nền móng ban đầu của chủ nghĩa xã hội, cùng miền Nam tiếp tục cuộc chiến đấu chống xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tiến tới thống nhất nước nhà. Đó là những năm tháng cả dân tộc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

Nền văn học, nghệ thuật của ta có bước phát triển mạnh mẽ về đội ngũ, không gian, cảm hứng, điều kiện sáng tạo, hiện thực đời sống và công chúng của chính nền văn nghệ đó. Hình ảnh, hình tượng nhân dân anh hùng, quân đội anh hùng, “Bộ đội Cụ Hồ” anh hùng tiếp tục được văn học, nghệ thuật tập trung ca ngợi, là nhân vật trung tâm của mọi sáng tạo văn nghệ.

Những tác phẩm văn học nghệ thuật khi ấy đã trở thành những khúc tráng ca bất tử về người lính là bộ đội, công an, về lực lượng thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đại diện cho cả một thế hệ, cho những gì cao đẹp nhất, thiêng liêng nhất khi đối mặt với quân thù. Khắc họa hình ảnh cuộc sống mới và con người mới xã hội chủ nghĩa trong hoàn cảnh vừa dựng xây chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa anh dũng chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đi vào giai đoạn hào hùng và ác liệt nhất, nhiều trí thức, văn nghệ sĩ hăm hở ra trận. Chủ đề Tổ quốc anh hùng, Nhân dân anh hùng, Quân đội anh hùng, Công an nhân dân anh hùng là cảm hứng chủ đạo, nổi trội trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật.  Hình tượng Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng ta, nhân dân ta, người Cha yêu kính của lực lượng vũ trang được khắc họa đậm nét và xúc động.

Nhiều văn nghệ sĩ - chiến sĩ đã sống và viết, đã hy sinh anh dũng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược như Trần Đăng, Nam Cao, Tô Ngọc Vân, Hoàng Lộc, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Huỳnh Văn Nghệ, Nguyễn Trọng Định, Nguyên Mỹ, Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý...

Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn là đề tài lớn, nguồn cảm hứng cao đẹp trong sáng tạo văn học nghệ thuật - 2

 Các nhạc sĩ đang biểu diễn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ảnh tư liệu 

Son sắt với đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng xây dựng hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, Công an nhân dân trong thời kỳ mới

Văn học nghệ thuật sau năm 1975, nhất là thời kỳ đổi mới, mảng đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng tiếp tục được quan tâm, có những đổi mới và thành công. Cùng với các văn nghệ sĩ đã thành danh từ trước đó, có thêm các gương mặt tiêu biểu ở nhiều loại hình văn học, nghệ thuật. Trong văn học, ở mảng văn xuôi là Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Khắc Trường, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Khuất Quang Thụy... Về thơ là các tác giả: Giang Nam, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Phạm Tiến Duật, Nam Hà, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Trần Mạnh Hảo, Vương Trọng, Anh Ngọc, Hoàng Nhuận Cầm, Hoàng Trần Cương, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Đăng Khoa,...

Và kịch, có các tác giả tiêu biểu như: Lưu Quang Vũ, Xuân Trình. Tất Đạt, Hoài Giao, Thanh Hương, Nguyễn Khắc Phục, Doãn Hoàng Giang, Tào Mạt, Xuân Đức, Chu Thơm, Nguyễn Huy Thiệp... Họ là thế hệ đã được rèn luyện, thử thách, nếm trải qua các cuộc chiến tranh khốc liệt, thời kỳ bị bao vây cấm vận của nước ngoài, bước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường với nhiều mất mát, giằng xé, hy vọng.

Các tác giả đi tiên phong trong công cuộc đổi mới có thể kể đến những tên tuổi như Nguyễn Minh Châu - người được coi là nhà văn tiêu biểu cho sự đổi mới quyết liệt và cũng là người có được những thành tựu nghệ thuật mới nhờ thay đổi tư duy và cách viết; Nguyễn Mạnh Tuấn - người thu hút được sự chú ý của dư luận với các cuốn tiểu thuyết giàu chất thời sự như: Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù lao Chàm; Nguyễn Quang Thiều với Mùa hoa cải bên sông, Chu Lai với Mưa đỏ... Hiện thực cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - một mảng hiện thực “thiêng” tiếp tục được nhìn nhận lại với những góc nhìn mang những giá trị nhân văn mới (và đương nhiên cũng tạo ra những băn khoăn nhất định) như: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Khát (Nguyễn Việt Chiến)...

Ở mảng đề tài về người chiến sĩ công an nhân dân có thể kể đến: tiểu thuyết Kế hoạch J.96 của Trần Tử Văn, Phía sau một cái chết của Võ Duy Linh, Bản án tản thất quân dụng của Lê Thành Chơn, Điệp báo thành Huế của Thanh Hà, Hồ sơ một tử tù của Nguyễn Đình Tú; Mật danh AZ của Phạm Thanh Khương, Cổ cồn trắng của Nguyễn Như Phong, Bí mật cuộc đời của Lê Tri Kỷ, Đơn tuyến của Phạm Quang Đẩu, Đối mặt, Đất nóng của Nguyễn Hồng Thái, Hoa bay của Chu Thanh Hương, Bão ngầm của Đào Trung Hiếu...

Trong âm nhạc, nhiều tác phẩm ca ngợi chiến công của quân và dân ta trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp, Mỹ và chiến đấu bảo vệ biên giới đất liền và biển, đảo của Tổ quốc: Bài ca không quên (Phạm Minh Tuấn), Giai điệu Tổ quốc (Trần Tiến), Hãy yên lòng mẹ ơi (Lư Nhất Vũ), Tổ quốc yêu thương (Hồ Bắc), Chiến đấu vì độc lập, tự do (Phạm Tuyên), Chiều dài biên giới (nhạc Trần Chung, thơ Lò Ngân Sủn), Gửi em ở cuối sông Hồng (nhạc Thuận Yến, thơ Dương Soái); Em ở nông trường anh ra biên giới (Trịnh Công Sơn), Dáng đứng Bến Tre (Nguyễn Văn Tý), Tình ca Tây Nguyên (Hoàng Vân), Vết chân tròn trên cát (Trần Tiến), Cây đàn guitar của Đại đội Ba (Xuân Hồng), Hát về anh (Thế Hiển), Đồng đội (Hoàng Hiệp), Thơ tình của núi (An Thuyên), Miền xa thẳm (Đức Trịnh), Biển hát chiều nay (Hồng Đăng), Nơi đảo xa (Thế Song), Chút thơ tình của người lính biển (nhạc Hoàng Hiệp, thơ Trần Đăng Khoa), Gần lắm Trường Sa (Hình Phước Long), Tổ quốc gọi tên mình (nhạc Đinh Trung Cẩn, thơ Nguyễn Phan Quế Mai), Bâng khuâng Trường Sa (nhạc Lê Đức Hùng, thơ Nguyễn Thế Kỷ)... và cả những ca khúc tạo được tính mới mẻ khi mang âm hưởng rock như Bay qua Biển Đông của nhạc sĩ trẻ Lê Việt Khánh, ca khúc Còn gì đẹp hơn của Nguyễn Hùng...

Về mỹ thuật, các tác phẩm vừa dung dị vừa đằm thắm, sâu sắc: Bộ đội về bản Mèo (Trần Lưu Hậu), Ngày vui có Bác (Xuman); Tượng Bác Hồ bên suối Lênin (Diệp Minh Châu), Mẹ chiến sĩ (Hoàng Trầm), Đảo tiền tiêu (Tạ Quang Bạo), Binh trạm Trường Sơn (Nguyễn Thị Bích Hồng), Đặc công Rừng Sác (Trịnh Bá Quát), Căn cứ rừng tràm An Giang (Đinh Công Khải), Đường tới Dinh Độc lập (Nguyễn Hải Nghiêm), Những người lính canh trời (Vũ Quý)…

Về điện ảnh, là các bộ phim truyện: Cô Nhíp (1976, đạo diễn Khương Mễ); Mùa gió chướng (1978, đạo diễn Nguyễn Hồng Sến); Mẹ vắng nhà (1979, đạo diễn Nguyễn Khánh Dư); Cánh đồng hoang (1979, đạo diễn Nguyễn Hồng Sến, phim giành được nhiều giải quan trọng trong nước và Huy chương Vàng tại Liên hoan phim Quốc tế Mátxcơva năm 1981. Đạo diễn Đặng Nhật Minh nổi trội với các tác phẩm Thị xã trong tầm tay (1982), Bao giờ cho đến tháng Mười (1984), Cô gái trên sông (1986) và Thương nhớ đồng quê (1995). Bộ phim truyện nhiều tập Ván bài lật ngửa (1982 – 1987) của đạo diễn Lê Hoàng Hoa được trao giải Đặc biệt tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6 năm 1983.

Những năm sau đó là các phim truyện: Hoa Ban đỏ (1994), Biệt động Sài Gòn (1986), Hà Nội 12 ngày đêm (2002), Ký ức Điện Biên (2004), Đường thư, Giải phóng Sài Gòn, Đừng đốt (2009), Mùi cỏ cháy (2012), Những người viết huyền thoại (2013), Sống cùng lịch sử (2014), Sao xanh nơi biển sóng, Đường lên Điện Biên, Đào, phở và piano, Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối, Mưa đỏ, Tử chiến trên không... 

Lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng luôn là đề tài lớn, nguồn cảm hứng cao đẹp trong sáng tạo văn học nghệ thuật - 3

Bộ phim "Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối" khắc họa chân thực cuộc đấu trí căng thẳng, chiến đấu kiên cường để giữ vững trận địa, những hy sinh thầm lặng và tinh thần bất khuất của du kích Củ Chi, căn cứ địa cách mạng kiên trung trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Về phim tài liệu có Thành phố lúc rạng đông, Chiến thắng lịch sử năm 1975, Chị Năm Khùng, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai, Khát vọng thiên thanh...

Về sân khấu là các tác phẩm của Vũ Dũng Minh: Đôi mắt, Nhật kí người mẹ; Đào Hồng Cẩm với Đại đội trưởng của tôi, Tiếng hát tuyệt vời; Tất Đạt với Tình yêu của anh; Lưu Quang Vũ với Lời thề thứ 9, Nguồn sáng trong đời; Doãn Hoàng Giang với Hà My của tôi, Người trong bóng tối; Bùi Vũ Minh với vở Người tù trao áo; tác giả Nguyễn Đăng Chương và đạo diễn Lê Hùng với vở Gặp lại người đã chết; tác giả Chu Đức Tính và đạo diễn Lê Hùng với vở kịch Duyên định; tác giả Bùi Vũ Minh và đạo diễn Lê Hùng với vở kịch Con đò của mẹ...

Sáng tạo các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng, đội ngũ văn nghệ sĩ đã vượt lên trên mức độ của những ghi chép, phản ánh lịch sử thông thường để khắc họa hiện thực lịch sử và đời sống xã hội bằng cảm nhận, cảm xúc, tài năng và lòng yêu nước của mình. Đây vẫn là một địa hạt nhiều tiềm năng trong việc ghi chép, khắc họa, lưu giữ lịch sử qua cái nhìn, qua trải nghiệm và cảm xúc của người sáng tạo. Điều này giúp cho thế hệ sau có thể hiểu rõ hơn về quá khứ, về những gì mà cha ông chúng ta đã phải trải qua để có được “hoa độc lập”, “quả tự do” hôm nay; từ đó góp phần nuôi dưỡng, nhân lên tình yêu Tổ quốc, lòng tự hào dân tộc, yêu quý Bộ đội Cụ Hồ và Người Công an Cách mạng trong mỗi con người, nhất là thế hệ trẻ. Hơn thế các giá trị đạo đức, nhân văn như lòng dũng cảm, nghĩa tình, vị tha, sự hy sinh, tinh thần đoàn kết và lòng trung thành với Tổ quốc được thể hiện trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật này còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

Vẫn sáng tác về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng nhưng các tác phẩm văn học, nghệ thuật sau năm 1975 mang cái nhìn mới, bút pháp mới, phản ánh sự thay đổi về tư tưởng và thẩm mỹ của văn nghệ sĩ. Bối cảnh xã hội và bầu không khí dân chủ, nhân văn được mở rộng, văn nghệ sĩ tự do sáng tạo về hiện thực đời sống, về chiến tranh, nhất là chiến tranh cách mạng, về lực lượng theo cách riêng của mình. Bên cạnh cảm hứng chủ đạo là ngợi ca cuộc kháng chiến anh hùng, những chiến công oanh liệt đậm chất sử thi, lãng mạn, nhiều tác phẩm sau năm 1975 có sự đa dạng hơn trong nguồn cảm hứng về hiện thực: cảm hứng bi tráng, cảm hứng thế sự... mang đầy tính nhân văn. Biên độ miêu tả hiện thực được mở rộng; những mặt khuất lấp của thực tại được tái hiện bằng tinh thần đối thoại và cái nhìn phản tư; thân phận con người với những trăn trở được/ mất trở thành mối quan tâm lớn của không ít tác phẩm viết về chiến tranh thời kỳ này. 

Việc khắc họa nhân vật thuộc lực lượng vũ trang (bộ đội, công an) trong văn học, nghệ thuật thời hậu chiến cũng có sự vận động rõ rệt. Con người lý tưởng hóa đã nhường chỗ cho con người đầy nhân văn, nhân bản với những trăn trở, suy tư, khát vọng và cả những toan tính, sai sót, lỗi lầm của đời thường. Nếu như trong văn học, nghệ thuật thời chiến, chiến tranh là đối tượng phản ánh chủ yếu thì trong văn học, nghệ thuật thời hậu chiến, nó như là phương tiện để nhà văn, nghệ sĩ thể hiện những vấn đề của con người thế sự; vấn đề hàn gắn vết thương, hóa giải hận thù, hòa hợp dân tộc, hội nhập với bên ngoài được văn học, nghệ thuật thời kỳ này quan tâm giải quyết. Và một vấn đề đặt ra là xây dựng những anh hùng trong thời đại mới - những người lính thời bình vẫn cần nhiều những khám phá mới, trở thành cảm hứng, trách nhiệm của văn nghệ sĩ ở các loại hình văn học, nghệ thuật.

Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh những nỗ lực và thành tựu quan trọng, vẫn có một thực tế không vui vì “một số văn nghệ sĩ còn hạn chế trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề mới của cuộc sống”, “có biểu hiện xa lánh những vấn đề lớn lao của đất nước, chạy theo các đề tài nhỏ nhặt, tầm thường, chiều theo thị hiếu thấp kém của một bộ phận công chúng, hạ thấp chức năng giáo dục, nhấn mạnh một chiều chức năng giải trí. Trong một số trường hợp, có biểu hiện cực đoan, chỉ tập trung tô đậm mặt đen tối, tiêu cực của cuộc sống hiện tại, thậm chí xuyên tạc, bóp méo lịch sử hoặc bị các thế lực thù địch lôi kéo, đã sáng tác và truyền bá các tác phẩm độc hại, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân và đất nước” như Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị (khóa IX) về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới đã chỉ ra và nhắc nhở.

Do đó, việc tiếp tục nhìn nhận, đánh giá khách quan, toàn diện, sâu sắc thực trạng phát triển, vai trò và những đóng góp quan trọng của mảng văn học, nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng là rất cần thiết, cấp thiết. Thực hiện công việc này, chúng ta góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, hình thành nhận thức và thái độ tích cực, đúng đắn cho đông đảo công chúng, nhất là thế hệ trẻ đối với lịch sử và truyền thống anh hùng của dân tộc, khơi dậy, phát huy mạnh mẽ những giá trị văn hóa, tinh thần mang đậm bản sắc Việt Nam. Bằng cảm hứng, thái độ, tài năng và trách nhiệm của người nghệ sĩ, qua tác phẩm văn học, nghệ thuật, công chúng thêm nhiều lần được hòa mình trong những tác phẩm văn học, nghệ thuật lôi cuốn; được đắm chìm trong những trang văn, câu thơ, thước phim, màn kịch, bản nhạc, bức tranh, bức ảnh, điệu múa, không gian kiến trúc... phản ánh sinh động mọi mặt của cuộc sống, tìm về quá khứ, trải nghiệm thực tại, hướng tới tương lai. Để mỗi chúng ta cảm nhận, trân quý giá trị của máu xương, mồ hôi, nước mắt mà lớp lớp cha anh đã dâng hiến, góp phần xây dựng, vun đắp nền độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh.

Ở một số lĩnh vực nghệ thuật hiện nay có tình trạng thưa vắng những tác phẩm về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng, một phần là do cách tiếp cận và thể hiện đề tài này đang đặt các văn nghệ sĩ trước những thách thức mới, nhất là lớp văn nghệ sĩ trẻ chưa từng trải qua chiến tranh, dù biết rằng những câu chuyện về chiến tranh chống giặc ngoại xâm, vẻ đẹp của hình tượng người chiến sĩ chưa bao giờ là cũ.

Để phát huy vai trò, tác dụng của văn học, nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng trong giai đoạn mới

Để có nhiều hơn tác phẩm đỉnh cao về tư tưởng, nghệ thuật lôi cuốn công chúng thì chúng ta cần một xây dựng và thực hiện một chiến lược đúng đắn, dài hơi. Có thể nêu ra một số định hướng và giải pháp sau đây:

Nâng cao nhận thức của xã hội, nhất là đội ngũ văn nghệ sĩ về trí, vai trò, tầm quan trọng của mảng văn học, nghệ thuật về lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Coi trọng việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ tài năng, tâm huyết, trách nhiệm với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi trọng việc giáo dục nghệ thuật, hướng dẫn, góp phần nâng cao thị hiếu, thẩm mỹ cho công chúng văn học, nghệ thuật, đặc biệt là thanh thiếu niên.

Bên cạnh công việc sáng tác và nghiên cứu lý luận, cần cao chất lượng giảng dạy, học tập và tiếp nhận các tác phẩm quan tâm, nâng văn học, nghệ thuật về chủ đề lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng trong nhà trường ở tất cả các cấp học.

Mở rộng không gian sáng tạo, đáp ứng nhu cầu thưởng thức tác phẩm văn học, nghệ thuật chất lượng cao. Tổ chức thật tốt các trại sáng tác dành riêng cho các chuyên ngành văn học, nghệ thuật; tổ chức hoạt động khảo sát thực tế, giao lưu với các cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang để hiểu rõ hơn về con người, cuộc sống và cả những khó khăn, thách thức mà họ đang đối mặt.

Có chính sách phù hợp để động viên, khích lệ, hỗ trợ đội ngũ văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng.

Ứng dụng công nghệ số vào quá trình sáng tạo, tiếp nhận và quảng bá tác phẩm văn học, nghệ thuật.

Tăng cường tính chiến đấu của mảng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, nhất là ở các cơ quan chỉ đạo, quản lý và các cơ quan văn hóa, văn nghệ chủ lực; kịp thời định hướng sáng tác, định hướng dư luận, giáo dục thẩm mỹ, làm “bà đỡ” mát tay cho các tác phẩm tốt; đấu tranh kiên quyết với luận điệu sai trái, phản động, tiêu cực.

Nguyễn Thế Kỷ

Tin liên quan

Tin mới nhất

Phát động Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Hai năm 2026

Phát động Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Hai năm 2026

Chiều 19/3, tại Hà Nội, Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương tổ chức Lễ phát động “Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Hai, năm 2026 của Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương” với chủ đề “Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng do Đảng, N