Zverev chiếm số 2 của Alcaraz, Djokovic thăng tiến sau Wimbledon (Bảng xếp hạng tennis 13/7)
Wimbledon 2026 khép lại với hàng loạt biến động trên bảng xếp hạng tennis thế giới. Alexander Zverev vượt Carlos Alcaraz chiếm vị trí số 2 ATP, trong khi Aryna Sabalenka vẫn vững vàng trên đỉnh WTA.
Wimbledon 2026 khép lại cũng kéo theo hàng loạt biến động trên bảng xếp hạng ATP và WTA công bố ngày 13/7. Alexander Zverev chính thức vượt Carlos Alcaraz để chiếm vị trí số 2 thế giới, Novak Djokovic trở lại top 7, trong khi nhà vô địch Jannik Sinner tiếp tục bỏ xa phần còn lại. Ở nội dung nữ, Aryna Sabalenka giữ vững ngôi đầu, còn Linda Noskova và Karolina Muchova bứt phá mạnh mẽ sau hành trình ấn tượng tại All England Club.

Djokovic (bên trái) tăng lên 1 bậc, Zverev (bên phải) chính thức giữ số 2, Sinner (giữa) vững vàng số 1
Zverev vượt Alcaraz, Sinner bỏ xa phần còn lại
Bảo vệ thành công chức vô địch Wimbledon giúp Sinner giữ nguyên 2.000 điểm thưởng từ mùa trước, qua đó củng cố ngôi số 1 ATP với 13.450 điểm. Tay vợt người Ý đang tạo khoảng cách lên tới gần 5.000 điểm so với nhóm bám đuổi.
Biến động đáng chú ý nhất nằm ở cuộc đua vị trí số 2. Zverev thu về thêm 1.290 điểm nhờ lần đầu vào chung kết Wimbledon, nâng tổng điểm lên 8.480 để vượt qua Alcaraz.
Ngôi sao người Tây Ban Nha tụt xuống hạng 3 với 8.160 điểm sau khi không thể bảo vệ số điểm từ ngôi á quân Wimbledon 2025. Dù vậy, khoảng cách giữa hai tay vợt chỉ là 320 điểm, hứa hẹn cuộc cạnh tranh quyết liệt ở loạt giải sân cứng Bắc Mỹ.
Djokovic trở lại top 7, nhiều gương mặt lập cột mốc mới
Vào bán kết Wimbledon giúp Djokovic tăng một bậc lên hạng 7 thế giới, trong khi Daniil Medvedev cũng trở lại top 8.
Alex De Minaur lần đầu vươn lên vị trí số 5 ATP, còn Flavio Cobolli chạm cột mốc cao nhất sự nghiệp khi lần đầu góp mặt trong top 10 sau chiến tích vào tứ kết.
Ở chiều ngược lại, Ben Shelton rơi xuống hạng 6 sau thất bại ngay vòng một, còn Taylor Fritz tụt ba bậc xuống vị trí số 10 vì không bảo vệ được thành tích bán kết năm ngoái.
Ngoài top 10, Arthur Fery trở thành hiện tượng lớn nhất sau Wimbledon. Tay vợt chủ nhà vào tới bán kết, tăng tới 78 bậc để lần đầu góp mặt trong top 100 và vươn lên hạng 36 ATP. Jan Lennard Struff (+33 bậc, hạng 41), Hubert Hurkacz (+28, hạng 68) và Roman Safiullin (+35, hạng 97) cũng là những cái tên thăng tiến mạnh.

Nhà vô địch Wimbledon Linda Noskova nhảy năm bậc lên vị trí số 7 (giữa), thứ hạng cao nhất sự nghiệp của cô
Sabalenka tiếp tục thống trị WTA
Ở bảng xếp hạng nữ, Sabalenka tiếp tục đứng đầu với 8.550 điểm dù dừng bước từ vòng 4 Wimbledon. Việc Elena Rybakina bị loại sớm giúp tay vợt Belarus duy trì khoảng cách 407 điểm ở ngôi số 1.
Sabalenka cũng cán mốc 99 tuần giữ vị trí số 1 thế giới, vượt Lindsay Davenport để độc chiếm vị trí thứ 10 trong danh sách những tay vợt có nhiều tuần đứng đầu WTA nhất lịch sử.
Elena Rybakina vẫn giữ hạng 2, trong khi Jessica Pegula vươn lên số 3 và Coco Gauff trở lại top 4 sau hành trình vào bán kết.
Noskova, Muchova bứt phá, Swiatek tụt sâu
Hai nhân vật nổi bật nhất trên bảng xếp hạng WTA là Karolina Muchova và Linda Noskova.
Á quân Wimbledon Muchova tăng ba bậc lên hạng 6 thế giới, còn nhà vô địch Linda Noskova nhảy năm bậc lên vị trí số 7, đều là thứ hạng cao nhất trong sự nghiệp.
Ngược lại, Iga Swiatek là cái tên chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong nhóm dẫn đầu. Nhà vô địch Wimbledon 2025 bị loại từ vòng ba năm nay nên mất năm bậc, rơi xuống hạng 8. Amanda Anisimova cũng tụt ba bậc xuống vị trí số 9.
Một điểm sáng khác là Alexandra Eala. Tay vợt Philippines lần đầu lọt vào vòng 4 Wimbledon sau chiến thắng gây sốc trước Swiatek, qua đó tăng bốn bậc lên hạng 28 thế giới, thứ hạng cao nhất trong sự nghiệp.
Ngoài ra, Barbora Krejcikova, Nikola Bartunkova, Ashlyn Krueger hay Mananchaya Sawangkaew cũng ghi nhận những bước tiến đáng kể sau giải Grand Slam trên mặt sân cỏ.
Bảng xếp hạng tennis đơn Nam - ATP
|
TT |
Tay vợt |
Tuổi |
+-XH so với tuần trước |
Điểm |
|
1 |
Jannik Sinner (Ý) |
24 |
0 |
13.450 |
|
2 |
Alexander Zverev (Đức) |
29 |
+1 |
8.480 |
|
3 |
Carlos Alcaraz (Tây Ban Nha) |
23 |
-1 |
8.160 |
|
4 |
Felix Auger-Aliassime (Canada) |
25 |
0 |
4.740 |
|
5 |
Alex de Minaur (Úc) |
27 |
+1 |
4.110 |
|
6 |
Ben Shelton (Mỹ) |
23 |
-1 |
3.770 |
|
7 |
Novak Djokovic (Serbia) |
39 |
+1 |
3.760 |
|
8 |
Daniil Medvedev (Nga) |
30 |
+1 |
3.670 |
|
9 |
Flavio Cobolli (Ý) |
24 |
+1 |
3.460 |
|
10 |
Taylor Fritz (Mỹ) |
28 |
-3 |
3.365 |
|
11 |
Alexander Bublik (Kazakhstan) |
29 |
0 |
2.810 |
|
12 |
Jiri Lehecka (CH Czech) |
24 |
+2 |
2.510 |
|
13 |
Casper Ruud (Na Uy) |
27 |
-1 |
2.435 |
|
14 |
Lorenzo Musetti (Ý) |
24 |
+1 |
2.315 |
|
15 |
Learner Tien (Mỹ) |
20 |
+2 |
2.270 |
|
16 |
Andrey Rublev (Nga) |
28 |
-3 |
2.230 |
|
17 |
Frances Tiafoe (Mỹ) |
28 |
+2 |
2.230 |
|
18 |
Luciano Darderi (Ý) |
24 |
-2 |
2.210 |
|
19 |
Jakub Mensik (CH Czech) |
20 |
-1 |
2.205 |
|
20 |
Alejandro Davidovich Fokina (Tây Ban Nha) |
27 |
+3 |
2.160 |
|
21 |
Valentin Vacherot (Monaco) |
27 |
-1 |
2.138 |
|
22 |
Francisco Cerundolo (Argentina) |
27 |
-1 |
2.110 |
|
23 |
Arthur Fils (Pháp) |
22 |
+1 |
1.990 |
|
24 |
Tommy Paul (Mỹ) |
29 |
+1 |
1.975 |
|
25 |
Rafael Jodar (Tây Ban Nha) |
19 |
+1 |
1.927 |
|
26 |
Karen Khachanov (Nga) |
30 |
-4 |
1.780 |
|
27 |
Joao Fonseca (Brazil) |
19 |
0 |
1.710 |
|
28 |
Arthur Rinderknech (Pháp) |
30 |
0 |
1.683 |
|
29 |
Ugo Humbert (Pháp) |
28 |
+1 |
1.575 |
|
30 |
Tomas Martin Etcheverry (Argentina) |
26 |
+2 |
1.460 |
Bảng xếp hạng tennis đơn Nữ - WTA
|
TT |
Tay vợt |
Tuổi |
+-XH so với tuần trước |
Điểm |
|
1 |
Aryna Sabalenka (Belarus) |
28 |
0 |
8.550 |
|
2 |
Elena Rybakina (Kazakhstan) |
27 |
0 |
8.143 |
|
3 |
Jessica Pegula (Mỹ) |
32 |
+1 |
6.301 |
|
4 |
Coco Gauff (Mỹ) |
22 |
+4 |
5.649 |
|
5 |
Mirra Andreeva (Nga) |
19 |
0 |
5.293 |
|
6 |
Karolina Muchova (CH Czech) |
29 |
+3 |
5.168 |
|
7 |
Linda Noskova (CH Czech) |
21 |
+5 |
5.119 |
|
8 |
Iga Swiatek (Ba Lan) |
25 |
-5 |
4.539 |
|
9 |
Amanda Anisimova (Mỹ) |
24 |
-3 |
4.353 |
|
10 |
Elina Svitolina (Ukraine) |
31 |
-2 |
4.351 |
|
11 |
Marta Kostyuk (Ukraine) |
24 |
+2 |
3.926 |
|
12 |
Victoria Mboko (Canada) |
19 |
-2 |
3.570 |
|
13 |
Naomi Osaka (Nhật Bản) |
28 |
+1 |
3.146 |
|
14 |
Belinda Bencic (Thụy Sĩ) |
29 |
-3 |
2.845 |
|
15 |
Jasmine Paolini (Ý) |
30 |
+2 |
2.783 |
|
16 |
Iva Jovic (Mỹ) |
18 |
0 |
2.636 |
|
17 |
Sorana Cirstea (Romania) |
36 |
+1 |
2.535 |
|
18 |
Diana Shnaider (Nga) |
22 |
-3 |
2.458 |
|
19 |
Ekaterina Alexandrova (Nga) |
31 |
0 |
2.301 |
|
20 |
Anna Kalinskaya (Nga) |
27 |
0 |
2.300 |
|
21 |
Marie Bouzkova (CH Czech) |
27 |
+2 |
2.019 |
|
22 |
Maja Chwalinska (Ba Lan) |
24 |
-1 |
2.004 |
|
23 |
Madison Keys (Mỹ) |
31 |
-1 |
1.964 |
|
24 |
Elise Mertens (Bỉ) |
30 |
+3 |
1.948 |
|
25 |
Leylah Fernandez (Canada) |
23 |
-1 |
1.784 |
|
26 |
Emma Navarro (Mỹ) |
25 |
0 |
1.674 |
|
27 |
Anastasia Potapova (Áo) |
25 |
+1 |
1.667 |
|
28 |
Alexandra Eala (Philippines) |
21 |
+4 |
1.666 |
|
29 |
Jelena Ostapenko (Latvia) |
29 |
+2 |
1.592 |
|
30 |
Clara Tauson (Đan Mạch) |
23 |
-5 |
1.574 |
Bình luận