Tiêu chuẩn về trình độ của hiệu trưởng trường THCS

(Arttimes) - Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường trung học cơ sở cũng áp dụng thực hiện theo các quy định về tiêu chuẩn chức danh của giáo viên và phải đáp ứng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên trung học cơ sở theo quy định.

Bà Vi Thùy (Quảng Ninh) đang là hiệu trưởng của trường trung học cơ sở (THCS). Bà Thùy đã làm cán bộ quản lý giáo dục được hơn 10 năm, có bằng cao đẳng sư phạm tiếng Anh, bằng đại học quản lý giáo dục. Năm 2018, bà Thùy đăng ký xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp lên giáo viên THCS hạng II nhưng không được với lý do bằng đào tạo không phù hợp.

Tiêu chuẩn về trình độ của hiệu trưởng trường THCS - 1 Sẽ có những thay đổi trong tiêu chí xét hiệu trưởng, hiệu phó cấp THCS 

Theo Khoản 2 Điều 74 Luật Giáo dục 2019, cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục gồm trường sư phạm, cơ sở giáo dục đại học có khoa quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục được phép đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục.

Bà Thùy hỏi, bà đã là cán bộ quản lý giáo dục nhiều năm, đã có bằng cao đẳng về chuyên ngành sư phạm và bằng đại học quản lý giáo dục do Học viện Quản lý giáo dục cấp và hiện đang học lên thạc sĩ quản lý giáo dục thì có bắt buộc phải học thêm bằng đại học chuyên ngành sư phạm để nâng trình độ đạt chuẩn như giáo viên không? Hiệu trưởng có bằng đại học quản lý giáo dục thì có đạt trình độ chuẩn hiệu trưởng theo Luật Giáo dục 2019, Thông tư số 14/2018/TT-BGDĐT ban hành quy định chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông không? Với bằng cấp đó bà có được xét thăng hạng chức danh không?

Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:

Để được đăng ký dự xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS từ hạng III lên hạng II, giáo viên THCS cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 28/2017/TT-BGDĐT ngày 30/11/2017 quy định tiêu chuẩn, điều kiện, nội dung, hình thức xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông công lập.

Trong đó, bao gồm tiêu chuẩn về trình độ đào tạo của giáo viên THCS hạng II theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 22/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 16/9/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS công lập, cụ thể:

“Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm trở lên hoặc có bằng tốt nghiệp đại học các chuyên ngành phù hợp với bộ môn giảng dạy trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên THCS”.

Từ ngày 1/7/2020 khi Luật Giáo dục 2019 có hiệu lực thi hành, trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên THCS là: Có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên, trường hợp môn học chưa đủ giáo viên có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên thì phải có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm (Điểm b Khoản 1 Điều 72).

Tiêu chuẩn về trình độ của hiệu trưởng trường THCS - 2 Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phải đáp ứng trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định. Ảnh minh họa 

Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường THCS cũng áp dụng thực hiện theo các quy định về tiêu chuẩn chức danh của giáo viên và phải đáp ứng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên THCS theo quy định.

Do đó, cô giáo thuộc đối tượng phải thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định tại Nghị định số 71/2020/NĐ-CP của Chính phủ.

Chinhphu.vn None

Tin liên quan

Tin mới nhất

“Nguồn mến thương nâng bước đời con” 

“Nguồn mến thương nâng bước đời con” 

A. Pushkin (1799 - 1837), Sergei Esenin (1895 - 1925) là hai nhà thơ lớn trong số rất nhiều nhà thơ lớn đã góp phần tạo nên sự vĩ đại của nền thơ ca Nga từ cổ điển đến hiện đại. Và, như một nét đặc trưng của tất cả các nhà thơ lớn thuộc mọi nền thơ ca dân tộc, di sản thơ của hai nhà thơ Nga đã dựng lên trước người tiếp nhận những chân trời bề bộn: bề bộn về tư tưởng, bề bộn

Ưu tiên quỹ đất cho văn hóa, khai thác hiệu quả cơ sở dôi dư sau sắp xếp

Ưu tiên quỹ đất cho văn hóa, khai thác hiệu quả cơ sở dôi dư sau sắp xếp

Bộ trưởng Bộ VHTTDL Lâm Thị Phương Thanh đề nghị bổ sung cơ chế ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển thiết chế văn hóa, thư viện, điểm sinh hoạt công cộng trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đặc biệt tại các khu đô thị. Đồng thời, cần quy định rõ tỷ lệ, tiêu chí bố trí đất cho các công trình văn hóa tại khu đô thị, khu dân cư mới.