Nguyễn Tiến Thanh: “Thơ hay không cần ai chống lưng”

Nguyễn Tiến Thanh tuổi “chớm hưu” đẩy mạnh hoạt động văn chương. Trong khi cả một thời gian dài trước đó anh định hình sự nghiệp như một người làm báo mát tay. Những tưởng nghề báo làm nghiệp văn hao mòn ít nhiều, anh vẫn gây ngạc nhiên bằng tập “trường luận thơ” hơn 600 trang khổ lớn “Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết” vừa xuất bản. Quá trình sản sinh ra nó có thể được hình dung như một cơn cuồng chữ...

Nguyễn Tiến Thanh: “Thơ hay không cần ai chống lưng” - 1

Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh.

Đi giữa hai thế giới

Dành cả tuổi xuân để làm báo, anh tự đặt ra cho mình những mục tiêu và tiêu chuẩn như thế nào để đảm bảo đã vẽ ra một tờ báo là phải thành công?

Làm báo cũng giống như lái một con tàu giữa biển mà la bàn thì cứ chập chờn: lúc dựa vào kinh nghiệm, lúc chỉ còn tin vào… trực giác. Có những đêm, tôi tự hỏi: “Mình đang điều khiển tờ báo, hay tờ báo đang điều khiển mình?”. Và thường thì câu trả lời là vế sau.

Tôi không tin vào công thức thành công. Tôi chỉ tin rằng, nếu một tờ báo không có bản sắc, thì dù in trên giấy tốt, nó vẫn là giấy gói xôi. Thứ khiến người đọc nhớ không phải là tin tức, mà là cảm giác họ thấy mình trong đó, thấy một chút thật thà, một chút hài hước, một chút mong manh của đời sống.

Tôi đặt ra cho mình vài nguyên tắc: Phải trung thực, nhưng không khô khan; phải sâu sắc, nhưng không nặng nề; phải nghiêm túc, nhưng vẫn để chừa chỗ cho nụ cười. Vì rốt cuộc, báo chí cũng như con người - nếu không biết tự cười với mình, thì sẽ sớm già đi.

“Vẽ” ra một tờ báo, với tôi, không phải là dựng một cỗ máy thông tin, mà là nuôi một sinh thể biết cảm xúc, biết thay đổi, biết sai, biết yêu và biết… buồn đúng lúc. Nếu mỗi số báo ra đời mà khiến người ta muốn gấp lại và suy nghĩ thêm một chút - thế là đủ. Vì có lẽ, điều kỳ diệu nhất của nghề này là: Ta viết về đời sống, và trong khi tưởng mình đang quan sát nó hóa ra ta cũng đang được sống thêm một lần nữa.

Nguyễn Tiến Thanh: “Thơ hay không cần ai chống lưng” - 2

Nguyễn Tiến Thanh ở vai trò Tổng biên tập có thời gian làm 18 số báo/tuần.

Làm báo, lại ở vai trò “chủ bút” là công việc đòi hỏi sự toàn tâm toàn ý? Khi đó anh nghĩ gì về văn chương? Có từng xác định đoạn tuyệt với sáng tác?

Tôi chưa bao giờ có thể “đoạn tuyệt” với văn chương, vì thật ra, chính nó đã dạy tôi làm báo. Văn chương cho tôi đôi mắt, báo chí cho tôi đôi chân. Nếu chỉ có một thứ, tôi sẽ mất thăng bằng.

Làm báo đúng là công việc dễ nuốt chửng con người. Nó đòi hỏi tỉnh táo, kỷ luật và cả sự khắc nghiệt với chính mình. Nhưng trong những lúc tưởng như bị cuốn hoàn toàn vào guồng tin tức, tôi vẫn thấy trong lòng có một “dòng chảy nhỏ” của thơ. Có thể im lặng, nhưng chưa bao giờ cạn.

Viết báo là trò chuyện với đời, còn viết văn là trò chuyện với chính mình. Khi mệt với thế giới, tôi viết thơ. Khi mệt với mình, tôi quay lại làm báo. Hai việc ấy như hít vào và thở ra - không thể chọn một mà bỏ một.

Có lúc, tôi tưởng mình đã “dứt” được văn chương, nhưng rồi giữa những trang tin, một câu chữ bỗng khiến tôi dừng lại lâu hơn cần thiết, như nghe thấy nhịp tim của chính mình. Khi ấy, tôi biết: Người ta có thể ngừng viết, nhưng không thể ngừng nghe tiếng nói của văn chương trong mình. Nó không đòi ta trung thành, chỉ cần ta còn biết rung động. Và có lẽ, đó là lý do tôi vẫn đi tiếp được -  giữa hai thế giới tưởng xa, mà thật ra chỉ cách nhau một nhịp thở.

Nguyễn Tiến Thanh: “Thơ hay không cần ai chống lưng” - 3

Quang cảnh tọa đàm "Thơ Nguyễn Tiến Thanh trong sự vận động của thơ Việt Nam đương đại" vừa diễn ra.

Anh có nghĩ rằng nếu mình dành nhiều hơn thậm chí toàn bộ thời gian tâm sức cho văn chương thì thành quả tác phẩm sẽ còn khả quan hơn? Hoặc chí ít mình sẽ bớt day dứt hơn? Làm báo có tác dụng gì cho sáng tác văn chương sau này?

Tôi từng tự hỏi câu ấy không biết bao nhiêu lần. Nhưng rồi nhận ra: Nếu tôi chỉ sống bằng văn chương, có lẽ thơ tôi sẽ… thiếu máu. Chính báo chí - với nhịp gấp gáp, va đập, với những con người thật và câu chuyện thật mới cho tôi mạch máu của đời sống. Làm báo giữ cho tôi tỉnh táo, còn làm thơ giữ cho tôi không hóa đá.

Tôi không nghĩ nếu chỉ làm văn chương, tôi sẽ “thành công” hơn. Có khi ngược lại - tôi sẽ dễ rơi vào sự trừu tượng, tự mê hoặc mình và xa rời đời sống. Làm báo buộc tôi phải đứng giữa chợ đời, phải nghe nhiều, thấy nhiều, phải học cách nói giản dị về những điều phức tạp. Và chính những điều đó sau này trở thành chất nền cho văn chương: những mảnh ghép thật, những âm thanh của con người thật.

Còn chuyện “day dứt” thì có lẽ ai yêu chữ cũng day dứt thôi. Nhưng thay vì sợ hối tiếc, tôi nghĩ nên cảm ơn sự giằng co đó. Vì chính nó làm tôi còn biết sống. Làm báo cho tôi cái nhìn về hiện tại, làm văn chương cho tôi cơ hội nhìn lại. Một bên dạy tôi hỏi, một bên dạy tôi lắng nghe.

Nếu có thể ví von với một mối quan hệ, thì báo chí là người tình ồn ào, còn văn chương là tri kỷ lặng lẽ. Cả hai đều khiến tôi mất ngủ, nhưng cũng chính nhờ thế mà tôi biết mình vẫn còn sống trong chữ.

Nguyễn Tiến Thanh: “Thơ hay không cần ai chống lưng” - 4

Nguyễn Tiến Thanh và Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều tại tọa đàm "Thơ Nguyễn Tiến Thanh trong sự vận động của thơ Việt Nam đương đại".

Nợ những người im lặng...

Anh được xếp vào số không nhiều những người làm báo hiện đại nắm được gu của số đông. Với thơ văn, anh có thể tự tin mình làm được điều đó?

Tôi nghĩ làm báo mà có độc giả là nhờ mình chạm đúng “mạch sống” của họ - còn làm thơ mà có độc giả, thì phải chạm được “mạch thở” của họ. Hai việc tưởng giống nhau nhưng khác hẳn: báo chí đi theo sự kiện, còn thơ đi theo cảm xúc. Một bên đo được bằng lượt đọc, còn bên kia chỉ đo được bằng im lặng sau khi người ta đọc xong.

Tôi không dám nói mình “nắm được gu số đông” trong thơ, vì thơ không có số đông. Thơ là thứ tồn tại nhờ một số ít người còn muốn tin vào sự tinh tế, vào cái đẹp mong manh, vào khả năng con người vẫn có thể lắng nghe chính mình. Làm thơ mà đặt mục tiêu “nắm gu” là sai đường ngay từ đầu.

Nhưng tôi tin, dù thời nào, con người vẫn có nhu cầu được chạm đến bằng một thứ ngôn ngữ thật. Trong báo chí, đó là sự chân xác. Trong thơ, đó là sự thành thật. Nếu có điểm giao giữa hai thế giới ấy thì tôi chỉ mong giữ được giọng nói trung thực của mình - dù viết cho nghìn người hay cho một người.

Nói một cách vui: Tôi không cố làm thơ để được đông người đọc; tôi chỉ cố viết sao cho người đọc ít ỏi ấy không cảm thấy cô đơn. Nếu họ đọc và thấy lòng mình được soi rọi, dù chỉ một chút, thế là đủ. Vì trong thế giới này, một người còn chịu đọc thơ, đã là một “số đông” rồi.

Vị thế giám đốc một nhà xuất bản lớn cùng các mối quan hệ hiện có giúp việc lan tỏa tác phẩm văn thơ của anh trở nên dễ dàng. Về mặt này, anh đang có nhiều lợi thế hơn hẳn số đông đồng nghiệp văn chương. Anh nghĩ sao về điều này?

“Thuận lợi” đôi khi chỉ là một cách nói khác của “thử thách được gói ghém khéo”. Vì càng dễ để xuất hiện, người ta càng phải tự hỏi: Mình xuất hiện để làm gì? Danh thiếp, vị thế hay mối quan hệ có thể mở cánh cửa, nhưng chúng không thể khiến người ta ở lại để đọc.

Thơ, may thay, vẫn là một vùng không có đặc quyền. Anh có thể được in nhanh hơn, được giới thiệu nhiều hơn, nhưng không ai có thể mua được cảm xúc của người đọc. Ở đó, mọi người đều bình đẳng trước chữ - anh viết dở, chữ sẽ phản bội anh; anh viết thật, chữ sẽ cứu anh.

Tôi không phủ nhận những thuận lợi mình có, nhưng cũng không ảo tưởng rằng đó là “vốn liếng”. Với tôi, đó là món nợ - nợ độc giả, nợ nghề, nợ những người viết trong im lặng mà vẫn giữ được lòng tin với văn chương.

Có thể người khác nhìn thấy “lợi thế”, còn tôi thì thấy “áp lực”. Vì mỗi khi viết, tôi phải vượt qua chính cái bóng của những điều tưởng như dễ dàng ấy, để quay về làm lại từ đầu, như một người viết vô danh, đối diện với trang giấy trắng. Chỉ khi ấy, chữ mới còn chân thật.

Một bài thơ hay không cần ai chống lưng, nó chỉ cần một người đủ cô đơn để đọc nó đến tận cùng. Và nếu tôi còn giữ được sự cô đơn ấy, dù ở vị thế nào, thì có lẽ tôi vẫn còn là người viết.

Từ khi làm thơ viết văn đến giờ, lời khen hoặc chê nào khiến anh nhớ nhất? Vì sao?

Tôi nhớ nhất nhận định của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “Thơ Thanh cần vượt lối Mễ Trì.” Ông Nguyên nói rõ hơn: “Mễ Trì ở đây cụ thể là ký túc xá Mễ Trì của sinh viên khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, từ thập niên 1980 về trước, trung tâm của những đêm thơ sinh viên vang dội. ‘Lối Mễ Trì’ là nói một lối thơ sinh viên nhiều hứng khởi, nhiều đại ngôn, hay như chính Nguyễn Tiến Thanh đã định danh rất đúng là kiểu thơ ‘loạn bút’”.

Một câu nói vừa như khen, vừa như chê, mà thật ra là cả hai và đều đúng. Là lời khen vì nó thừa nhận một căn cước thơ đã được nhận diện. Mễ Trì là một không gian tuổi trẻ, một thế hệ, một thứ men say vừa học đường vừa lãng mạn mà tôi từng sống và viết từ đó. Khi anh Nguyên nói “vượt lối Mễ Trì”, nghĩa là cái lối ấy đủ rõ để được gọi tên, đủ riêng để có thể “vượt qua”.

Nhưng đó cũng là lời chê cần thiết của một người nhìn thấy khả năng khác mà tôi chưa chạm tới. Anh Nguyên muốn nói: Đừng ở mãi trong tiếng vang của thanh xuân, hãy để thơ đi xa hơn kỷ niệm, đi vào đời sống rộng và sâu hơn. Tôi coi câu nói ấy như một món quà hai mặt: vừa là sự ghi nhận, vừa là lời nhắc nhở. Một nửa làm tôi vui, nửa kia khiến tôi giật mình. Vì nếu mình không còn gì để vượt, tức là mình đã đứng yên.

Nói vậy, nhưng tôi cũng không dại gì nghe anh Nguyên xui. Tôi sẽ không tìm cách “rời bỏ” Mễ Trì, mà tìm cách khiến nó trưởng thành cùng mình. Tuổi trẻ, ký túc, những đêm đọc thơ, những ảo tưởng đẹp - tất cả là nguồn cội, nhưng không thể là giới hạn.

Anh Nguyên không chỉ nói với tôi, mà như nói với mọi người viết: Thơ không chỉ là nơi đến, mà là hành trình phải đi tiếp. Và tôi biết ơn nhà phê bình vì đã nói điều đó bằng một giọng vừa khen, vừa chê - đủ để khiến một người viết như tôi phải tiếp tục viết, nhưng không bao giờ tự mãn.

Nguyễn Tiến Thanh: “Thơ hay không cần ai chống lưng” - 5

Buổi ra mắt tập thơ “Viễn ca” đoạt giải Hội Nhà Văn 2024. Bìa phải là nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên.

Thơ cứu anh như thế nào? Nếu tuyệt đối chỉ có một mình anh viết và đọc thơ của mình thì nó vẫn cứu được anh chứ?

Thơ không cứu ta bằng phép màu, mà bằng việc nhắc ta rằng ta vẫn còn cảm giác. Khi đời sống trở nên ồn ào, xô lệch, thậm chí vô nghĩa, thơ xuất hiện như một khoảng lặng - nơi ta vẫn nghe được tiếng tim mình đập. Chỉ cần vậy thôi, nó đã mang tính cứu rỗi.

Thơ cứu tôi không phải bằng danh tiếng hay sự chia sẻ, mà bằng khả năng khiến tôi còn muốn viết tiếp, còn muốn sống tiếp. Viết một câu thơ là hành động chống lại sự chai sạn, là cách tôi nói với chính mình rằng: “Tôi vẫn còn đây, tôi vẫn biết đau, vẫn biết yêu, vẫn biết run tay khi chạm vào cái đẹp.”

Và nếu một ngày, chỉ còn mình tôi viết, chỉ còn tôi đọc- tôi nghĩ thơ vẫn cứu được tôi. Vì ngay trong khoảnh khắc viết, tôi đã không còn một mình nữa: tôi đối thoại với ký ức, với những điều đã mất, với những người không còn hiện diện. Mỗi chữ như một vết nứt, và qua vết nứt ấy, ánh sáng lọt vào.

Thơ cần có độc giả, đó là điều cần thiết tạo hứng khởi. Nhưng nếu không có độc giả, thậm chí không được phát hành thì thơ ít nhất vẫn cứu được người viết. Vì người đọc đầu tiên và cuối cùng của một bài thơ luôn là chính người viết. Tôi viết không phải chỉ để người khác hiểu, mà còn để tôi khỏi quên rằng mình vẫn có linh hồn. Và chỉ riêng việc đó thôi, đã là một cách được cứu rồi.

Cơn điên viết

Anh tự xếp Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết vào hình thức gì? Anh nghĩ sao về tính tiên phong hoặc khai mở về mặt thể loại của kiểu viết này?

Tôi tự coi cuốn sách này là “phi thể loại”. Tuy nhiên, nếu buộc gọi tên, tôi xếp nó vào thể loại trường luận thi ca- dạng giao thoa giữa tùy bút triết học, tiểu luận mỹ học và trường ca nội tâm. Ở đó, tôi không làm phê bình, cũng không làm thơ theo nghĩa thông thường, mà thử dựng lại hành trình tư tưởng và cảm xúc của người viết khi đứng giữa ngã ba: thơ - triết học - đời sống.

Đây là một thực hành viết, không chỉ là tác phẩm. Mỗi “khúc” là một trạng thái tồn tại, nơi ngôn ngữ vừa được phân tích, vừa được sống. Tôi không viết để giảng giải thơ, mà để sống qua thơ một lần nữa - bằng chữ.

Tôi nghĩ, sau nhiều năm đi qua báo chí, tiểu luận và thơ, tôi đã tìm thấy hình thức phù hợp nhất với bản thân: viết như đang suy tưởng, suy tưởng như đang độc thoại, độc thoại như đang làm thơ. Nó vừa có độ tự do của thơ, vừa có chiều sâu của luận đề, vừa giữ được nhịp xúc cảm của văn xuôi trữ tình.

Tôi không dám tự nhận là tiên phong, nhưng tin rằng hình thức “trường luận” - nơi ranh giới giữa phê bình và sáng tác bị xóa mờ - là con đường mà văn chương đương đại Việt Nam cần thử đi. Bởi khi thơ không còn được đọc như thơ, và phê bình không còn đọc như phê bình, thì giữa hai khoảng đó - cái vùng mờ đầy rủi ro - lại là nơi ngôn ngữ còn cơ hội được tái sinh.

Nếu có chút gì gọi là mới, thì cái mới ấy nằm ở chỗ tôi không tìm cách “định nghĩa thơ”, mà để thơ tự định nghĩa lại người viết. Đó chính là thể loại của những người không phân biệt thể loại như tôi.

Tập trường luận được triển khai như thế nào? Những hình thái xúc cảm nào đến với anh trong quá trình viết? Anh đón nhận hoặc chế ngự chúng như thế nào để đưa bản thảo đến đích?

Tôi không viết Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết như một dự án có sẵn đề cương, mà như một hành trình tự phát của ý nghĩ và cảm xúc. Tập trường luận này được triển khai theo đúng cách một dòng sông tìm đường ra biển: không theo sơ đồ, mà theo độ dốc tự nhiên của tâm thức.

Tôi không “dẫn dắt” ngòi bút; đúng hơn là ngòi bút dắt tôi đi. Mỗi đoạn mở ra từ một khoảnh khắc chạm chữ, một câu hỏi bật lên trong đầu, hay một kỷ niệm cũ bỗng va vào hiện tại. Từ đó, các phần nối nhau bằng logic của trực giác- chứ không của biện luận- nhưng vẫn giữ một mạch ngầm triết học xuyên suốt: Đi tìm ý nghĩa tồn tại của thơ trong một thế giới đã nguội đi niềm tin.

Trong quá trình viết, những xúc cảm đến với tôi rất đa dạng: hoài nghi, biết ơn, cô đơn, đôi khi là niềm vui lặng lẽ của kẻ vừa chạm lại một dòng ký ức mình tưởng đã quên. Có khi tôi đang viết một đoạn triết lý khô khan, thì một kỷ niệm thật vụn vặt-  mùi gió ở Mễ Trì, tiếng rao đêm ở phố Vọng- lại khiến chữ chuyển giọng, từ lạnh sang ấm, từ lý sang thơ.

Tôi không “chế ngự” cảm xúc, mà để nó đi qua mình rồi lắng lại. Viết trường luận này, tôi hiểu rằng cảm xúc nếu bị kiểm soát quá mức thì sẽ chết, nhưng nếu buông thả thì sẽ loãng. Nên tôi chọn cách đối thoại với cảm xúc như nói chuyện với một người bạn cũ- vừa giữ khoảng cách, vừa không nỡ rời xa.

Đưa bản thảo đến đích, với tôi, không phải là hoàn tất một công trình, mà là hoàn tất một giai đoạn sống. Khi câu cuối cùng khép lại, tôi không thấy mình kết thúc một cuốn sách, mà thấy mình vừa được giải phóng khỏi một chuỗi suy nghĩ đã ám mình nhiều năm. Có lẽ vì thế mà tôi đặt tên nó như vậy. Vì quả thật, viết xong, tôi được cứu.

Nguyễn Tiến Thanh: “Thơ hay không cần ai chống lưng” - 6

Bìa cuốn sách “Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết”.

Cuốn sách có thể khiến nhiều bạn đọc ngạc nhiên vì không ai nghĩ với thể loại đó, nó lại có thể to và dày đến thế. Hẳn anh đã lao tâm khổ tứ không ít vì nó?

Tôi viết Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết rải rác trong hơn hai mươi năm, từ khoảng 2004. Suốt thời gian ấy, tôi viết rất nhiều “khúc” nhỏ, phần lớn dở dang, chỉ là những đoạn ghi chú, những ý nghĩ rơi vãi giữa các chuyến công tác, những đêm trực duyệt tin hay những lần thức khuya sửa bản in. Chúng nằm im trong ổ cứng suốt nhiều năm, như những mảnh ký ức chưa kịp gọi tên.

Đến tháng 5/2024, khi chuyển về cơ quan mới, tôi mang theo chiếc ổ cứng ấy. Một buổi tối, tôi mở nó ra, đọc lại - và bỗng như rơi vào một cơn mê. Tôi không chủ động viết lại, mà đúng hơn là bị cuốn vào một cơn viết. Có lẽ trong tâm lý học sáng tạo, người ta gọi đó là trạng thái hưng cảm sáng tạo hay “cơn điên” - còn với tôi, nó là một cơn lũ chữ tràn tới, vừa khoái cảm, vừa khủng khiếp.

Suốt sáu tháng sau đó, công việc mới dồn dập, nhưng tôi sống trong hai thế giới song song: Ban ngày họp, ký giấy tờ, tiếp khách; trong đầu, chữ vẫn chạy, vẫn vang, vẫn gọi. Lúc ăn cơm, đang nói chuyện, trong đầu lại hiện ra những câu, những nhịp, những mạch tưởng tượng chưa kịp ghi. Đêm xuống, khi đóng cửa phòng và bật máy tính, tôi như rơi vào một không gian khác- vừa cô độc vừa đầy năng lượng.

Tôi hầu như thức suốt đêm trong suốt sáu tháng ấy. Trước đây, làm báo đã khiến tôi quen ngủ muộn, khoảng một giờ sáng. Nhưng giai đoạn đó, thường bốn, năm giờ sáng tôi mới thiếp đi. Vợ tôi rất lo. Nhưng tôi không dừng lại được - vì viết lúc ấy không còn là lựa chọn, mà là nhu cầu sinh tồn.

Thú thật, nếu tôi còn chịu đựng nổi “cơn điên sáng tạo” ấy, có lẽ cuốn sách đã không dừng lại ở khúc 165. Tôi viết chữ “Hết” lên trang cuối cùng trong một trạng thái vừa kiệt sức, vừa nhẹ nhõm. Khi đó tôi biết: mình không chỉ hoàn thành một bản thảo, mà vừa được cứu - được giải thoát khỏi một vùng đất nơi chữ nghĩa, khoái cảm và đau khổ hòa vào nhau thành một cơn mê.

Với sức viết đó thì sự xuất hiện của tập trường luận tiếp theo chỉ là vấn đề thời gian?! Và đề tài của nó sẽ là...?

Tôi nghĩ thời gian không phải là vấn đề quan trọng, mà là “cơn viết” có còn quay lại với người viết hay không. Với tôi, viết không bao giờ là kế hoạch, mà luôn là một trạng thái đến bất ngờ, và khi đã đến thì không cưỡng được. Và khi nó chưa đến, muốn cầu cũng không xong. Có khi 10 năm không viết, nhìn thấy máy tính và trang giấy là sợ. Có lúc viết lại như một thôi thúc nội tâm không thể dừng lại.

Tôi vẫn còn một bản thảo tiểu thuyết dang dở, viết về thời sinh viên. Nếu một ngày “cơn viết” quay lại, tôi nghĩ mình sẽ hoàn thành cuốn tiểu thuyết ấy, chứ không phải là tập trường luận tiếp theo. Tôi đang cân nhắc giữa hai cái tên: Văn khoa- cõi mê hoặc hoặc Ký ức màu tro bay trong nắng. Đó là câu chuyện không chỉ về tuổi trẻ, mà còn về cách một thế hệ đã sống, đã yêu, đã tin vào thơ ca như tin vào một lẽ sống.

Vì thế, tôi không hối thúc thời gian. Tôi chỉ chờ xem liệu chữ có còn tìm lại tôi, như lần trước- trong một đêm rất tình cờ - để rồi biến đời sống bình thường thành một cơn mê vừa đẹp, vừa đáng sợ. Nếu nó quay lại, tôi sẽ lại viết. Nếu không thì thôi- vì tôi biết, đôi khi, im lặng cũng là một phần của sáng tạo.

Nguyễn Tiến Thanh không cho rằng nếu chỉ chuyên tâm với văn chương, anh sẽ “thành công” hơn. Ngược lại, nó có thể khiến anh dễ rơi vào sự trừu tượng, tự mê hoặc và xa rời đời sống. Làm báo với anh chính là “chất nền” cho văn chương sau này. “Báo cho tôi cái nhìn về hiện tại, văn chương cho tôi cơ hội nhìn lại. Một bên dạy tôi hỏi, một bên dạy tôi lắng nghe. Ví von với một mối quan hệ, thì báo chí là người tình ồn ào, còn văn chương là tri kỷ lặng lẽ. Cả hai đều khiến tôi mất ngủ, nhưng chính nhờ thế mà tôi biết mình vẫn còn sống trong chữ,” anh kết luận.

Nguyễn Tiến Thanh: “Tôi không viết Những câu thơ không cần cứu ai nhưng cứu người viết như một dự án có sẵn đề cương, mà như một hành trình tự phát của ý nghĩ và cảm xúc. Tập trường luận này được triển khai theo đúng cách một dòng sông tìm đường ra biển: không theo sơ đồ, mà theo độ dốc tự nhiên của tâm thức.

Tôi không dẫn dắt ngòi bút; đúng hơn là ngòi bút dắt tôi. Mỗi đoạn mở ra từ một khoảnh khắc chạm chữ, một câu hỏi bật lên trong đầu, hay một kỷ niệm cũ bỗng va vào hiện tại. Từ đó, các phần nối nhau bằng logic của trực giác- chứ không của biện luận- nhưng vẫn giữ một mạch ngầm triết học xuyên suốt: Đi tìm ý nghĩa tồn tại của thơ trong một thế giới đã nguội đi niềm tin”.

Nguyễn Mạnh Hà (thực hiện)

Tin liên quan

Tin mới nhất