Tadeusz Rozewicz - nhà thơ cách tân của Ba Lan

Từ những ám ảnh và đổ vỡ do Chiến tranh thế giới thứ hai để lại, Tadeusz Różewicz đã đi tìm một cách biểu đạt mới, góp phần tạo nên diện mạo khác cho thơ ca Ba Lan sau chiến tranh. Thơ ông tiết chế, tự do, gần với lời nói đời thường nhưng chất chứa những câu hỏi lớn về con người, sự sống và khả năng tồn tại của thi ca sau những thảm họa của thế kỷ XX. 

Tadeusz Rozewicz sinh ngày 9 tháng 10 năm 1921 tại Radomsko, Ba Lan, tốt nghiệp khoa sử tại Trường Đại học Jagielonski thành phố Krakow. Trong Đại chiến thế giới lần thứ II ông tham gia quân du kích, chiến đấu ở trong rừng. Cũng chính trong thời gian đó tác phẩm đầu tay của ông Tiếng vọng của rừng đã trình làng.

Tadeusz Rozewicz - nhà thơ cách tân của Ba Lan - 1

Nhà thơ Tadeusz Rozewicz

Trước ngày chiến tranh kết thúc kẻ thù đã giết hại người anh ruột của ông, cũng là một nhà thơ và chiến sĩ du kích. Đối với ông, những gì xảy ra ở Trại giam Auschwitz là một cú sốc mạnh, là tội ác tày trời, là mối thù muôn đời muôn kiếp không tan. Ông cho rằng, những sự kiện đau thương ở Auschwitz không thể không tác động tới diện mạo của thi ca Ba Lan. Thơ sau Auschwitz phải lớn tiếng nói lên thảm họa của những người đã bị giết hại, của những người còn sống và phải mang phong cách mới. Để trả lời câu hỏi: Liệu có còn thơ sau các vụ giết người hàng loạt ở Auschwitz? Ông nói: “Một nhiệm vụ đang chờ tôi/ Xây dựng một nền thơ sau Auschwitz”.

Dưới tác động của những đau thương mất mát do chiến tranh gây nên, Rozewicz đã lao vào cuộc cách tân thơ, cuộc cách mạng tổng hợp trên thi đàn Ba Lan sau chiến tranh. Ông chủ xướng thơ mới - thơ tự do, thơ không vần dựa trên nền tảng của cái gọi là sự tích tụ, thể thơ như vậy chứa đựng và chuyển tải được nhiều nội dung hơn thơ lối cũ. Hai tập thơ liên tiếp của ông Không bình yên (1947) và Chiếc găng tay đỏ (1948) là hai tập thơ đã thực hiện một cuộc cách tân thật sự, là những thể nghiệm thành công của ông.

Những tập thơ đầu của ông thực chất là những tập hồi ký bằng thơ về thế hệ của ông, về nỗi đau mà ông từng nếm trải do đất nước bị chiếm đóng. Rozewicz đã tạo được cho mình một phong cách riêng, một ngôn ngữ riêng và thực tế cho thấy bạn đọc đã thực sự mến mộ phong cách và ngôn ngữ ông dùng. Cuộc cách tân do ông thủ xướng đã làm thay đổi ít nhất hai lĩnh vực văn học Ba Lan sau chiến tranh: thơ và kịch. Làn gió thơ mới đã thổi vào thi đàn Ba lan, đem lại cho thi ca luồng sinh khí mới.

Các nhà thơ Przybos, Staff và Milosz là những người ngay từ buổi đầu đã thấu hiểu mục tiêu cách tân thơ mà Rozewicz theo đuổi. Staff công nhận rằng, ông đã chịu ảnh hưởng của Rozewicz và càng quý trọng ông. Dẫu rằng giữa Czeslaw Milosz và T. Rozewicz còn nhiều điểm bất đồng, nhưng bằng phương cách của mình chính Rozewicz đã thực hiện một trong những yêu cầu cốt yếu mà Milosz đòi hỏi – đó là dạng thức lượng lớn trong thơ cũng như trong trường ca. Trong một bài thơ của mình gửi Tadeusz Rozewicz, nhà thơ được giải Nobel này viết:

"May mắn thay một dân tộc có nhà thơ

Không bước đi lặng lẽ trong khốn khó của mình"

Chăm lo cho sự phát triển của nền thi ca Ba Lan, ông đặc biệt quan tâm tới các nhà thơ trẻ. Ông kêu gọi họ phải tôn trọng sự thật, không viển vông xa lạ, phải bám sát cuộc sống đời thường. Ông nói: “Để thơ có thể là thứ thiệt thì người làm thơ phải bắt đầu từ miêu tả bộ mặt của chính mình” và những sự việc tưởng như  chẳng có gì ghê gớm nhưng lại tác động tới hình thái của cuộc sống con người”. Theo ông, nền thi ca đương đại Ba Lan chưa thật sự ăn nhập với cuộc sống, chưa mạnh dạn nhìn vào thực tế. Cần phải xác định một điều là , nhà thơ có trách nhiệm với mình và với dân tộc.

Tadeusz Rozewicz đã để lại cho dân tộc Ba Lan di sản văn học với hàng chục tác phẩm văn xuôi, thơ và kịch. Đặc biệt, với tác phẩm rất xuất sắc Mẹ ra đi, viết về người mẹ quá cố của mình, ông đã được tặng Giải thưởng Văn học NIKE (Nữ thần Chiến thắng) năm 2000, giải thưởng văn học hàng năm danh giá nhất Ba Lan.

Dưới đây là một số bài thơ của Tadeusz Różewicz qua bản dịch của dịch giả Lê Bá Thự.

Con chim hổ phách

Mùa thu

con chim hổ phách 

suốt trong

chuyền cành

mang giọt vàng

Mùa thu

con chim rubi

long lanh

chuyền cành

mang giọt máu

Mùa thu

con chim xanh

lìa đời

hạt mưa rơi

chuyền cành.

Sung sướng biết bao

Sung sướng biết bao Anh được hái

quả dại trong rừng

anh cứ tưởng

chẳng còn rừng và quả dại

Sung sướng biết bao Anh được ngả lưng

dưới bóng cây

anh cứ tưởng

cây chẳng còn cho bóng mát

Sung sướng biết bao Anh được ở bên em

con tim anh đập mạnh

anh cứ tưởng

con người chẳng còn trái tim.

Màu mắt và những câu hỏi

Có phải người yêu của tôi

có đôi mắt xanh

ánh bạc

Không

Có phải người yêu của tôi

có đôi mắt nâu

ánh vàng

Không

Có phải người yêu của tôi

Có đôi mắt huyền

hiền dịu

Không

Người yêu của tôi có đôi mắt

rơi vào tôi

như mưa thu

u buồn.

                         1954

Những bông hồng xanh của nhà thơ

Tôi đã thấy nhà thơ

gieo gió

anh ta làm rất đạt

như bông hoa

vãi hạt

Ra về

nhà thơ không gặt bão

ôm một bó hoa hồng

những bông hồng màu xanh.

Sống

Sống

Trong cửa quay

Tôi viết

truyện và 

kịch

và đây là một trong “những bí mật”

của vở kịch của tôi

trước khi ý tưởng vào

bên trong cửa với “nhân vật chính”

nó đã ở ngoài cửa

với nhà phê bình

tác phẩm tôi bắt đầu viết

ở trang này là lời

ở trang kia tôi kết

không lời

cái bóng đã đi theo tôi

giờ đang vượt trước tôi

một đoạn bằng cái lưỡi.

Bài tập về nhà

Bài tập về nhà

cho nhà thơ trẻ

Đừng miêu tả Pa-ri

Lờ-vốp hay Cơ-ra-cốp

Hay miêu tả mặt mình

từ trí nhớ

chớ có dùng gương

trong gương bạn dễ nhầm

thật và ảo

Khỏi miêu tả thiên thần

hãy miêu tả con người

hôm qua bị bạn bỏ rơi

hãy miêu tả mặt mình

và chia sẻ cùng tôi

những nét đầy tính cách

tôi chưa hề đọc

chân dung tự họa đẹp

trong làng thơ Ba Lan.

Nhà thơ về hưu

                tặng Czeslaw Milosz

Ngồi xuống ghế

cởi mục kỉnh

nhắm hai mắt

lau mục kỉnh

Giở tờ báo nhìn quanh thế giới

gập báo và đứng dậy

loạng choạng

chống ba-toong

đọc dòng chữ

trên thành ghế 

chân bước miệng lẩm bẩm

lão trò chuyện với các nhà thơ

dưới mồ

hai người đàn bà

bước lại hỏi nhà thơ

ngài có đọc thánh kinh

có tin địa ngục

chấm dứt thiên đường trên mặt đất

nhà thơ lắc đầu cười

về già lão ưa

trò chuyện với những người

im lặng

lão bước tiếp

ngồi xuống ghế

ngắm mây trời

một con quạ

bay tới

xuyên chiếc lông đen

qua miệng nhà thơ

khâu lại

và bay đi.

Lê Bá Thự

Tin liên quan

Tin mới nhất

"Cuộc phiêu du của Chép Hồng" và bản thể lưu động của nước

Trong vài năm trở lại đây, văn học thiếu nhi Việt Nam bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm mang tinh thần sinh thái, nhưng không phải cuốn sách nào cũng vượt qua được giới hạn của một câu chuyện giáo huấn khoác áo đồng thoại. "Cuộc phiêu du của Chép Hồng" của Phạm Hồng Điệp (NXB Tri thức, 2026) là một trường hợp đáng chú ý bởi nó vừa kể một cuộc phiêu du của loài cá, vừa

“Thép dưới cỏ” - Tiểu thuyết của Hữu Thỉnh

“Thép dưới cỏ” - Tiểu thuyết của Hữu Thỉnh

"Thép dưới cỏ". Chỉ cần đọc qua tựa đề, trong mỗi người đọc có thể hình thành ngay một triết lý: Dưới sự mềm mại của cỏ là sự rắn chắc của thép. Một triết lý tự nó hàm chứa chất thơ từ đời sống, ở đây là hiện thực đời sống chiến tranh mà dân tộc đã trải qua cách đây gần sáu chục năm.