Tướng lĩnh và Nghệ sỹ
Chuyện kể của Đạo diễn Khắc Tuế - Nguyên Đoàn trưởng Đoàn Ca múa quân đội.
Đạo diễn Khắc Tuế là một “kho tàng” rất phong phú về nghệ thuật người lính, về quân đội, về tình cảm của những vị tướng lĩnh quân đội với văn hóa văn nghệ, với người lính nghệ thuật…
Về đại tướng Hoàng Văn Thái, ấn tượng sâu sắc với một người Lính nghệ thuật như tôi thì đó là “Một vị tướng biết…ăn trầu và kéo nhị!”.

Đại tướng Hoàng Văn Thái.
Ngay từ thuở nhỏ, tôi đã biết tên ông là Hoàng Văn Thái, quê Thái Bình. Mãi đến tháng 12/1964 tôi mới có vinh dự được phục vụ ông. Nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập QĐND VN, Bộ trưởng Quốc phòng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã mời Bộ trưởng Quốc phòng Đại tướng Kim TXang Pông của Triều Tiên sang thăm ta. Ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp uỷ quyền dẫn đoàn đại biểu quân sự Triều Tiên thăm Hạ Long. Tôi có nhiệm vụ phiên dịch tiếng Triều Tiên phục vụ ông.
Trên đường từ Hà Nội đến Hạ Long, tôi được ngồi cạnh ông. Quãng đường dài, ông kể tôi nghe rất nhiều chuyện vui, trong đó có câu chuyện mà tôi thích nhất vì nó có mối quan hệ đến nghề nghiệp của tôi, đó là ông đã từng kéo đàn nhị - hát xẩm để che mắt địch khi hoạt động cách mạng hồi trước năm 1945.
Đất Thái Bình - một trong những cái nôi của nghệ thuật chèo. Ông vốn thích chèo, dân ca, nên tốt nhất là học kéo nhị là dễ bề bịt mắt địch, lại có khi kiếm ăn cũng kha khá.
Những năm trước khi tổng khởi nghĩa 1945, ông đã rời quê Thái Bình lên Chiến khu Việt Bắc và đi hoạt động, học tập ở Trung Quốc. Ông giỏi tiếng Trung Quốc đến mức có thể giải thích những danh từ khó như Ping Nang là cái lá trầu. Ông là một trong ba mươi tư chiến sĩ giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay. Ông rất vui tính, dễ hòa đồng với cấp dưới. Khi đoàn xe qua cầu Long Biên, chẳng may chiếc xe ba bánh, hiệu U Ran của công an dẫn đường bị chết máy ngay giữa cầu, ông bảo: "Này! Thế bây giờ thì ai phạt các anh đây?", mấy đồng chí công an lại càng rối. Ông bảo, nói thế thôi, chứ việc máy móc nó là cơ khí chính xác, làm vội là không xong đâu!
Trên đường 18 hướng Quảng Ninh, ông kể một câu chuyện thật ly kỳ về việc ông học kéo nhị: Hôm ấy giữa ngày mùa, dân Thái Bình thất bát, cái vựa thóc của bảy tỉnh đồng bằng mà thiếu đói thì vấn đề xã hội sẽ triền miên xảy ra trộm cắp. Đúng lúc, chi bộ đảng phân công ông vận động tên Lý Hiệu - Lý trưởng giàu nứt đố đổ vách của làng, lão này cũng mê hát cô đầu, lại có cả một phường bát âm - (Ban nhạc hiếu) trong nhà.
Quanh năm suốt tháng ban này vòng vo trong Tổng, cũng chẳng có kẽ hở ngày nào. Ông xin vào ban này, nói khó với tay trưởng ban, ông bảo tôi có thể kéo nhị và cũng có thể khóc thuê được. Ông bèn vơ lấy cái nhị treo trên tường, kéo luôn điệu lâm khốc và đồng thởi, nỉ non khóc luôn. Ông khóc luôn tôi nghe "ơi y a ởi í cha ơi y a Ngày thu một lá dầu vàng / mà sao cha bỏ họ hàng cha đi… ới y a à cha a a ơi y a". Ông cũng đăm đăm với bộ mặt đưa đám phải nói là rất đạt - Rất Lâm Khốc!
…Đến Quảng Ninh, đưa khách đi thăm Vịnh, tôi cũng định bụng, chiều về ăn cơm ở khách sạn, tôi sẽ phôn cho Ty Văn hóa mượn cái nhị để ông kéo và tôi sẽ tập… khóc cho vui. Đương nhiên là trong phòng riêng thôi. Ông cũng rất xuề xòa dễ tính, lại rất thích kéo nhị nữa. Ông bảo, chả mấy khi được ra khỏi cái nơi - "căng căng đầu óc, giờ giờ nghe tin"! Triều Tiên vốn là dân sính văn nghệ, một vị Trung tướng Hậu cần bèn nhẹ nhàng lén nghe ông tướng Phó tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam kéo nhị và hát rất thống thiết. Lại có mùi vị dân ca của Triều Tiên. Thấy tướng Triều Tiên đứng nghe lỏm, ông mời luôn vào nghe chính thức:
- Đồng chí! Vào đây chơi, nghe anh em tôi tự biên tự diễn cho đỡ buồn. Ông bạn Triều Tiên mắt sáng lên:
- Có thể phải không?
- Xin mời vào!
Phó Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam rất ung dung tự tại kéo nhị và hát xẩm, sở đoản của ông trong những ngày hoạt động trong bóng tối. Ông cất lời ca buồn buồn uể oải: "Quê ta lúa đã chín vàng, à/bỗng dưng ư quân Nhật á nó sang a cướp về /Não nùng cảnh đói dân quê. Hai triệu người phải chầu về Diêm Vương". Mắt ông đỏ lên thật. Hạ cây nhị xuống, ông hỏi ông tướng bạn: Thế nào, bên các đồng chí có loại nhạc cụ này không?
- "Ồ, cả bốn nước chúng ta: Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản đều dùng chữ Hán, cho nên chúng ta có nhiều điểm tương đồng, tôi được xem Bảo tàng của các quốc gia nói trên đều có cây đàn hai giây này. Điều quan trọng là hôm nay tôi được thấy một vị tướng của Việt Nam có một bề dày về hoạt động cách mạng, nhờ tài năng âm nhạc mà ông đã bịt mắt kẻ thù để dễ dàng hoạt động cách mạng".
Những hình ảnh Đại tướng chụp ảnh, rồi bây giờ lại thấy trung tướng kéo nhị thì ở chúng tôi là không có!
…Sau đó một năm rưỡi, tôi được nhận nhiệm vụ làm Trưởng đoàn công tác địch vận, đưa hơn hai mươi vị tướng, tá của Bắc Triều Tiên, vào giúp ta đánh quân Nam Hàn hung ác đối với đồng bào hai Huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Một cuộc hành quân lịch sử đối với hơn hai mươi tướng, tá của quân đội nhân dân Triều Tiên. Vốn xưa nay, các bạn đều chiến đấu theo phương thức hợp đồng tác chiến - chính quy, hiện đại nên lần đầu thấy quân, dân Việt Nam đánh du kích, kết hợp với bộ đội chủ lực đã thấy lạ, và còn lạ hơn là hành quân trên đường Trường Sơn đèo cao, suối sâu, vác nặng trên vai gần ba chục cân, trèo núi, đường xa thì còn lạ, quá lạ! Đặc biệt là cái bếp Hoàng Cầm lại còn lạ hơn. Thế là các ông bạn Triều Tiên và cả Trung Quốc nữa cũng vẽ bếp Hoàng Cầm…để về "nghiên cứu".
Trong đoàn quân điệp trùng từ Hà Nội vào Sài Gòn và Tây Ninh, còn đoàn chúng tôi thì rẽ xuống xuôi phía biển thuộc Quân khu V. Đến khu rừng thuộc tỉnh Quảng Nam, đang lo ổn định nơi ăn chốn ở thì có lệnh của Văn phòng Quân khu. Tôi phải đến báo cáo ngay với Tư lệnh Trưởng Quân khu.
Đến một khu đồi, lác đác có những hố bò, sâu khoảng 4,5 mét, rộng khoảng 6m2 ở dưới đó, có những dóng cây gác đôi đầu hố, có thể treo võng cho 4, 5 người. Tôi bước theo chân đồng chí Giao liên xuống giữa chừng đồi thì gặp hai hố bò giống nhau, tôi bước xuống dưới ánh đèn dầu thấy một người cao, to vẫn ngồi trên võng hỏi: "Tuế đấy à?".
Tôi đáp:
Xin cho gặp Thủ trưởng Khang?
Tớ là Khang chứ còn ai nữa.
Tôi nhận ra đó là đồng chí Hoàng Văn Thái, tôi bước vội đến ôm chầm lấy ông, ông cũng ôm tôi thật chặt rồi bảo tôi ngồi xuống cái ghế băng, dành cho những người đến làm việc với Tư lệnh.
Ông bảo: Đi đường cực lắm phải không? Khi tớ vào đến đây, nghĩ lại đoạn đường đi quả là chưa từng có trong đời. Bây giờ bảo đi lại một lần như thế nữa thì cũng đến chịu.
-Thế nào, ngoài ấy cô Diệp vẫn công tác cũ chứ?
- Sao anh lại biết Diệp? Tôi hỏi ông.
Ông bảo hè nào mà cô ấy chả đến huấn luyện Quốc tế vũ cho chúng tớ. Thôi, bây giờ tranh thủ làm việc. Cậu nhớ là tình hình quân Nam Triều Tiên ở hai Huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh của Quảng Ngãi là rất căng! Quân khu chỉ yêu cầu trước mắt có ba việc: Một là dạy tiếng, đồng thời dạy karate đặc công. Hai là làm sao trong một thời gian ngắn dần có thể nói được những từ sinh hoạt. Ba là nắm cho thật chi tiết diễn biến tư tưởng của lính Nam Hàn hiện ở khu Năm này.
Đặc biệt có ý kiến của anh Văn "nếu bắt được, tiêu diệt được hoặc làm bị thương được một lính Nam Triều Tiên là được thưởng một huân chương chiến công hạng Nhất! Việc này cậu phải quán triệt cho cả ta và bạn".
Trước khi ra về, Thủ trưởng còn với tay lên bờ tường lấy một hộp sữa còn ăn dở: "Đây cũng là quà của anh Văn gửi cho tớ mà tớ phải ăn dè cả tháng nay, mang về mà ăn". Tôi cảm động quá, nếu Thủ trưởng đưa cho tôi hộp sữa còn nguyên thì lại là chuyện khác.
Tôi nhìn Thủ trưởng thấy thân thiết hơn lúc nào hết:
Anh ơi thế anh có cần cái nhị mà kéo cho đỡ buồn không?
Anh Khang bảo:
Bây giờ tớ phải đứng ở vị trí số một rồi, làm sao có thì giờ mà nhị với tam nữa!
Em tưởng anh cần thì em sang bên phòng tuyên huấn mượn tạm để anh cò cử cho vui.
Ông rút dưới đáy ba lô ra mấy cuốn băng cát xét, ông bảo, tất cả những gì mình thích nó nằm ở trong này cả rồi. Nhiều hôm cái thằng "toạ độ" nó quấy nhiễu thì chỉ lo mà chui vào hầm thì cát xét cũng vứt!
Tôi chào Thủ trưởng ra về, Thủ trưởng định bước lên khỏi hố Bò tiễn tôi, ngay lập tức, đồng chí bảo vệ ngăn lại - xin Thủ trưởng đừng lên… Ông với theo: "Nhớ cho mình thăm các ông bạn và cả thảy anh em ta nhá!".
Tôi bước đi mà còn ngoài lại mãi, để ngắm nhìn một vị tướng đánh giặc tài giỏi mà cũng rất… văn nghệ và yêu thương cán bộ chiến sỹ tột cùng….
*
“Anh Văn là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, anh Văn cũng là bạn chiến đấu của cán bộ và chiến sĩ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ít có quân đội nào trên thế giới lại biến Tổng tư lệnh thành người anh thân thiết như anh cả trong gia đình. Có lẽ điều đó cũng góp phần để cắt nghĩa rằng, tại sao Quân đội nhân dân Việt Nam lại có thể đánh thắng những đội quân hùng mạnh và hiện đại nhất thế giới.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Thật may mắn và hạnh phúc cho tôi đã nhiều lần được gặp và phục vụ anh Văn. Lần đầu tiên tôi được đến nhận nhiệm vụ làm phiên dịch cho anh Văn. Tôi thực hiện đúng như điều lệnh đã học: Khi bước vào gặp Đại tướng Tổng tư lệnh, tôi bước tới đánh hai gót chân vào nhau, giơ tay chào, miệng đồng thời:
Báo cáo Đại tướng, tôi có mặt.
Tôi chờ một gương mặt nghiêm nghị kèm theo câu trao nhiệm vụ như điều lệnh đã quy định! Không, Đại tướng thân tình, niềm nở, đưa tay đặt nhẹ lên vai tôi:
Nào, cậu hãy ngồi xuống đây đã.
Giây thần kinh tôi trùng hẳn xuống, sao Đại tướng lại thân tình, giản dị như vậy? Đại tướng hỏi tôi:
Cậu sang học Triều Tiên bao lâu?.
Cảm thấy cách xưng hô là Đại tướng không hợp trong lúc này, tôi thưa thủ trưởng, em học bốn năm ạ. Đại tướng bảo:
Ta sẽ đón đoàn đại biểu cấp cao Quân đội Nhân dân Triều Tiên do Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Kim Txang Bông dẫn đầu, sang dự lễ kỷ niệm 20 năm, Ngày thành lập Quân đội ta, cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch giúp tôi.
Sau đó, Đại tướng tìm hiểu về phong tục tập quán của người Triều Tiên. Tôi ngồi bên cạnh Đại tướng, thật ấm cúng, thân tình.
Vào một buổi sáng mùa Đông 1964, tôi ngồi trên xe giữa hai Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Kim Txang Bông. Tôi đã dịch trung thực với những câu nói giao đãi giữa hai ông, hai ông nói sao tôi dịch vậy chứ không có chữ thưa đồng chí, đồng chí ấy nói rằng, tôi cũng thể hiện đúng phong thái và ngữ điệu trong câu nói, làm cho hai ông nhanh chóng gần gũi nhau. Có lúc cả hai ông đều vui vẻ hài lòng và vỗ vai tôi: "Lém quá"!
Sau đó, trong bữa tiệc do Bác Hồ chủ trì, có các vị trong Bộ Chính trị và tướng lĩnh của hai bên. Bác Hồ không cần đến phiên dịch và Người chỉ nói một câu: "Nếu là tướng lĩnh thì hãy cầm đũa xung phong!". Bữa tiệc đó, đối với tôi Đại tướng đã chăm chút từng tí một, liên tục gắp cho tôi, còn nói vui giục tôi "kin" đi để lấy sức mà làm việc.
Hôm tiễn đoàn bạn ra về, có một sự trục trặc ở sân bay Gia Lâm nên chưa thể tiếp nhận khách được, cả đoàn bạn sốt ruột ra vào đứng chờ, trong khi đó, các cán bộ của ta tỏ ra lúng túng không biết xử lý ra sao. Đại tướng đến trước đồng chí Trung tá, phóng viên nhiếp ảnh của bạn: "Này đồng chí, cho tôi mượn máy ảnh để chụp cho đồng chí một kiểu, vì phóng viên nhiếp ảnh thì chả bao giờ có ảnh của mình".
Đồng chí phóng viên bạn trao máy ảnh cho Đại tướng và tỏ vẻ rất ngạc nhiên về động thái này. Đại tướng dắt đồng chí đó ra đứng bên cạnh một cây cảnh rồi thao tác rất thành thạo, nâng máy ảnh lên chụp. Đây là một hiện tượng đặc biệt đối với người Triều Tiên, nên tất cả đoàn bạn xúm lại xem.
Thấy các bạn có vẻ lấy làm lạ lẫm, Đại tướng liền giải thích: "Xưa kia tôi đã từng làm báo và đã từng có ảnh đăng báo". Đại tướng tiếp tục kể chuyện cho đến lúc có tín hiệu ở sân bay báo đã có thể nhận khách. Sự kiện này đối với bạn là một kỷ niệm sâu sắc, còn đối với các cán bộ trong Ban tổ chức của ta là một bài học về cách ứng xử linh hoạt với những sự cố đột xuất phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Một lần nữa sau khi hoàn thành nhiệm vụ công tác địch vận đối với quân đội Nam Triều Tiên trong Chiến dịch Mậu Thân năm 1968, từ chiến trường miền Nam ra, tôi vinh dự được đến báo cáo với Đại tướng. Sau khi nghe báo cáo xong, Đại tướng ân cần thăm hỏi tỉ mỉ về tình hình gia đình và gọi Thiếu tướng Lê Hiến Mai - Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đến, yêu cầu điều tôi trở lại làm nghệ thuật, đúng như ngành nghề đã học, không làm chéo ngành chéo nghề nữa.
Sau khi tôi trở về Đoàn Ca múa TCCT công tác, nhân Kỷ niệm 25 năm ngày Thành lập Quân đội, tôi đã chỉ đạo xây dựng một chương trình hoành tráng, trong đó có tiết mục ca múa lớn: "Sáng tiễn Bác ra đi, chiều tất cả ra chiến trường". Hôm biểu diễn ở Hội trường Ba Đình, Đại tướng đã xem và khóc vì quá xúc động bởi tiết mục này, khi giữa chừng nghỉ 15 phút Đại tướng gọi tôi xuống khu khán giả Đại tướng chân thành nói: "Tiết mục của cậu nói về Bác hơi nặng và hơi thật, cậu làm tôi khóc đấy; chữa bớt đi được không?".
Tôi thành thật báo cáo với Đại tướng: "Thưa thủ trưởng, nếu em chữa đi mà thủ trưởng không khóc nữa thì coi như bỏ". Đại tướng cười đôn hậu, nhẹ nhàng vỗ vai tôi: "Thôi tuỳ cậu, à mà này, nhớ mang vào quê Bác diễn cho đồng bào xem đấy nhé!".
Lại nhớ Mùa xuân năm 1975. được tin quân ta thắng to ở Tây Nguyên, đề phòng Mỹ - Nguỵ sẽ phản ứng ra miền Bắc, sáng ngày 4 tháng 4 năm 1975, một nhóm nghệ sĩ chủ chốt của Đoàn Ca múa Tổng cục chính trị gồm: Tường Vy, Linh Nhâm, Kim Cúc, Hoài Thu, Minh Nguyệt, Huy Luân, Tạ Đôn đi chiếc xe com-măng-ca đít vuông (GAS 69) hướng sang trận địa pháo bảo vệ sân bay Gia Lâm.
Khi đến cầu Long Biên thì bị công an ách lại hỏi:
Trên xe này có ai tên Khắc Tuế không?
Tất cả anh chị em ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra. Tôi trả lời đồng chí công an:
Có tôi đây.
Đồng chí công an mừng rỡ:
Vậy thì đồng chí cho xe quay về ngay Cửa Đông, đi nhanh lên nhé!
Chúng tôi quay lại Cửa Đông thì có đồng chí bộ đội đưa cho tôi phong bì dán kín, mở ra có mấy chữ ngắn gọn của nhà thơ Chính Hữu - Cục phó Cục Văn hoá TCCT: "Khắc Tuế! Anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) làm việc rất căng, các cậu đến ngay với anh Văn! Tạm hoãn đến mai đi trận địa pháo. Ký tên Chính Hữu".
Chúng tôi được đồng chí cận vệ của anh Văn dẫn vào số nhà 28 Cửa Đông, cắt góc đường Lý Nam Đế. Nghe nói ở đây là ngôi biệt thự của tên quan sáu người Pháp để lại. Ngôi nhà ba tầng, có cầu thang xoáy trôn ốc rất điệu nghệ và rộng rãi. Khi chúng tôi bước vào thì anh Văn hạ ống nghe, từ trong lồng kính của cầu thang xoáy trôn ốc ấy bước ra. Anh rất vui báo tin cho chúng tôi:
Quân ta đã tiến vào Nha Trang rồi.
Chúng tôi quá đỗi vui mừng. Bất giác, tôi kêu lên:
Ôi thần tốc như Quang Trung
Anh Văn nói ngay:
Đúng, tôi đã điện cho mặt trận, phải thần tốc thần tốc hơn nữa! Táo bạo táo bạo hơn nữa!
Vì là nơi đầu não của Bộ Tổng Tư lệnh nên chúng tôi không dám ồn, chỉ quây quần bên anh Văn rồi hát và ngâm thơ khe khẽ đủ để anh Văn nghe. Cứ mỗi tiết mục diễn xong, anh Văn lại hỏi và nói chuyện với diễn viên vừa diễn tiết mục ấy, anh bảo Tường Vy:
Bây giờ Tường Vy có thể lên Tây Nguyên hát "Cô gái vót chông" được rồi đấy.
Đến lượt Kim Cúc hát bài "Lý chiều chiều" dân ca Nam Bộ, giọng trầm ấm, vốn được bộ đội rất thích thú, đi biểu diễn ở bất cứ nơi nào, bất cứ hoàn cảnh nào đều phải diễn lại, hôm nay diễn cho anh Văn cũng được anh khen rồi anh nói với mọi người:
Các cô phải chú ý giữ lấy giọng cho tốt để phục vụ bộ đội lâu dài. Nên nhớ rằng, giọng của các cô cũng là một thứ "vũ khí" đấy.
…Trước khi ra về, anh Văn nhắc chúng tôi:
Các cô, các cậu về liệu mà làm chương trình để vào Sài Gòn biểu diễn cho nhân dân và bộ đội trong ấy xem. Nhớ giữ gìn sức khoẻ.
Anh Văn ân cần bắt tay từng người. Chúng tôi vô cùng sung sướng được hát trực tiếp cho anh Văn nghe, được bắt tay anh Văn vào những thời khắc lịch sử nhất của cuộc kháng chiến, lòng tôi lâng lâng vì nghĩ chắc ngày giải phóng Sài Gòn đã không còn xa nữa…
Đúng là chỉ một thời gian ngắn sau, chiến dịch Hồ Chí Minh vào giai đoạn cuối. 9 giờ sáng ngày 25/4/1975 chúng tôi lên Cục tuyên huấn TCCT nhận nhiệm vụ mới. Tổng cục giao cho tôi nhiệm vụ phải quản lý đơn vị chặt chẽ và chuẩn bị ngay chương trình chào mừng giải phóng miền Nam với quy mô hoành tráng!
Anh em lao vào luyện tập đêm ngày cùng tiếng súng chiến dịch. 8 giờ sáng ngày 30/4/1975 tôi được gọi về Tổng cục để giao ban. Nói là giao ban nhưng thực ra Tổng cục triệu tập các cán bộ đầu ngành lên để nghe diễn biến chiến trường. Tất cả chúng tôi ngồi nghe Đài Phát thanh Sài Gòn qua chiếc đài ori-onton của Hungari khi nghe thấy tiếng Tổng thống Ngụy - Dương Văn Minh tuyên bố đầu hang, thì tôi vội chạy ra nhảy lên chiếc môtô Hạnh phúc 150 phân khối phóng một mạch từ Tổng hành dinh về khu văn công Mai Dịch.
Về đến khu văn công, tôi nhớ năm 73 đoàn đi dự Festival lần thứ 10 tại Berlin còn lại một bánh pháo dài 4m chưa dùng tới, thế là tôi lôi ra đốt inh ỏi cả khu văn công Mai Dịch. Trong tiếng pháo, tôi gào lên:
Giải phóng Sài Gòn rồi, giải phóng miền Nam rồi!
Nhiều anh chị em quá vui sướng đã nằm lăn xuống đất, chân tay đập lung tung - vung tứ linh! Họ gào thét khản cả giọng. Tôi nhắc anh chị em:
Hát thì phải giữ giọng, múa thì phải giữ chân tay, đừng có mà quá khích là hỏng việc đấy!
Sáng hôm sau 1-5, Tổng cục Chính trị cử anh Huy Du và anh Đinh Mộng Bạch đi trên chuyến máy bay IL18 của Liên Xô vào Sài Gòn làm tiền trạm cho đoàn, cũng là thử hạ cánh ở sân bay Tân Sơn Nhật xem sao (đương nhiên trên máy bay có nhiều đại diện các cơ quan trong Tổng cục Chính trị).
Ngày 2-5, tôi được anh Hoàng Xuân Lượng, Phó văn phòng Tổng cục Chính trị báo tin: "Tổng cục đồng ý cho đoàn hành quân vào Sài Gòn bằng máy bay, nhưng cậu phải liên lạc ngay với anh Phùng Thế Tài". Tôi báo cáo lại với anh Lượng: "Tôi đã bị anh "Phùng Thế Ục" bạt tai tại trận Chùa Thông - Quán Gánh năm 1948, mãi gần đây anh vẫn chưa quên, nên việc xin máy bay phải có ý kiến của Tổng cục thì mới yên tâm được!".
Cho mãi đến sáng 14-5 bộ đội không quân mới xếp được máy bay để chở đủ cơ số của đoàn gồm một IL18, một Yak40 và một trực thăng Mi6 để chở sân khấu, đạo cụ, phục trang.v.v… Con đường Hà Nội - Sài Gòn trong những năm chiến tranh chúng tôi phải hành quân mất 6 tháng thì nay chúng tôi chỉ bay 2 giờ 15 phút. Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh miền, chúng tôi được phép đóng quân tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Buổi biểu diễn đầu tiên của đoàn tại sân bay cho hàng ngàn bộ đội và một số đồng bào trong hậu địch cũ. Đến đêm 18/5/1975 đoàn chính thức biểu diễn tại rạp hát Quốc Thanh, có ý nghĩa chào mừng chiến thắng 30-4 và 1-5, đồng thời kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ. Đêm diễn ấy là đêm chính thức của Đoàn Ca múa TCCT ra mắt đồng bào Sài Gòn và cũng là một đoàn miền Bắc đầu tiên biểu diễn tại Thành phố mang tên Bác, (vì các đoàn của Trung ương, Hà Nội và một số đơn vị khác phải đi bằng ôtô nên chưa kịp vào). Do đó, Đoàn ca múa TCCT đã vinh dự được thay mặt các đồng nghiệp ở miền Bắc gửi tới đồng bào Sài Gòn những đoá hoa tươi thắm của nền nghệ thuật XHCN…
Tôi lại thấy hiện lên gương mặt khả kính của Đại tướng Tổng Tư lệnh - Anh Văn, lại nhớ lời căn dặn của anh đêm trước chiến dịch Hồ Chí Minh: "Các cô, các cậu về liệu mà làm chương trình để vào Sài Gòn biểu diễn cho nhân dân và bộ đội trong ấy xem”.
Thưa Đại tướng, chúng tôi những nghệ sỹ quân đội dưới quyền đại tướng, đã hoàn thành nhiệm vụ đại tướng giao phó, đã vào Sài Gòn và biểu diễn tưng bừng phục vụ nhân dân và bộ đội như nhiệm vụ Quân đội và Đại tướng giao!
|
(Đạo diễn Khắc Tuế kể về “Thủ trưởng đầu tiên” với nhà văn Châu La Việt) ... Năm 1946, ông Khắc Tuế mới 13, 14 tuổi, nhà nghèo quá, bố mẹ ông thấy ông Đặng Kinh (Sau là Trung tướng, nguyên Phó Tổng tham mưu trưởng) là người hiền lành phúc hậu, từng chỉ huy quân khởi nghĩa chiếm đồn đoan ở làng, nên bố mẹ ông Tuế đi tìm ông Kinh, nài nỉ xin ông Kinh cho con mình được đi làm liên lạc cho ông Kinh. Thương tình, ông Đặng Kinh nhận ông Khắc Tuế vào đơn vị để “giữ chức” dắt ngựa, nghề mà ông Tuế thấy “rất thuận” vì đã từng kinh qua nghề chăn trâu từ khi năm, sáu tuổi. Từ đấy, ông Khắc Tuế trở thành con thoi, ngày ngày phi ngựa từ Đồ Sơn về Hải Phòng, chuyển công văn giấy tờ và không quên lĩnh một suất ăn cho ngựa… Từ đấy, ông Khắc Tuế trở thành một người lính, và gắn bó với quân đội suốt hàng chục năm sau. Ông lần lượt giữ các nhiệm vụ là người lính bắn bazoca của sư đoàn 308, rồi được điều về đội múa Đoàn văn công Tổng cục chính trị và sau này là Đoàn trưởng Đoàn nghệ thuật tiêu biểu của người lính này. Lại cũng liền mấy năm ông đi học biên đạo múa ở Triều Tiên, nhưng khi về lại được cử đi làm nhiệm vụ phiên dịch cho quân đội!
Đạo diễn Khắc Tuế (phải) …Tôi thân thiết với ông từ thuở là người lính và đến nay vẫn rất thân thiết. Nhiều chương trình nghệ thuật hai anh em cùng tổ chức và thực hiện. Nhưng nhiều hơn là những tâm tình, vui buồn chia sẻ hai anh em thường ngồi bên ấm trà nóng “ôn cố tri tân”. Đạo diễn Khắc Tuế là một “kho tàng” rất phong phú về nghệ thuật người lính, về quân đội, về tình cảm của những vị tướng lĩnh quân đội với văn hóa văn nghệ, với người lính nghệ thuật… mà tôi có thể ngồi nghe ông kể thâu đêm suốt sáng không biết chán.
Cuốn sách "Bác Hồ với hoạt động văn hóa nghệ thuật" do đạo diễn Khắc Tuế chủ biên. Cũng xin nói thêm năm nay ông đã 87 tuổi( 88 tuổi ta), trí lự vẫn hết sức minh mẫn, thể lực vẫn khỏe khoắn như một lực điền, vẫn phóng xe máy vù vù về quê mãi tận Đồ sơn Hải phòng, vẫn say mê đi dựng múa sạp, múa ô, múa hò kéo pháo… cho đoàn cựu chiến binh và vợ là chị Ngọc Diệp, xưa cũng là diễn viên múa của đoàn quân đội, và nay đã hơn 80 tuổi vẫn múa dẻo vô cùng. Và như trên đã nói, nhiều đêm có nỗi niềm gì đấy, ông lại gọi tôi lại nhà, hãm trà pha nước cùng vợ kể lại cho tôi nghe nhiều câu chuyện của đời mình… * Vốn là người lính giữ ngựa cỏng ông Đặng Kinh, nên ông Khắc Tuế rất sôi nổi khi kể về “Thủ trưởng đầu tiên” của mình: “Này, ông ấy nói chính xác là một vị tướng du kích thích hát ca vào loại nhất toàn quân cậu nhé. Cả cái Hải Phòng này, mà cả đất khu 3 nữa, ai cũng đồn có ông Tư lệnh quân khu vốn là Tỉnh đội trưởng Kiến An xưa, hát hay lắm! Là chính ông Đặng Kinh đấy. Đầu tiên ông chỉ biết hát đúm thôi, đó là hình thức ca hát dân gian của mấy tỉnh miền duyên hải: Trai hát gẹo gái, gái hát đáp ngay: "ới bạn tình ơi, ở nhà anh mới tới đây/ "Nạ" thông "nạ" thổ anh nay "nạ" nhà/ Ba cô anh "nạ" cả ba, còn cái cô yếm thắm anh đà quen… ngay.” Hai mươi tuổi người cao, to, mặt hơi dài, tóc rễ tre, đôi mắt sáng, đẹp trai! Nhưng nhà nghèo, phải tạm bỏ đất An Lão, Kiến An, theo bố ra Quảng Ninh đội than. Khổ nhưng thích hát, biết hát đúm rồi biết mấy câu dân ca, nghêu ngao đỡ buồn khi đội than, xúc đất. Khi trở lại quê nhà - Kiến An thì đã có "Tiến quân ca", "Diệt phát xít", Đặng Kinh vốn mê ca hát nên rất nhanh thuộc để làm cách mạng từ đầu những năm bốn mươi. Rồi trở thành cán bộ lãnh đạo của đơn vị thanh niên khởi nghĩa, thuộc "Suối mơ", "Thiên thai", người ta bảo "Thiên Thai" là của người đã làm ra "Tiến quân ca", Đặng Kinh càng khoái vì có lập trường, quan điểm đúng! Đến khi làm Tỉnh đội trưởng, ông đã "nhặt nhạnh" được khá nhiều bài hát, chỉ là truyền khẩu thôi mà có cái khiếu nhớ tệ! Hành quân cũng hát, giữa vùng tề, sau khi phổ biến nhiệm vụ cho anh em xong cũng làm quản ca tại chỗ, bắt nhịp cho lính hát một bài mới đi đánh Tây, diệt tề … Anh chị em đơn vị chiến đấu rất phục cái tài ca hát của ông. Nhưng mọi người có biết đâu rằng ông Tỉnh đội trưởng đã từng được ông Nhạc sỹ Đỗ Nhuận "tập huấn" ca hát cho cả một tuần ở trong cái nhà tù của bọn Quốc dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu - Hà Nội! Vốn liếng những bài ca mà ông Đỗ Nhuận truyền đạt cho ông Kinh là những bài ca do ông Nhuận sáng tác ở nhà tù Sơn La, và cả những bài mà ông Nhuận học được . Suốt cả một thời gian dài, hoạt động sâu trong vùng địch, ông Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh đã nghĩ ra nhiều cách đánh giặc biến hóa muôn hình vạn trạng. Những toán lính giặc cậy thế, cậy thần, tưởng như nơi ấy chẳng có đối phương nào, chẳng có thằng Việt Minh nào lọt qua được mắt chúng. Ấy vậy mà ông chỉ huy đơn vị, bày cách đánh cho anh, chị em lại lọt qua cả mắt nhìn, cả tai thính, cả mồm to - lẳng cho mấy quả lựu đạn, mấy quả mìn tự tạo vào nơi ấy - nơi bất khả xâm phạm của chúng. Thế là cha Tây, con Ngụy, cháu Tề mắt xanh như tàu chuối! Nơi nơi trong vùng đất Kiến An, Tây sống không yên, hò hét Tề, Ngụy phải tìm diệt, để báo thù, quyết không tha mấy thằng nhãi ranh du kích Việt Minh của… Đặng Kinh! Tha hồ cho chúng đánh làng Đông. Ông Kinh lại ở làng Tây thảnh thơi ngồi rít thuốc lào, hát bài "Du kích ca" của Đỗ Nhuận cho các chiến sĩ du kích của ông nghe. Nhiều lần, nhiều nơi bọn chúng bủa vây, quyết một phen cho quân của Đặng Kinh sa lưới! Nhưng chẳng được ai, chỉ được… chổi cùn, rế rách mang về chứng minh cho trận càn quét đã cho quân của Đặng Kinh ra "bã" như thế này đây! Nhưng sự thật nhân dân đã làm cho chúng "lỡ" độ đường không đến được vùng Đông Nam huyện Kiến Thụy. Chính nơi ấy ông Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh đang hát tình ca của Trần Hoàn: “…Có anh du kích mà lòng bâng khuâng”. Kiến An nơi chôn cái "rốn" của ông Đặng Kinh: Có núi Ông Voi, có sông Văn Úc có đồi Thiên Văn… Lại có cả ông tác giả Trần Hoàn cùng ông "ca sĩ" Đặng Kinh một thời dưới “trướng” của ông Ngạn (Đỗ Mười) làm mưa làm gió nơi Tả Ngạn Sông Hồng - Liên khu III. Sau một thời gian dài nghiên cứu chiến trường, ông Đặng Kinh hạ quyết tâm đánh sân bay Cát Bi. Cũng không dưới ba lần ông Ngạn (Đỗ Mười) không duyệt vì nhiều lẽ chưa được giải quyết. Phương án cuối cùng có nhiều điểm khả dĩ, ông Ngạn "gật". Khi trở về đến đất quê hương - Kiến An, Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh phổ biến nhiệm vụ cho đơn vị xong, ông bắt nhịp cho tất cả hát "Vì nhân dân quên mình". Rạng sáng 6/3/1954 khi tiễn 32 đồng chí vượt sông tiến vào sân bay Cát Bi, để giải tỏa sự căng thẳng đến tột độ, tay vê điếu thuốc lào, mắt đăm đắm nhìn đồng đội khuất trong bóng đêm, hướng phi trường Cát Bi, miệng lẩm bẩm: "Mờ trong bóng chiều một đoàn quân thấp thoáng…". Những trận đánh gần đây, cho đến trận Cát Bi này, "ca sĩ" Đặng Kinh "đã sử dụng tới khá nhiều vốn liếng mà ông Đỗ Nhuận tập huấn cho ông năm xưa ở cái nhà tù bất đắc dĩ" Ôn Như Hầu (Nguyễn Gia Thiều) ngày nay… Xuân hè 1995 vào dịp Kỷ niệm 40 năm Giải phóng Hải Phòng, ông Chủ tịch Hội CCB Hải Phòng - Trung tướng Đặng Kinh tổ chức cuộc biểu diễn nghệ thuật hoành tráng. Tướng Đặng Kinh mời bằng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tham dự. Sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết thúc bài phát biểu, ông đi xuống khán phòng, đồng thời màn hợp xướng gần hai trăm thanh thiếu niên đồng thanh cất lên: "Hải Phòng sáng lên cho non nước giầu đẹp tươi vui…". Đến một tiết mục Trung tướng Đặng Kinh từ khán phòng bước lên nhập vào dàn hợp xướng lớn. Ông lĩnh xướng: "Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u…”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Văn hóa Thông tin, nhạc sĩ Trần Hoàn và cả hội trường reo hò vì chất giọng thuốc lào của tướng Đặng Kinh hôm nay đã thăng hoa, trong trẻo và chuẩn xác đến lạ lùng! Nhìn Đại tướng ngồi dưới, trung tướng Đặng Kinh càng thăng hoa, tự tin thể hiện trước Anh Cả rằng: Cấp dưới của anh đánh giặc giỏi và hát cũng được anh nhỉ?” Châu La Việt |
|
"Ðạo diễn Khắc Tuế từng là một diễn viên, một biên đạo múa tài năng. Ngoại trừ một vài năm được tăng cường từ Quân đội sang Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) làm Giám đốc Công ty biểu diễn nghệ thuật Việt Nam (Vinaconcert), còn gần như suốt cuộc đời, ông gắn bó với Quân đội, từ một người chiến sĩ trực tiếp cầm súng chiến đấu cho đến khi trở thành đoàn trưởng một đơn vị nghệ thuật tiêu biểu nhất của Quân đội là Ðoàn Ca múa Tổng cục Chính trị (Nhà hát ca múa nhạc Quân đội hiện nay). Có thể nói, suốt cuộc đời của người nghệ sĩ - chiến sĩ Khắc Tuế đều "Tiến bước dưới quân kỳ".
Ðạo diễn Khắc Tuế (phải). Ông Khắc Tuế cũng là người viết nhiều về các Tướng lĩnh quân đội, các Nghệ sĩ - Chiến sĩ quân đội. Đọc ông, bạn đọc sẽ hiểu rằng, đây không chỉ là trái tim, tâm hồn ông, mà chính là cuộc đời của ông. Nghệ sĩ Khắc Tuế không chỉ ghi chép lại những chặng đường nghệ thuật của Quân đội và của đất nước suốt 60 năm qua, mà còn cho chúng ta biết đến gương mặt của nhiều văn nghệ sĩ Quân đội xuất sắc, với những tác phẩm sinh ra trong khói lửa, giàu sức động viên, thúc giục, thắp lửa cho ý chí chiến đấu của quân và dân ta trong suốt hai cuộc kháng chiến thần kỳ." Châu La Việt |
Bình luận


