Hy hữu, người đàn ông có "vùng kín khổng lồ", nặng hơn 1kg

Cách đây 6 tháng, bệnh nhân thấy vùng bìu hai bên to nhanh, khó khăn trong sinh hoạt nên đến khám tại Khoa Nam học - Bệnh viện TWQĐ 108.

Khoa Nam học, Bệnh viện TWQĐ 108 vừa điều trị thành công bệnh nhân nam giới 57 tuổi, mắc bệnh Madelung thể bìu hiếm gặp.

Bệnh nhân nam 57 tuổi, ở Thanh Hóa, tiền sử nghiện rượu 40 năm nay, đến Khoa Nam học Bệnh viện TWQĐ 108 khám vì có khối u mỡ khồng lồ vùng bìu, gây biến dạng bìu, dương vật, khó khăn trong sinh hoạt và hoạt động tình dục. Khối u mỡ đã được cắt bỏ hoàn toàn với trọng lương 1kg, bìu được tái tạo bằng vạt da bìu trước và sau 2 bên, sau mổ bệnh nhân ổn định, bìu có hình dạng và kích thước bình thường, có thể thực hiện các hoạt động cá nhân và hoạt động tình dục như trước mổ. 

Hy hữu, người đàn ông có "vùng kín khổng lồ", nặng hơn 1kg - 1

Bác sĩ phẫu thuật cho bệnh nhân.

Bệnh nhân bị bệnh nhiều năm nay với tình trạng xuất hiện các khối u mỡ vùng cằm, vai, cách đây 2 năm đã được mổ bóc u vùng vai do khối u quá to, ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Cách đây 6 tháng bệnh nhân thấy vùng bìu hai bên to nhanh, khó khăn trong sinh hoạt, đến khám tại Khoa Nam học - Bệnh viện TWQĐ 108 với chẩn đoán bệnh Madelung loại III. 

Tại Bệnh viện TWQĐ 108, các bác sĩ cắt bỏ khối u mỡ triệt để cho bệnh nhân, tạo hình lại bìu nhằm phục hồi giải phẫu, chức năng của bộ phận sinh dục. Sau mổ, bệnh nhân được tư vấn cai rượu, giảm cân, theo dõi định kỳ hàng năm để được thăm khám và xử lý tổn thương kịp thời.

Ths.Bs Nghiêm Trung Hưng, Khoa Nam học, Bệnh viện TWQĐ 108 cho biết, bệnh u mỡ đối xứng đa ổ còn được gọi là bệnh Madelung, được Otto Madelung báo cáo năm 1888, là căn bệnh hiếm gặp với tỷ lệ mắc bệnh khoảng 1/25.000 người, bệnh chủ yếu gặp ở nam giới độ tuổi 30-60 tuổi (tỷ lệ nam: nữ =15:1), có tiền sử nghiện rượu.

Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện khối mỡ, không vỏ, đối xứng, chủ yếu ở phần trên cơ thể (mặt, cổ, thân trên) và rất ít khi xuất hiện ở bộ phận sinh dục, bệnh hiếm khi ác tính tuy nhiên gây biến dạng cơ thể ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ, sinh hoạt của bệnh nhân. Năm 1984 tác giả Enzi đã phân loại bệnh Madelung theo vị trí tăng sinh mỡ, loại I đặc trưng bởi các tổn thương phân bố ở tuyến mang tại, cổ, dưới cằm, vai, vùng hố thượng đòn và chi trên, loại II khi tổn thương ở da bụng, đùi. Năm 1991 tác giả Donhaser bổ sung loại III với các tổn thương vùng chậu, sinh dục. Bệnh được chẩn đoán phân biệt với béo phì, hội chứng Cushing, u xơ thần kinh, hội chứng Frölich và u mỡ.

Bác sĩ Hưng khuyến cáo, nếu xuất hiện các triệu chứng như trên bệnh nhân nên đến khám tại các cơ sở chuyên khoa Nam học có trình độ cao và trang thiết bị hiện đại để được chẩn đoán chính xác và điều trị bệnh kịp thời, tránh các biến chứng không đáng có do điều trị muộn.

VIỆT ANH

Tin liên quan

Tin mới nhất

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Ngày 11/6, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.

Những góc nhìn về đề môn Ngữ văn thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026   

Những góc nhìn về đề môn Ngữ văn thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026   

Sáng 11/6, các thí sinh đã hoàn thành môn Ngữ văn, môn thi đầu tiên của kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2026. Đề thi Ngữ văn năm nay vẫn gồm 2 phần: Đọc hiểu (4 điểm) và Viết (6 điểm). Các câu hỏi về công nghệ, AI và vai trò của người trẻ trong đổi mới sáng tạo, đem lại không ít thách thức cho các sĩ tử. 

Nhìn lại sự nghiệp văn chương, khoa cử ở một lát cắt thời trung đại

Nhìn lại sự nghiệp văn chương, khoa cử ở một lát cắt thời trung đại

Chế độ phong kiến Việt Nam tồn tại đến một nghìn năm. Nhà nước phong kiến suốt thời kì trung đại mở nhiều khoa thi, nếu tính từ khoa thi đầu tiên (năm 1075) đến khoa thi cuối cùng (năm 1919) thì lịch sử giáo dục khoa cử Việt Nam đã có bề dày 843 năm. Riêng khoa thi Thái học sinh được thực hiện ở thời Trần và thời Hồ.