Nhân 200 năm ngày Nguyễn Du mất (1820-2020): Nên nhận định lại “Truyện Kiều” và “Kim Vân Kiều Truyện”

(Arttimes) - Việc “Đoạt thai hoán cốt” trong văn chương - nghệ thuật xưa nay, vốn là việc thông thường. Những người giỏi thì “Thành tiên”, những kẻ kém thì “Thành tục”.

Ta phải đánh giá cao tiểu thuyết Tầu kia của Thanh Tâm tài nhân, vì Nguyễn Du đã yêu nó, thích nó, “Đoạt thai hoán cốt” nó! Chỉ cần nói rõ thêm, Nguyễn Du là một “Đạo sĩ” cao tay nhất Việt Nam trong việc “Đoạt thai hoán cốt” văn chương là được. Từ sau ông đến nay, không có ai làm được cho Truyện - Tiểu thuyết bằng Thơ Lục bát Tiếng Việt hay hơn được nữa!

Ta hãy giả sử, Nguyễn Du chỉ làm thơ chữ Hán! Thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng được văn nhân đánh giá cao, nhưng dân ta không mấy ai biết tới, vì không mấy ai đọc được! Sau này, thơ chữ Hán ấy dù có được diễn Nôm hay chuyển quốc ngữ, thì căn bản cũng vẫn chỉ được lưu hành trong giới “có học” mà thôi. Và, ngay cả khi đó, thơ chữ Hán của cụ vẫn sẽ còn bị soi xét, so bì với thơ Đường - Tống và với thơ của các nhà thơ chữ Hán khác ở chính nước ta.

Nhân 200 năm ngày Nguyễn Du mất (1820-2020): Nên nhận định lại “Truyện Kiều” và “Kim Vân Kiều Truyện” - 1

Tượng Đại Thi Hào Nguyễn Du

Nhưng khi đã “Xem Nôm Thúy Kiều” thì từ các bậc Hán học “danh gia vọng tộc”, các “đại thụ” trong làng thơ Nôm, cho đến dân

chúng, đều thích thú, thán phục, ngưỡng mộ, say mê, thậm chí là… “nghiện”!

Không chỉ thế, còn có hẳn một khu vực “Văn hóa Truyện Kiều” ở ta:

- Chốn bác học, đó là những nhà “Kiều học”, là “Từ điển Truyện Kiều”, là “Vịnh - Tập - Lẩy Kiều” (ta đã biết Chu Mạnh Trinh từng cho thi Vịnh Kiều và mời Nguyễn Khuyến làm chủ khảo.

- Chốn dân gian, đó là “Bói Kiều”, thi đọc Kiều xuôi/ ngược v.v...

Trong văn chương Tiếng Việt, không có hiện tượng thứ hai nào như vậy! Tại sao thế? Ấy là vì, Với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã “lập tức” đưa Tiếng Việt (Nôm) lên đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ.

Trước Nguyễn Du, Truyện thơ lục bát Nôm ở Việt Nam khá phong phú (Hoa Tiên, Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Phương Hoa, Trê Cóc…), nhưng hầu hết đều được viết “một màu”, theo kiểu “trần thuật - tự sự” đơn giản. Ngoài đó ra thì, thể lục bát trong thơ ca ta bấy giờ cũng đã rất phong phú (trong ca dao, hò vè, quan họ, quan (xoan) ghẹo, hát ru, hát chèo...), nhưng đó vẫn chỉ là những “đoản khúc”, dẫu không thiếu trau chuốt.

Nguyễn Du đã “Đoạt thai hoán cốt” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân rồi tái sinh nó trong thể loại Truyện thơ lục bát độc đáo, thể loại giầu khả năng diễn đạt và rất dễ phổ cập ở Việt Nam, tạo nên một kiệt tác là Truyện Kiều, cuốn Tiểu thuyết bằng thơ Nôm lục bát độc nhất vô nhị! Từ đó, Nguyễn Du với Tiếng Việt giống như là Puskin với Tiếng Nga, Goethe với Tiếng Đức, Dante với Tiếng Ý, Shakespeare với Tiếng Anh, như Homere đối với văn hóa Địa Trung Hải. Nguyễn Du trở thành thi hào của chúng ta là vì vậy.

Từ đầu thế kỷ 20 cho đến đây, phía các nhà nghiên cứu Việt Nam thì cố chứng minh rằng, Nguyễn Du chỉ “giữ nguyên sự tích của tiểu thuyết Tầu, hầu như không thêm bớt gì”, nhưng đã sáng tạo nhiều so với nguyên tác, nhất là ở cách xử lý các chi tiết (lược bỏ chỗ rườm rà, dông dài, tự nhiên chủ nghĩa, thậm chí… thô bỉ) và cấu trúc lại để từ chỗ đơn giản, dễ dãi thành ra “chặt chẽ”, “khít khao”; tả cảnh, tả tình, độc thoại, tự sự nhiều và hay hơn nguyên tác… Còn phía Trung Hoa lại muốn hạ thấp Truyện Kiều và Nguyễn Du!

Bây giờ, thử nhìn rộng hơn ra xem sao.

Kim Vân Kiều truyện do Thanh Tâm tài nhân viết ở cuối thế kỷ 17 - đầu thế kỷ 18, là một tiểu thuyết chương hồi (20 hồi), kể về một nàng Vương Thuý Kiều có thật trong lịch sử Trung Hoa. Trước Thanh Tâm tài nhân, chuyện nàng Vương Thuý Kiều ấy đã được nhiều nhà viết sử ký, truyện ký, hý kịch Trung Hoa khai thác hàng trăm năm, tính từ nửa sau thế kỷ 16.

Vương Thuý Kiều thật, vốn là một trong hai ái cơ - hầu gái - ca kỹ của Từ Hải, một tướng cướp (lãnh tụ khởi nghĩa nông dân?) vùng Chiết Giang thời Gia Tĩnh (1532 - 1567) nhà Minh (1364 - 1644).

Theo nhà nghiên cứu Trung Hoa Trần Ích Nguyên, trước Thanh Tâm tài nhân, ở Trung Hoa đã có Vương Kiều nhi truyện của Từ Học Mô (1552 - 1593) và sau đó, còn có thêm 3 tiểu thuyết - truyện ký cùng 3 hí khúc và nhiều vở truyền kỳ khác về Vương Thuý Kiều. Trần Ích Nguyên viết: “Từ truyền thuyết trong tư liệu lịch sử đến tiểu thuyết, hí khúc, chúng ta thấy việc hình thành nên truyện Vương Thuý Kiều chủ yếu bắt đầu từ truyền thuyết dân gian. Các văn nhân đã dựa vào những truyền thuyết dân gian có thể chứng thực bằng tư liệu lịch sử mà ghi chép lại, đồng thời có cải biên và sáng tạo thêm, thế là sản sinh ra một lượng lớn tác phẩm tiểu thuyết và hí khúc, khiến cho hình tượng nhân vật Vương Thuý Kiều không ngừng được đầy đặn thêm”.

Nhà nghiên cứu này cũng nhận định về Kim Vân Kiều truyện như sau: “Toàn bộ cuốn truyện, thông qua hai lần vào nhà chứa, ba lần hoàn lương, mười mấy năm khổ hạnh dày vò, đã hết sức tinh tế để cho Vương Thuý Kiều, theo những biến đổi của đời sống hiện thực, mà không ngừng làm phong phú và phát triển tính cách cực kỳ nhẫn nại của mình, hình thành trọn vẹn một hình tượng nữ tính hơn hẳn người cùng lứa, đả phá căn bệnh chung của tiểu thuyết thông tục là loại hình hoá nhân vật… Nghệ thuật miêu tả cao minh nhường ấy, không nghi ngờ gì nữa, là sự đột phá quan trọng trong lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc, vì thế, truyện có ảnh hưởng không nhỏ. Ngoài Thụ Hổ khẩu, Hổ phách chuỷ đầu đời Thanh ra, truyền kỳ Song Thúy viên của Hạ Bỉnh Hoành giữa đời Thanh cũng là được cải biên từ Kim Vân Kiều truyện. Thậm chí, một phần nội dung trong Lục dã tiên tung của Lý Bách Xuyên, Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần cũng có thể được Kim Vân Kiều truyện gợi mở” (theo Trần Ích Nguyên - Nghiên cứu câu chuyện Vương Thuý Kiều. Phạm Tú Châu dịch - NXB Lao động - 2004).

Thế tức là, ở Trung Hoa, vì thấy Kim Vân Kiều truyện hay nên nhiều người, nhiều đời, đã “Đoạt thai hoán cốt” nó để sinh ra các tác phẩm khác. Nó không thể tầm thường!

Sau đó, năm 1763, Kim Vân Kiều truyện được dịch ra tiếng Nhật (Thông tục Kim Kiều truyện) và được cải biên thành tiểu thuyết Nhật (Phong tục Kim ngư truyện). Đầu thế kỷ 19, nhà Trung Quốc và Mãn Châu học người Nga A.Vladykin (1761-1811) - một người đương thời với Nguyễn Du - đã dịch Kim Vân Kiều truyện từ bản tiếng Mãn Châu sang tiếng Nga nhưng chưa được xuất bản và hiện còn đang được lưu trữ tại Viện Đông Phương học Xanh Petécbua (theo Truyện Kiều khảo - chú - bình của Trần Nho Thìn và Nguyễn Tuấn Cường - NXB Giáo dục - 2007).

Nhìn rộng ra thế để thấy, từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân đã được dịch ra tiếng Nhật, tiếng Mãn, tiếng Nga và còn được “cải biên” và vì thế, nó cũng không thể tầm thường, kể cả trong những nhìn nhận “ngoại Trung Hoa”.

Bây giờ, ta tạm dừng ở đây để nói về “Đoạt thai hoán cốt” đã. “Đoạt thai hoán cốt” hay “Hoán cốt đoạt thai”, vốn là một “thuật” trong nhiều “thuật” của Đạo Giáo Trung Hoa. Theo đó, các đạo sĩ cao tay có thể làm cho người ta thoát khỏi “Phàm thai tục cốt” mà thành ra “Thánh thai tiên cốt”! Theo thời gian, nó chuyển nghĩa (hoặc gồm thêm nghĩa), để trỏ những việc mà người sau, tuy học theo người trước nhưng lại có thêm nhiều sáng tạo mới, khiến “dấu vết” của người trước không còn nữa hoặc nếu còn, thì rất mờ nhạt. Riêng trong văn nghệ, nó chỉ cái việc người sau “hô biến” tác phẩm của người trước, từ “Phàm trần” thành ra “Tiên thánh”, nói gọn là “Thành tiên”! Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh chính là người đầu tiên chọn thành ngữ “Đoạt thai hoán cốt” để nơi việc Nguyễn Du đã “hô biến” Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân thành ra Truyện Kiều.

Trở lại với những tranh luận Ta - Tầu ở phần trên, tôi thấy:

Thứ nhất, không có “nguyên tác” thì không bao giờ có “phóng tác” hay “chuyển thể”! Không có Kim Vân Kiều truyện thì không ai có thể “Đoạt thai hoán cốt” nó để có Truyện Kiều được! Nếu “nguyên tác” không hay, không được người “phóng tác” - “chuyển thể” yêu thích, thì chẳng ai bỏ công ra để làm việc ấy, chưa kể rằng, làm một cách cực kỳ thành công như Nguyễn Du đã làm. Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân không thể vốn là “Phàm thai tục cốt” được! Vả lại, chính Nguyễn Du, mở đầu Truyện Kiều, đã chả viết: “... Cảo thơm lần giở trước đèn/ Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh...” đó sao? Cảo thơm và truyền sử xanh kia mà!

- Nguyễn Du và thời đại của ông đã chấp nhận dòng Truyện phong tình Tầu và đã yêu riêng Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân đến mức Nguyễn Du gọi nó là cảo thơm để có thể truyền sử xanh và dựa vào nó mà viết nên Truyện Kiều bất hủ của mình; còn các nhà văn hóa, nhà lý luận - phê bình Việt Nam “hiện đại” thì lại mắng “truyện gốc” là “lỏng lẻo, rườm rà, tự nhiên chủ nghĩa...”, thậm chí là “thô bỉ”!

- Trung Hoa xưa không những đã chấp nhận mà còn cùng nhau tạo ra cả một dòng văn chương là dòng Truyện phong tình to và bền vững với Thôi Oanh Oanh đãi nguyệt Tây sương ký, Kim Bình Mai, Kim Vân Kiều truyện... và còn gợi ý cả cho Hồng Lâu mộng nữa. Thế là về nữ quyền, về giải phóng tình dục, về bình đẳng giới...; về cả Chủ nghĩa hiện thực và Chủ nghĩa lãng mạn, họ đều đi trước nhà văn hóa, nhà lý luận - phê bình “hiện đại” Việt Nam cả mấy thế kỷ!

Thứ hai, khi “phóng tác”, đặc biệt là khi “chuyển thể” nguyên tác sang một thể loại mới, việc sáng tạo thêm hay cắt bỏ những chỗ “rườm rà” của nguyên tác để phù hợp với yêu cầu cấu trúc của thể loại mới, luôn là yêu cầu tất yếu, tự nhiên. Chỉ có điều, vì Nguyễn Du là một thiên tài, nên việc “cắt bỏ” hay “sáng tạo” thêm của ông là “vô đối” mà thôi. Không có Kim Vân Kiều truyện, không có Truyện Kiều. Nhưng không có Truyện Kiều, Kim Vân Kiều truyện không thể vinh dự thêm (ít nhất là ở Việt Nam) như thế được! Thế thì Thanh Tâm tài nhân và Nguyễn Du phải là tri kỷ chứ?

Chỗ này, ở một mức độ nào đó, giống như Đoàn Thị Điểm, tuy bảo là dịch, nhưng với tài năng siêu việt của mình, đã “chuyển thể - phóng tác”, “Đoạt thai hoán cốt” Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn từ thể cổ phong Tầu sang thể song thất lục bát Việt, để hai người tri kỷ ấy thành ra là “đồng tác giả”! Cũng giống như Phan Huy Vịnh (Phan Huy Thực?) thành tri kỷ của Bạch Cư Dị qua việc dịch Tỳ bà hành. Các bậc kỳ tài, không bao giờ bị “mắc kẹt” ở thể loại, cấu trúc hay chi tiết! Vấn đề là phải “Đoạt thai hoán cốt” thế nào cho giỏi.

Nhân đây, nói thêm về việc “Đoạt thai hoán cốt” ấy.

Hãy lấy thêm vài ví dụ gần:

Trong bài Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu viết: “...Nhật mộ hương quan hà xứ thị - Yên ba giang thượng sử nhân sầu”, thì khi Tản Đà dịch là: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn - Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”, ông đã “Đoạt thai hoán cốt” một lần. Sau, thơ Huy Cận in: “Làng quê dợn dợn vời con nước - Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” là lại “Đoạt thai hoán cốt” lần thứ hai. “Ngôn ngoại” thì đã mờ đi, nhưng “Ý tại” thì y hệt!

Trong bài Phong Kiều dạ bạc, Trương Kế viết: “Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự - Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”, Tản Đà đã “Đoạt thai hoán cốt” lần một, để có: “Thuyền ai đậu bến Cô Tô - Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San” bằng lục bát Việt. Các nhạc sĩ, khi phổ nhạc cho thơ, tức là “chuyển thể”, “phổ thơ” tha hồ “Đoạt thai hoán cốt” đối với bài thơ “gốc”. Không loại bỏ, cắt bớt những chỗ mà với âm nhạc là “rườm rà”, “dài dòng”, làm sao âm nhạc của họ “chặt chẽ”, “khít khao” về cấu trúc được? Làm sao nhạc phẩm của họ có thể bộc lộ được cái “Lý tưởng xã hội” hay là “Tư tưởng” của tác giả thơ và của nhạc sĩ (xuất tự nhà thơ) được?

Bây giờ, bàn ra mấy ví dụ xa:

+ Không có những người đi kể miệng thần thoại Hy Lạp khắp các thành bang Địa Trung Hải xưa, lấy gì cho Homere “Đoạt thai hoán cốt” để có Iliad và Odyssey?

+ Không có những người đi kể chuyện Tam quốc rong ở Trung Hoa bao đời, sao La Quán Trung có thể “Đoạt thai hoán cốt” chúng màcó Tam quốc diễn nghĩa?

+ Chính Shakespeare đã “Đoạt thai hoán cốt” chuyện chàng Romeo và nàng Juliet mãi từ tít nước Ý, để tạo nên vở kịch Anh “kinh điển”, “cổ điển” của mình.

+ Không có Kinh thánh, lấy đâu ra việc Leonardo da Vinci, Michelangelo, Rafael de Santiago…“Đoạt thai hoán cốt” để có các bức hoạ trứ danh theo các đề tài trong Kinh thánh? v.v… và v.v…

*

Thế thì, việc “Đoạt thai hoán cốt” trong văn chương - nghệ thuật xưa nay, vốn là việc thông thường. Những người giỏi thì “Thành tiên”, những kẻ kém thì “Thành tục”.

Trở lại với Truyện KiềuKim Vân Kiều truyện! Ta phải đánh giá cao tiểu thuyết Tầu kia của Thanh Tâm tài nhân, vì Nguyễn Du đã yêu nó, thích nó, “Đoạt thai hoán cốt” nó! Chỉ cần nói rõ thêm, Nguyễn Du là một “Đạo sĩ” cao tay nhất Việt Nam trong việc “Đoạt thai hoán cốt” văn chương là được. Từ sau ông đến nay, không có ai làm được cho Truyện - Tiểu thuyết bằng Thơ Lục bát Tiếng Việt hay hơn được nữa!

Nếu đã gọi Hồ Xuân Hương là “Bà Chúa thơ Nôm”, thì danh hiệu “Ông Hoàng thơ Nôm” lại quá bé so với Nguyễn Du. Không! Ông là một thiên tài vô đối trong văn chương Tiếng Việt cổ kim!

Cao Bá Quát, một nhà thơ kiệt xuất, cả Hán lẫn Nôm; người chỉ “nhường” cho thiên hạ 1 bồ trong 4 bồ chữ có trên đời; người chả coi Tự Đức, ông vua hay chữ nhất triều Nguyễn, ra gì; nói rất ngắn: “Hoa Tiên răn người, Truyện Kiều hiểu người”.

Răn người là giáo huấn và phổ biến kinh nghiệm sống, Hiểu người mới là tri kỷ, mới là thấu mọi ái, ố, nộ, hỷ, ai, lạc, dục của kiếp người; từ cộng đồng đến từng cá thể.

Đành rằng, phải hiểu đời thì mới có thể răn người, nhưng từ chỗ hiểu đời - răn người đến chỗ hiểu người như Nguyễn Du viết và Cao Bá Quát phải bỏ cả cao ngạo mà nói như thế, là đã rất hiện đại... từ lâu! Nó bỏ lại sau lưng mọi hệ tư tưởng chính thống - giáo điều vốn có.

Ở Trung Hoa, Hồ Thích viết: “Nhạc phủ xuất tự dân gian, đến Lý Bạch thì bay lên trời”. Nay ta cũng có thể nói: “Lục bát Nôm xuất tự dân gian, đến Nguyễn Du thì bay lên trời”.

ĐỖ TRUNG LAI

 

Tin liên quan

Tin mới nhất

Nhiều hoạt động hấp dẫn trong Ngày Thơ Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nhiều hoạt động hấp dẫn trong Ngày Thơ Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày Thơ Việt Nam do Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với chủ đề “Thành phố này tôi đến tôi yêu” sẽ được diễn ra trong 2 ngày 23-24/2/204 (tức 14 và 15 tháng Giêng năm Giáp Thìn) tại khuôn viên Tòa nhà Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật TPHCM, số 81 Trần Quốc Thảo, Quận 3. Đây là lần đầu tiên sự kiện này được đưa vào Chương trình Lễ hội của Thành phố và trở thành m

Tập đoàn Nam Cường nhận bằng khen của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

Tập đoàn Nam Cường nhận bằng khen của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

Ngày 5/10/2023, tại Hà Nội, Chủ tịch Liên hiệp Đỗ Hồng Quân thay mặt Thường trực Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao tặng Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam và Bằng khen cho bà Lê Thị Thúy Ngà - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Nam Cường Hà Nội và tặng Bằng khen cho Công ty Cổ phần Tập đoàn Nam Cường Hà Nội vì đã có thà