Múa dân tộc - Nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên hội nhập

Trong chiến lược xây dựng và khẳng định vị thế của một quốc gia trên bản đồ văn hóa thế giới, điện ảnh, âm nhạc, thời trang hay ẩm thực thường được nhắc đến như những "đại sứ" tiêu biểu của sức mạnh mềm. Song, bên cạnh những loại hình nghệ thuật giàu tính đại chúng ấy, còn có một ngôn ngữ văn hóa đặc biệt âm thầm nhưng bền bỉ, không cần đến lời nói vẫn có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ để chạm đến tầng sâu cảm xúc của con người. Đó là nghệ thuật múa.

Nếu văn học lưu giữ ký ức bằng ngôn từ, hội họa bằng màu sắc, âm nhạc bằng thanh âm thì múa ghi dấu văn hóa bằng chính chuyển động của cơ thể. Mỗi động tác, mỗi nhịp bước, mỗi đường nét hình thể không đơn thuần là biểu hiện của kỹ thuật trình diễn mà còn là sự kết tinh của lịch sử, phong tục, tín ngưỡng và mỹ cảm của một cộng đồng. Trên sân khấu, cơ thể người nghệ sĩ trở thành một "văn bản văn hóa sống" - nơi những giá trị vô hình của dân tộc được chuyển hóa thành ngôn ngữ thị giác giàu sức biểu đạt.

Múa dân tộc - Nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên hội nhập - 1

Thơ múa “Nàng Mây”. Ảnh: The Hue of Hue

Đó cũng là sức mạnh đặc biệt của nghệ thuật múa. Không cần lời thuyết minh, không cần phụ đề hay phiên dịch, múa vẫn có thể kể một câu chuyện về đất nước, con người và bản sắc bằng thứ ngôn ngữ của chuyển động - ngôn ngữ của cảm xúc. Chính khả năng vượt qua ranh giới ngôn ngữ ấy đã khiến múa trở thành một phương tiện giao tiếp văn hóa đặc biệt hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Ngày nay, khi hội nhập quốc tế không còn chỉ là sự giao lưu về kinh tế mà còn là sự cạnh tranh về bản sắc và giá trị văn hóa, nghệ thuật múa không chỉ dừng lại ở chức năng bảo tồn, gìn giữ di sản. Từ vị thế của một loại hình nghệ thuật truyền thống, múa đang từng bước trở thành nguồn lực sáng tạo của công nghiệp văn hóa, góp phần kiến tạo hình ảnh Việt Nam hiện đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc. Nói cách khác, múa đang chuyển mình từ một giá trị văn hóa nội sinh thành một biểu hiện sinh động của sức mạnh mềm quốc gia.

Khi di sản trở thành ngôn ngữ của nghệ thuật đương đại

Giá trị của múa dân tộc Việt Nam chưa bao giờ nằm ở việc tái hiện nguyên trạng những điệu múa cổ truyền trên sân khấu. Nếu chỉ dừng lại ở việc sao chép hình thức, di sản sẽ dễ trở thành một hiện vật được trưng bày hơn là một thực thể sống. Điều làm nên sức sống lâu bền của nghệ thuật múa chính là khả năng chuyển hóa tinh thần văn hóa truyền thống thành ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại.

Việt Nam là quốc gia thống nhất trong đa dạng của 54 dân tộc anh em. Mỗi điệu múa dân gian đều được hình thành từ môi trường sống, điều kiện lao động, tín ngưỡng và thế giới quan của cộng đồng sáng tạo nên nó. Điệu xòe của người Thái gắn với tinh thần cộng cảm, tiếng khèn và những bước chân của người Mông mang khát vọng chinh phục núi cao, những vũ điệu Tây Nguyên ngân vang nhịp sống đại ngàn, múa Chăm mềm mại như hơi thở của văn minh biển cả hay tiếng trống Chhay-dăm rộn ràng của đồng bào Khmer đều là những lớp trầm tích văn hóa được lưu giữ bằng hình thể.

Có thể nói, mỗi điệu múa dân gian là một "ký ức chuyển động" của cộng đồng. Trong từng động tác đều ẩn chứa tri thức bản địa, quan niệm thẩm mỹ và cách con người ứng xử với thiên nhiên, với lao động và với đời sống tinh thần. Chính chiều sâu ấy tạo nên nguồn chất liệu cho sáng tạo nghệ thuật hôm nay.

Bởi vậy, xu hướng nổi bật của nhiều biên đạo đương đại không phải là phục dựng nguyên bản các điệu múa truyền thống, mà là chắt lọc "cái hồn" của văn hóa dân tộc, kết hợp cùng tư duy biên đạo hiện đại, mỹ thuật sân khấu, âm nhạc, ánh sáng và công nghệ trình diễn để sáng tạo nên những tác phẩm mới. Đó là quá trình chuyển hóa từ "di sản" thành "ngôn ngữ nghệ thuật", từ "ký ức" thành "sáng tạo", để truyền thống không chỉ được bảo tồn mà còn tiếp tục sống trong đời sống đương đại.

Chính khả năng tái sinh ấy đã giúp nghệ thuật múa dân tộc vượt qua giới hạn của bảo tồn để trở thành một hình thức sáng tạo có sức đối thoại với công chúng quốc tế.

Một trong những minh chứng tiêu biểu cho tư duy sáng tạo ấy là tác phẩm Dệt lanh của NSND Kiều Lê, dàn dựng cho Đoàn Văn công Quân khu 1 và giành Huy chương Vàng tại Hội diễn Ca múa nhạc toàn quân năm 2023.

Múa dân tộc - Nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên hội nhập - 2

Múa "Dệt lanh". Ảnh: Báo Giáo dục và Thời đại

Lấy cảm hứng từ nghề dệt lanh truyền thống của đồng bào Mông, tác phẩm không lựa chọn lối kể chuyện theo trình tự sự kiện mà kiến tạo cấu trúc bằng dòng chảy cảm xúc. Ba chương: Tình yêu lanh - Vũ điệu lanh - Nhan sắc lanh giống như ba chương của một bản giao hưởng, nơi lao động không còn là hành vi thường nhật mà trở thành vẻ đẹp của văn hóa, của tình yêu và của sức sáng tạo con người.

Giá trị nghệ thuật của Dệt lanh nằm ở chỗ biên đạo không tái hiện nghề dệt bằng lối minh họa trực tiếp. Những động tác đưa tay, xoay người, nhún chân hay biến đổi đội hình đều được khái quát thành hệ thống ngôn ngữ tạo hình giàu tính biểu tượng. Những chuyển động cơ thể trên sân khấu gợi liên tưởng đến những con thoi đang miệt mài đan cài, những sợi lanh đang kết nối thành tấm vải, cũng như những con người đang bền bỉ dệt nên bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

Hiệu ứng đồng diễn được xử lý tiết chế nhưng chính xác, tạo nên nhịp điệu thị giác giàu sức cuốn hút. Âm nhạc hòa quyện giữa âm sắc truyền thống với tiết tấu hiện đại; trang phục Mông được cách điệu bằng chất liệu bắt sáng, khiến mỗi chuyển động như mang theo sự biến đổi của sắc màu núi rừng Tây Bắc. Toàn bộ hệ thống hình ảnh ấy không hướng đến sự phô diễn kỹ thuật, mà tạo nên một không gian nghệ thuật giàu chất thơ, nơi lao động được nâng lên thành biểu tượng của văn hóa.

Dệt lanh không chỉ kể câu chuyện về một nghề thủ công truyền thống mà còn kể câu chuyện về sức sống của bản sắc Việt trong bối cảnh hội nhập. Hình thức biểu đạt có thể tiếp cận những xu hướng nghệ thuật quốc tế, nhưng linh hồn của tác phẩm vẫn được nuôi dưỡng từ cội nguồn văn hóa dân tộc. Hội nhập vì thế không đồng nghĩa với hòa tan; ngược lại, càng hội nhập sâu rộng, nhu cầu khẳng định bản sắc càng trở nên cấp thiết. Chỉ khi biết biến truyền thống thành nguồn cảm hứng sáng tạo mới, nghệ thuật mới có thể vừa mang hơi thở thời đại, vừa giữ được tiếng nói riêng của dân tộc.

Bản sắc - giá trị cốt lõi của sức mạnh mềm

Thực tế cho thấy, điều đọng lại trong ký ức của khán giả quốc tế sau mỗi chương trình nghệ thuật không hẳn là tên tác phẩm hay tên nghệ sĩ, mà là những hình ảnh mang dấu ấn văn hóa đặc sắc. Chính những hình ảnh ấy tạo nên khả năng nhận diện của một nền nghệ thuật và rộng hơn là của cả một quốc gia.

Nghệ thuật múa Việt Nam từng chịu ảnh hưởng sâu sắc của ballet và múa hiện đại phương Tây. Quá trình tiếp biến ấy góp phần nâng cao kỹ thuật biểu diễn, mở rộng tư duy sáng tạo và đưa nghệ sĩ Việt Nam tiếp cận với ngôn ngữ múa thế giới. Tuy nhiên, kỹ thuật dù điêu luyện đến đâu cũng chỉ là phương tiện. Điều quyết định vị thế của một nền nghệ thuật vẫn là bản sắc.

Một nghệ sĩ có thể biểu diễn hoàn hảo kỹ thuật ballet, nhưng điều khiến khán giả nhớ đến họ lại là những chuyển động chuyên chở tâm hồn, văn hóa Việt Nam. Bởi nghệ thuật, suy cho cùng, không phải cuộc cạnh tranh về sự giống nhau mà là hành trình khẳng định những khác biệt có giá trị.

Đó cũng là lý do những tác phẩm khai thác chất liệu văn hóa dân tộc luôn hiện diện trong các chương trình ngoại giao văn hóa, các tuần lễ Việt Nam ở nước ngoài hay các festival nghệ thuật quốc tế. Mỗi tác phẩm không đơn thuần là một tiết mục biểu diễn mà là một "thông điệp văn hóa", một cách kể câu chuyện Việt Nam bằng thứ ngôn ngữ không cần phiên dịch.

Xu hướng ấy cũng phản ánh quy luật phát triển chung của nghệ thuật múa thế giới. Những quốc gia có nền múa phát triển đều khẳng định vị thế bằng chiều sâu văn hóa bản địa, chứ không phải bằng việc lặp lại những khuôn mẫu toàn cầu. Trong thời đại hội nhập, điều làm nên giá trị không phải là sự tương đồng mà chính là khả năng biến bản sắc thành lợi thế cạnh tranh.

Không chỉ tìm về đời sống của các dân tộc thiểu số, nhiều biên đạo trẻ còn trở lại với những làng nghề truyền thống như một miền ký ức văn hóa giàu tiềm năng sáng tạo. Hai tác phẩm múa tham gia Liên hoan múa quốc tế 2024 tại Huế là Thơ múa Họa tình nhân gian (nhóm biên đạo Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội) lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ và Thơ múa Nàng Mây (nhóm biên đạo Nguyễn Hải Trường, Mai Len, Vũ Huệ, Thúy Hiền) khai thác nghề mây tre đan đều cho thấy khi nghệ sĩ thực sự đi vào đời sống, văn hóa truyền thống sẽ không còn là chất liệu minh họa mà trở thành nguồn năng lượng sáng tạo vô tận.

Múa dân tộc - Nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên hội nhập - 3

Thơ múa Họa tình nhân gian. Ảnh The Hue of Hue

Ở đó, làng nghề không chỉ hiện lên như ký ức của quá khứ mà trở thành không gian nghệ thuật sống động của hiện tại. Những giá trị truyền thống tiếp tục được tái sinh trong ngôn ngữ của sân khấu, để văn hóa không đứng yên trong bảo tàng mà tiếp tục chuyển động cùng đời sống đương đại.

Tiềm năng phát huy nguồn lực văn hóa

Để nghệ thuật múa thực sự trở thành sức mạnh tiềm năng của văn hóa Việt Nam, điều cần thiết không chỉ là những tác phẩm hay mà còn là một hệ sinh thái sáng tạo đủ năng lực nuôi dưỡng và lan tỏa các giá trị ấy.

Điều đó đòi hỏi sự kết nối đồng bộ giữa đào tạo, nghiên cứu, đầu tư sáng tạo, quảng bá và phát triển thị trường nghệ thuật. Các cơ sở đào tạo cần tăng cường hoạt động điền dã để nghệ sĩ trẻ tiếp cận trực tiếp với đời sống văn hóa các vùng miền; các đơn vị nghệ thuật cần mạnh dạn hợp tác liên ngành với âm nhạc, mỹ thuật, công nghệ trình diễn nhằm tạo nên những tác phẩm có khả năng cạnh tranh trên sân khấu quốc tế.

Quan trọng hơn, cần thay đổi tư duy nhìn nhận múa dân tộc. Đó không chỉ là một loại hình nghệ thuật cần bảo tồn mà còn là nguồn tài nguyên của công nghiệp văn hóa, có khả năng tạo ra giá trị kinh tế thông qua biểu diễn, du lịch văn hóa, giáo dục nghệ thuật và ngoại giao văn hóa.

Trong kỷ nguyên số, khi mọi nền văn hóa đều hiện diện trên cùng một không gian truyền thông toàn cầu, bản sắc chính là yếu tố tạo nên khả năng nhận diện quốc gia. Đối với Việt Nam, bản sắc ấy được nuôi dưỡng từ kho tàng văn hóa của 54 dân tộc, từ những làng nghề truyền thống, từ chiều sâu lịch sử và từ năng lực không ngừng làm mới di sản bằng tư duy sáng tạo của nghệ thuật đương đại.

Vì thế, múa dân tộc không chỉ là ký ức của quá khứ mà còn là chất liệu của tương lai. Mỗi bước chân trên sân khấu hôm nay đều có thể trở thành một lời giới thiệu về Việt Nam; mỗi chuyển động của hình thể đều có thể kể câu chuyện về một dân tộc giàu bản sắc, giàu sức sáng tạo và luôn biết làm mới mình từ cội nguồn văn hóa.

Trong dòng chảy hội nhập, nghệ thuật múa Việt Nam chỉ có thể đi xa khi bước đi bằng chính đôi chân được nuôi dưỡng từ mảnh đất văn hóa dân tộc. Chính từ cội nguồn ấy, nghệ thuật múa sẽ tiếp tục cất lên tiếng nói riêng của Việt Nam - mềm mại mà bền bỉ, lặng lẽ mà sâu sắc, để trở thành một trong những biểu hiện tinh tế và bền vững nhất của sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XXI.

Trương Thị Ngọc Bích

Tin liên quan

Tin mới nhất

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản

Sáng 15/7, tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 4, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh điều hành nội dung Phiên họp.