FV triển khai kỹ thuật gỡ dính ống sống bằng RCE Catheter: Bước ngoặt trong điều trị đau mạn tính sau phẫu thuật
Các chuyên gia quốc tế và bác sĩ tại khoa Đau, Bệnh viện FV đã phối hợp để thực hiện kỹ thuật gỡ dính ống sống bằng RCE Catheter cho hai trường hợp đau sau mổ cột sống. Đây là lần đầu tiên kỹ thuật này được thực hiện tại Việt Nam.

Khác với các phương pháp gỡ dính trước đây, RCE Catheter là phương pháp xâm lấn tối thiểu với ưu điểm nổi bật là không cần mổ mở. Kỹ thuật này cho phép các bác sĩ đưa catheter tiếp cận sâu trong khoang ngoài màng cứng để phá hủy các mô xơ dính, giải ép rễ thần kinh và bơm thuốc điều trị (thuốc tê, steroid, hyaluronidase). Phương pháp này giúp xử lý chính xác các vị trí dính phức tạp mà các kỹ thuật trước đó khó tiếp cận. Ngoài ra, RCE catheter còn đưa sóng cao tần xung vào các rễ thần kinh bị chèn ép hoặc tổn thương, nhằm điều hòa hoạt động của các rễ này.
Gỡ dính ngoài màng cứng bằng RCE Catheter: giải pháp chấm dứt đau sau mổ cột sống
Kỹ thuật can thiệp gỡ dính ống sống được các chuyên gia thực hiện tại hội thảo khoa học CME “Quản lý đau mạn tính và chuyên sâu – góc nhìn từ thế giới” do Bệnh viện FV tổ chức ngày 11/4, và được truyền hình trực tiếp đến hàng trăm bác sĩ tại TP.HCM và các tỉnh lân cận.
Ca thứ nhất là nam bệnh nhân ngoài 40 tuổi, từng phẫu thuật cột sống do thoát vị đĩa đệm cách đây 2 năm tại một bệnh viện ở TP.HCM. Thời gian đầu sau mổ, các cơn đau tê ở lưng và hai chân được cải thiện. Tuy nhiên, sau 3 tháng, những cơn đau nhanh chóng quay trở lại, thậm chí nghiêm trọng hơn, lan xuống hai chân nhiều hơn, kèm yếu cơ và rối loạn giấc ngủ. Bệnh nhân đã thử một số phương pháp nhưng không đạt được hiệu quả giảm đau dài hạn.
Ca thứ hai là nữ bệnh nhân 63 tuổi, đã trải qua ca phẫu thuật lớn nẹp vít cột sống kéo dài từ đốt T11 đến S1. Bệnh nhân chỉ giảm đau trong thời gian ngắn, sau đó tái phát với mức độ nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt hằng ngày. Dù đã áp dụng nhiều phương pháp như sóng cao tần, tiêm ngoài màng cứng… song hiệu quả không bền vững. Bệnh nhân tìm tới Trung tâm điều trị Đau FV với mong muốn thoát khỏi cơn đau dai dẳng.
Cả hai trường hợp được bác sĩ chẩn đoán nguyên nhân gây đau là do xơ dính sau mổ cột sống, khiến rễ thần kinh bị chèn ép. Xơ dính sau mổ là tình trạng hình thành mô sẹo, sợi xơ liên kết dày đặc giữa các rễ thần kinh, màng cứng và mô mềm xung quanh sau khi phẫu thuật. Đây là phản ứng tự nhiên của cơ thể để chữa lành vết mổ, nhưng khi quá mức, nó chèn ép rễ thần kinh gây đau dai dẳng hoặc tái phát đau sau mổ. Thống kê cho thấy, có đến 20–30% bị hội chứng đau sau mổ cột sống (Failed Back Surgery Syndrome - FBSS), khiến nhiều bệnh nhân suy giảm nghiêm trọng chất lượng sống, thậm chí mất khả năng lao động.

BS. Christophe Perruchoud – Chủ tịch Hiệp hội Điều biến Thần kinh Thụy Sĩ phối hợp cùng các bác sĩ FV thực hiện kỹ thuật RCE Catheter
Trong phòng mổ của Bệnh viện FV, BS. Christophe Perruchoud – Chủ tịch Hiệp hội Điều biến Thần kinh Thụy Sĩ cùng BSCKI Nguyễn Nam Bình và BSCKI Phạm Hoàng Mạnh trực tiếp thực hiện kỹ thuật gỡ dính bằng RCE Catheter, đây là loại catheter hiện đại nhất hiện nay, có thể vừa gỡ dính, vừa truyền sóng cao tần xung nhằm tái cấu trúc các rễ thần kinh bị tổn thương, vượt trội hơn hẳn so với phương pháp gỡ dính truyền thống (Racz catheter). Trong quá trình thao tác, BS. Christophe Perruchoud giải thích từng bước để các bác sĩ theo dõi livestream có thể nắm rõ kỹ thuật này.
"Mỗi ca can thiệp mất khoảng gần 1 giờ đồng hồ. Chúng tôi đã thực hiện gỡ dính, kích thích rễ thần kinh và bơm thuốc điều trị đúng vị trí mục tiêu. Tiếp theo bệnh nhân sẽ được tập vật lý trị liệu để mau trở về với cuộc sống bình thường”, BS. Christophe Perruchoud chia sẻ sau ca can thiệp.

BS. Christophe Perruchoud cùng BSCKI. Nguyễn Nam Bình (phải) và BSCKI. Phạm Hoàng Mạnh (trái) bên ngoài phòng mổ FV
Theo BS. Christophe Perruchoud, hệ thống trang thiết bị tại FV tương đương tiêu chuẩn châu Âu, nên đảm bảo độ chính xác và an toàn cao trong quá trình thực hiện thủ thuật. Ông cũng đánh giá cao năng lực của đội ngũ bác sĩ FV - những người đã được đào tạo trực tiếp tại Thụy Sĩ và nắm vững quy trình thực hiện kỹ thuật này.
FV xây dựng cầu nối đưa tiến bộ điều trị đau về Việt Nam
Việc triển khai thành công kỹ thuật RCE Catheter và giới thiệu rộng rãi cho cộng đồng y khoa là một dấu mốc trong chiến lược đầu tư bài bản vào Trung tâm điều trị Đau của FV – đơn vị tiên phong theo đuổi mô hình chuyên sâu chuẩn quốc tế. Thành quả này dựa trên nền tảng vững chắc từ những ngày đầu thành lập dưới sự dẫn dắt của GS. Louis Brasseur – một chuyên gia điều trị đau hàng đầu với hơn 45 năm kinh nghiệm lâm sàng, cùng đội ngũ bác sĩ được tu nghiệp chuyên sâu tại châu Âu.
Tại Trung tâm Điều trị Đau Bệnh viện FV, bệnh nhân được tiếp cận mô hình điều trị Đau toàn diện, kết hợp đa mô thức giữa yếu tố sinh học, tâm lý và phục hồi chức năng thông qua các kỹ thuật tiên phong như sóng cao tần (RFA), kích thích từ xuyên sọ (rTMS) hay điều biến thần kinh.

Các chuyên gia thảo luận tại Hội thảo “Quản lý đau mạn tính và chuyên sâu – góc nhìn từ thế giới”
Không chỉ dừng lại ở chăm sóc bệnh nhân, FV còn khẳng định vai trò là cầu nối tri thức thông qua chuỗi hội thảo CME liên tục. Hội thảo “Quản lý đau mạn tính và chuyên sâu – góc nhìn từ thế giới” lần này là một điểm nhấn chiến lược khi quy tụ dàn chuyên gia danh tiếng như: BS. Christophe Perruchoud – Chủ tịch Hiệp hội Điều biến Thần kinh Thụy Sĩ; BS, Denis Dupoiron – Trưởng khoa Đau, Viện ung thư L’Ouest Paul Papin (Pháp) - Chủ tịch Hội điều biến thần kinh Pháp; BS. Alain Delbos – Nguyên Chủ tịch Hiệp hội Gây tê Vùng châu Âu; BS. Louis Brasseur – Trưởng Trung tâm Điều trị Đau, Bệnh viện FV. Sự hội tụ này mang đến góc nhìn đa chiều về quản lý đau hiện đại, từ cơ chế đau thần kinh đến đau ung thư mà còn từng bước đưa điều trị đau chuyên sâu tại Việt Nam tiệm cận với chuẩn mực quốc tế.

BS. Christophe Perruchoud – Chủ tịch Hiệp hội Điều biến Thần kinh Thụy Sĩ trình bày tại Hội thảo
Những hoạt động đào tạo chuyên sâu này tiếp tục khẳng định Bệnh viện FV không chỉ là nơi điều trị, mà còn là điểm hội tụ tri thức, nơi các tiến bộ y khoa được kết nối và lan tỏa vì lợi ích lâu dài của người bệnh.
Bình luận