Không gian đô thị nào phù hợp với người Việt?
Đô thị Việt đang lớn lên từng ngày với những tòa nhà cao hơn, những thành phố hiện đại hơn, nhưng cũng vô tình bỏ quên những giá trị không thể đo đếm bằng con số: bản sắc, nếp sống và những mối liên kết giữa con người.
Đô thị Việt và những khoảng trống
Đô thị hóa đang vẽ lại diện mạo mảnh đất hình chữ S với tốc độ nhanh và sức lan tỏa lớn chưa từng có. Chỉ trong hơn một thập kỷ từ 2010 đến 2025, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam đã tăng từ 30,5% lên khoảng 45%, số lượng đô thị từ 755 lên gần 900 (theo số liệu tổng kết của Bộ Xây dựng) và đặt mục tiêu vượt mốc 50% vào năm 2030.

Đô thị hóa mở rộng không gian sống, nhưng cũng đặt ra bài toán gìn giữ bản sắc cộng đồng. (Ảnh minh họa)
Những con số ấy phản chiếu một sự chuyển mình mạnh mẽ, nơi những cánh đồng dần nhường chỗ cho đại lộ rộng thênh thang, những mái ngói thâm nâu được thay bằng đường chân trời của dãy cao ốc chọc trời.
Bên cạnh sự bứt phá vượt bậc về kinh tế và xã hội, không thể phủ nhận những vết nứt ngày càng hằn rõ trong tiến trình mở rộng không gian đô thị. Vấn đề không nằm ở bản thân xu thế phát triển tất yếu ấy, mà ở một số cách tiếp cận chưa thỏa đáng, khi tốc độ được đặt lên trên tính bền vững và che lấp những giá trị cốt lõi.
Một nghịch lý nhức nhối vẫn hiển hiện: trong khi hàng triệu người dân đang chật vật với giấc mơ an cư thì tại nhiều nơi, những dãy biệt thự khang trang im lìm sau hàng rào khép kín, những khu nhà chỉ lác đác sáng đèn, những quảng trường rộng lớn thiếu bước chân người…
Những công trình dang dở có thể hoàn thiện theo thời gian, nhưng khoảng trống của bản sắc một khi đã phai nhạt thì khó lòng bù đắp. Từ Bắc vào Nam, có thể dễ dàng bắt gặp những khu đô thị mang dáng dấp châu Âu, những tuyến phố lấy cảm hứng từ Hàn Quốc hay những công trình xanh mô phỏng Singapore.
KTS. Nguyễn Thế Khải với bề dày 50 năm trong nghề và nhiều năm làm giám đốc Trung tâm Quy hoạch vùng và đô thị (Bộ Xây dựng) từng chia sẻ trên báo chí rằng, đô thị Việt đang mất dần bản sắc vì 4 cái “hóa”: quốc tế hóa khi vay mượn các mô hình nước ngoài một cách khiên cưỡng, đô thị hóa các xóm làng một cách cứng nhắc, đồng bằng hóa khu vực miền núi, “Kinh hóa” kiến trúc của các dân tộc ít người.
Câu hỏi lớn được đặt ra là: Vì sao nhiều khu đô thị lại thưa vắng cư dân, trong khi hàng triệu cư dân đô thị vẫn đang mòn mỏi tìm kiếm một mái ấm cho riêng mình? Có lẽ, câu trả lời không chỉ nằm ở giá bán, mà còn ở cách một đô thị được kiến tạo và tổ chức. Cũng có nghĩa, đô thị Việt dù được quy hoạch hiện đại theo những chuẩn mực toàn cầu nào, thì trước hết phải dựa trên chính căn tính cốt lõi của người Việt.
Không gian sống hiện đại đã thực sự phù hợp với người Việt?
Xuyên suốt dòng chảy lịch sử Việt Nam, đơn vị hành chính bền vững, lâu đời và bền bỉ nhất chính là “làng”. Cố giáo sư Trần Quốc Vượng từng ví làng “là một pháo đài xanh, là một đơn vị xã hội tự trị, là một thế giới riêng biệt nằm trong cái thế giới chung là quốc gia”.
Làng là nơi lưu giữ tiếng nói, văn hóa, phong tục, tín ngưỡng và căn tính của người Việt sau bao thăng trầm của chiến tranh, thiên tai và nhiều giai đoạn ngoại bang đô hộ.
Điều làm nên sức sống của một ngôi làng không chỉ là những mái nhà, đình làng, cây đa hay lũy tre xanh. Đó là sự cộng hưởng của nhiều lớp giá trị, hàm chứa những tầng tri thức được đúc kết qua nhiều thế hệ.
Địa thế có lợi thế về giao thương hoặc tài nguyên; hương ước và lệ làng giữ gìn trật tự; sinh kế gồm nông - công - thương gắn với đất đai, làng nghề và chợ để con người có thể sinh sống trên chính quê hương. Các công trình đền, chùa, miếu mạo hay nhà thờ họ trở thành điểm neo tinh thần. Những không gian kết nối cộng đồng như giếng nước, ngõ xóm, sân đình là nơi họ hàng, làng xóm gặp gỡ và kết nối.
Điều thú vị là, những triết lý tưởng chừng rất tự nhiên và gần gũi của làng Việt lại có nhiều điểm tương đồng với những học thuyết đô thị nổi tiếng trên thế giới. Jane Jacobs một trong những học giả đô thị có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, cho rằng thành phố không thể được tạo nên bằng những bản vẽ áp đặt từ trên xuống mà phải lớn lên từ đời sống thật của con người.
Theo bà, một đô thị chỉ thực sự sống khi các khu nhà ở cao tầng và thấp tầng, dịch vụ thương mại, công viên… cùng hiện diện trong một không gian đan xen. Đường phố ngắn, có nhiều điểm giao cắt để con người dễ dàng tương tác, giao tiếp và kết nối. Đó cũng chính là logic vốn tồn tại từ lâu trong cấu trúc từ làng lên phố của Việt Nam, khi từ đại lộ toả ra các phố, từ phố chia nhánh vào ngõ nhỏ.
Kiến trúc sư người Đan Mạch Jan Gehl - một trong những nhà tư tưởng đô thị ảnh hưởng nhất thế giới hiện đại, đã đưa ra triết lý đô thị vị nhân sinh, nơi quy hoạch, các công trình được thiết kế theo tầm nhìn, chiều cao, khả năng tiếp cận của con người khi đi bộ và có các lớp không gian chuyển tiếp mềm.
Cấu trúc của làng Việt cũng được hình thành dựa trên nguyên lý ấy với khoảng cách các điểm gần nhau, có những không gian chung để tăng tương tác.
Có thể nói, đô thị hóa tại Việt Nam không phải là dấu chấm hết cho di sản truyền thống, mà là quá trình tái cấu trúc những hệ giá trị vốn có thành nguồn lực phát triển. Đô thị dành cho người Việt phải bắt đầu từ văn hóa, gắn với sinh kế, có không gian mở cho cộng đồng và những tiện ích đan xen trong bán kính dễ tiếp cận.
Trong thực tiễn, không ít những dự án được xây dựng theo chuẩn mực hiện đại nhưng lại thiếu sự kế thừa và tiếp nối cấu trúc sống vốn có của người Việt. Hệ quả không chỉ thể hiện qua hình thái bên ngoài, mà còn hằn rõ lên đô thị Việt những “vết nứt” vô hình.
Những “đứt gãy” của đô thị Việt hiện đại
Có những điều mất đi trong quá trình đô thị hóa không hiện lên trên bản đồ quy hoạch, cũng không thể đo đếm bằng giá trị đền bù hay tỷ lệ lấp đầy.
Đô thị hóa trước hết làm thay đổi không gian sống, nhưng sâu xa hơn là thay đổi không gian văn hóa của cộng đồng người Việt. Đình làng, cây đa, giếng nước, sân chung… dần lùi vào ký ức, nhường chỗ cho những căn nhà khép kín và nhịp sống vội vã. Từ "tối lửa tắt đèn có nhau", cư dân đô thị đang dần quen với cảnh "cửa đóng then cài", nơi những người ở sát vách có thể chưa một lần gọi tên nhau.
Đáng lo hơn, những đứt gãy ấy không dừng lại ở quan hệ láng giềng, mà len vào từng mái ấm. Người lớn tuổi mang theo nếp sống của làng quê, trong khi lớp trẻ lớn lên giữa những cánh cửa khép kín và kết nối qua màn hình. Khoảng cách thế hệ ngày càng rộng hơn, còn ký ức của đời sống làng Việt cũng lặng lẽ nhạt phai theo từng thế hệ.
Từ đó, đặt ra thách thức trong việc gìn giữ bản sắc trên hành trình hội nhập toàn cầu, vô tình làm mỏng đi sợi dây liên kết neo con người với cội nguồn. Những buổi giỗ họ thưa dần, những lần về quê ngắn lại, những câu chuyện của gia đình và vùng đất không còn được truyền kể từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách tự nhiên. Giữa thành phố đông đúc, không ít người trẻ đang mang nỗi cô đơn của một người chưa có nơi chốn để thực sự thuộc về.

Entiz The Fusion tại Nghệ An được đánh giá cao với triết lý sống hiện đại giữa lòng phố cũ, lồng ghép hài hòa tinh hoa làng Việt
Những khoảng trống này đặt ra yêu cầu cần phải có một mô hình đô thị được thiết kế dựa trên nếp sống, văn hóa và điều kiện tự nhiên của Việt Nam. Đó là nơi tôn trọng khí hậu bản địa, gìn giữ cấu trúc làng - phố đặc trưng, dành nhiều không gian mở cho cộng đồng, để những đại lộ vẫn kết nối với những con phố và ngõ nhỏ, để trường học, chợ, công viên, dịch vụ và nhà ở được đan xen trong một nhịp sống liền mạch. Tại đây, các thế hệ cùng chung sống và những giá trị văn hóa sẽ tiếp tục được truyền từ đời này sang đời khác.
Bình luận