Nắng Nha Trang
Tôi tìm đến nhà nhà thơ Giang Nam - tác giả bài thơ "Quê hương" lúc 15 giờ 30. Trời đất Nha Trang những ngày đầu hè như rang trong chảo lửa. Thật ngỡ ngàng, lần gặp ấy, ở tuổi 92 nhưng ông vẫn khỏe mạnh và minh triết.

Nhà thơ Giang Nam (1929-2023)
Ông đang cặm cụi chăm cây giữa chiều hè nóng bức. Với nụ cười nhân hậu, nhà thơ quàng tay vào vai tôi một cách gần gũi, thân thiện và hỏi:
- Em ở Quảng Bình vào à? Quê Đại tướng Võ Nguyên Giáp?
Tôi thưa:
- Vâng ạ!
Ông dẫn tôi vào ngồi phía hiên nhà rồi vội bảo người nhà pha nước, dọn kẹo bánh mời tôi. Ông nhìn tôi rồi hỏi:
- Em tìm anh có việc gì quan trọng không?
- Dạ! Em trước đây là lính, có đến 10 năm ở chiến trường, Bình Định, Khu 5, sau đó về dạy học. Chính bài thơ Quê hương của anh đã làm cho em say và thăng hoa trong quá trình dạy học. Học sinh ngưỡng mộ anh và yêu quý em. Bài thơ của anh, tên tuổi của anh đã theo em, theo thế hệ học trò, đi suốt cuộc đời, sống mãi với non sông đất nước, nên em mong có ngày được gặp anh.
Ông gật đầu, lắng lại một lúc rồi nói nhỏ nhẹ:
- Nhưng em đến... thì vợ tôi “cô bé nhà bên” trong bài thơ ấy đã bỏ tôi đi lâu rồi...
Ông thở dài nuối tiếc, rồi rót nước mời tôi và tỉ tê kể về sự nhầm lẫn về cái chết của cô du kích trong bài thơ ấy.
“Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích em ơi...”
Những câu thơ ấy trong bài thơ Quê hương của nhà thơ Giang Nam đã được viết ra hơn nửa thế kỷ trước, năm 1960, tại vùng căn cứ Đá Bàn của tỉnh Khánh Hòa. Ít ai biết rằng, đã có một sự nhầm lẫn - cô du kích khi ấy vẫn còn sống. Và sự nhầm lẫn ấy đã để lại cho những thế hệ yêu văn học Việt một bài thơ cảm động, cùng với một mối tình son sắt đồng hành cùng đất nước, đồng thời mang sức sống cho bài thơ suốt hơn nhiều năm qua.
Nhấp ngụm nước, ông chậm rãi kể:
“Bà Phan Thị Chiều, nguyên mẫu của “cô bé nhà bên” trong bài thơ Quê hương, sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng tại Vĩnh Trường, Nha Trang. Chị em bà lớn lên đều lần lượt tham gia kháng chiến. Chưa đầy mười tuổi nhưng cô ấy đã theo chị gái hoạt động tích cực ở căn cứ Đồng Bò, gia đình cho người nhắn gọi cũng không về. Khi mặt trận Nha Trang vỡ, bà được điều lên Đá Bàn làm ở Văn phòng Tỉnh ủy.
Còn tôi lớn lên ở huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa. Bỏ ngang trường Quốc học bậc cao đẳng tiểu học Quy Nhơn, tôi về hoạt động tại xã. Xã Vạn Thắng của tôi ngày ấy trong tình trạng “ngày địch đêm ta”. Ba anh trai đều đã lên căn cứ hoạt động cách mạng, cha tôi khi đó đã nói với các con rằng “chúng bay đi đi, nhưng để lại cho tau một thằng lo hương khói tổ tiên”. Và chú trai út, em của tôi được giao trách nhiệm đó. Nhưng khi tình hình nguy cấp, cha tôi đành gạt nước mắt đồng ý để đứa con trai cuối cùng vào cứ với các anh.
Cùng ở khối cơ quan quân dân chính Đảng nên tôi và cô Chiều quen biết nhau, tuy “tình trong như đã” nhưng chẳng ai dám ngỏ lời. Chuyện yêu đương trong tổ chức ngày ấy là cấm kị. Khi tôi có tên trong Đoàn sĩ quan liên bộ đình chiến vừa thành lập, sắp lên đường ra Bình Định tập trung để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Geneve giữa ta và Pháp, tổ chức mới gợi ý để tôi và cô ấy làm đám cưới.
Ở với nhau được hai đêm thì tôi lên đường ra vùng tự do, cô ấy từ căn cứ trở về Nha Trang hoạt động. Khi chia tay, vợ chồng tôi và đồng đội hi vọng rằng chỉ hai năm sau sẽ được đoàn tụ theo tinh thần Hiệp định Geneve, không ai nghĩ đó là cuộc chia ly không hẹn ngày về. Tôi được tổ chức đưa về lại Nha Trang, sau đó lại vào Sài Gòn làm giấy tờ hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bề hoạt động.
Dù sống ngay trên thành phố quê hương mình nhưng vợ chồng tôi vẫn hoạt động ở hai tuyến khác nhau mà không được gặp mặt, tôi luôn phải cảnh giác giữ bí mật, ngoài lính tráng, mật vụ nhan nhản thì còn mối lo bị người quen bắt gặp sẽ lộ.
Tôi miệt mài với công việc tổ chức giao, âm thầm tham gia tờ báo hợp pháp với tên gọi Gió mới hoạt động công khai tại nội thành Nha Trang, dưới vỏ bọc một công nhân xưởng cưa, tôi đều đặn viết bài tuyên truyền cho cách mạng, định hướng lý tưởng cho thanh niên. Khi Mỹ - ngụy tiến hành các đợt “tố cộng”, “diệt cộng”, cán bộ đảng viên ở miền Nam phải tổ chức đổi vùng để tránh bị lộ.
Tổ chức đã sắp xếp để tôi và bà xã chuyển vùng hoạt động về Biên Hòa. Đây cũng là lần đầu tiên sau 4 năm cưới nhau vợ chồng tôi mới có điều kiện ở bên nhau. Hai vợ chồng tôi thuê một căn nhà nhỏ trong xóm lao động nghèo, tôi làm công cho một nhà tư sản thầu khoán người Việt, bà ấy thì buôn bán lặt vặt, nắm bắt tình hình chờ lệnh của trên. Nhiệm vụ lúc này là dựa vào quần chúng để tồn tại hợp pháp, không để bị bắt. Đó cũng là thời gian bà xã tôi sinh cô con gái đầu tiên và cũng là duy nhất của vợ chồng tôi.
Thời gian sau, tình hình lắng xuống, tổ chức quyết định rút tôi về Khánh Hòa. Bà ấy ở lại một mình nuôi con, con gái khóc ngằn ngặt vì nhớ cha, bà phải lấy chiếc áo của tôi để đắp cho con đỡ khóc theo lời khuyên của bà chủ cho thuê nhà tốt bụng.
Một đêm, địch ập vào bắt mẹ con bà giải đi, dù lúc đó đứa con gái đầu còn đỏ hỏn, đó là năm 1959. Sau khi vợ con bị bắt, tổ chức đã cho người dò la tung tích nhưng không tìm ra manh mối.
Một buổi tối năm 1960, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng, thăm hỏi động viên rồi thông báo tin dữ: Vợ và con gái tôi đã bị địch giết hại trong nhà tù Phú Lợi, Sài Gòn. Đau đớn đến bàng hoàng, ngay đêm hôm đó, tại căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hòa đóng dưới chân núi Hòn Dù, phía tây thành phố Nha Trang, bên ngọn đèn thắp bằng nhựa cây, trong xúc cảm và những niềm đau đớn tột cùng tôi đã viết nên bài thơ Quê hương như vẽ nên một sự thật đau xót:
“Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích em ơi
Đau xé lòng anh chết nửa con người”...
Sau này bài thơ đoạt giải Nhì, giải thưởng Thơ năm 1960-1961 của tạp chí Văn nghệ và đã trở thành một dấu mốc trong cuộc đời của tôi. Tưởng rằng vợ con đã bị địch giết hại, nhưng bất ngờ, năm 1962, sau 3 năm bị bắt, bà xã tôi và con gái được thả về do không tìm ra căn cứ kết tội. Gia đình nhỏ được đoàn tụ trong nước mắt.
Thế nhưng ngay sau đó lại có điện của Khu ủy Khu 6 gửi Tỉnh ủy Khánh Hòa điều tôi lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. Vợ chồng tôi vừa gặp mặt lại phải một lần nữa chia tay để tôi về cơ quan mới đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đắk Lắk và Tuyên Đức. Về Khu chưa được bao lâu tôi được cử đi học Trường Đảng do Trung ương cục miền Nam mở ở Tây Ninh, sau đó tôi được giữ lại công tác tại Hội Văn nghệ Giải phóng với chức danh Phó Tổng thư ký Hội.
Từ đó là quãng thời gian tôi gắn bó với hoạt động Văn nghệ Giải phóng. Nhưng một lần nữa tôi lại phải chia ly với vợ con, năm 1968 bà ấy lại bị bắt lần hai vẫn với cô con gái nhỏ do sơ suất của người giao liên nên bị lộ. Mãi đến năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, bà mới được phía bên kia trao trả.

Nhà thơ Giang Nam cùng vợ và con gái năm 1973. Ảnh tư liệu gia đình
Sau bao năm ly biệt, lúc này con gái tôi cũng đã 15 tuổi, còn vợ chồng tôi tuổi cũng đã cao nên không sinh thêm được người con nào nữa. Đất nước thống nhất, tôi lại được điều ra Hà Nội làm Tổng biên tập báo Văn nghệ vào năm 1978, nên tôi và bà ấy lại tiếp tục xa nhau. Mãi đến khi tôi được điều trở lại Khánh Hòa công tác thì gia đình nhỏ mới thực sự đoàn tụ. Con gái trưởng thành, tuy vẫn gần gũi bố mẹ nhưng cũng bận rộn với gia đình và công việc, còn vợ chồng tôi sống bên nhau trong căn nhà nhỏ ở thành phố Nha Trang.
Cuộc đời đã cho tôi và bà ấy chữ “Thọ” để được ở bên nhau hưởng những năm tháng cuối đời an lạc.
Tháng 4 năm 2013, cuối cùng thì bà ấy phải rời xa tôi ở tuổi 82 để về với tổ tiên. Sống với nhau được đến chừng ấy tuổi cũng đã là một sự ban ơn của trời đất, cũng là sự đáp đền sau bấy nhiêu mất mát, đau thương...
Lần gặp ấy, dù ở tuổi 92 nhưng ông còn khỏe mạnh và minh triết. Bên hiên nhà có những giò lan đu đưa, còn mình ông ngồi đó, dáng vóc cô đơn kể cho những người từng đọc Quê hương, câu chuyện về “em tôi”... Ngồi nghe ông kể chuyện đời, chuyện nhà, chuyện thơ mà bùi ngùi xúc động. Tôi bộc bạch cùng ông:
- Chính bài thơ Quê hương của anh làm cho em say và thăng hoa trong quá trình dạy học thơ ca chống Mỹ cứu nước, làm cho các em học sinh ngưỡng mộ anh, yêu quý em. Họ tìm thấy nét đẹp của người lính cụ Hồ trong thi phẩm này.
Nhà thơ cười, ông lặng đi, mắt nhìn vào khoảng xa xăm ngoài trời:
- Nhưng bây giờ người ta cho đó là thơ dở... hô khẩu hiệu... kể lể, dài dòng...
Chia tay ông lòng bồi hồi xúc động, cảm ơn nhà thơ Giang Nam với thi phẩm làm rung động trái tim tôi một thời trai trẻ. Bước chân ra về vẫn văng vẳng lại những câu thơ tình thế kỷ:
“Có cô bé nhà bên nhìn tôi cười khúc khích
Mắt đen tròn thương thương quá đi thôi
Tôi nắm tay em bé nhỏ ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng”...
Bình luận