Để di sản tiếp tục được sáng tạo, lan tỏa và tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đặt ra một yêu cầu đáng chú ý đối với công tác bảo tồn văn hóa dân gian trong giai đoạn mới: di sản không chỉ được sưu tầm, nghiên cứu, lưu giữ mà cần tiếp tục hiện diện, được trao truyền, sáng tạo và phát huy giá trị trong đời sống đương đại.
Diễn ra trong hai ngày 12 - 13/9/2026 tại Nhà khách La Thành (Hà Nội), Đại hội có sự tham dự của 330 đại biểu, đại diện cho hơn 1.700 hội viên trên cả nước. Đại hội là dịp nhìn lại chặng đường nhiệm kỳ 2020 - 2025 mà còn xác định những nhiệm vụ của Hội trong bối cảnh đời sống văn hóa đang có nhiều biến đổi, đặt công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian trước cả những cơ hội và thách thức mới.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành khóa IX gồm 13 ủy viên, Ban Kiểm tra Hội khóa IX; GS.TS Lê Hồng Lý tiếp tục được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031. Với phương châm “Đoàn kết - Khoa học - Đổi mới - Phát triển”, Đại hội thông qua Nghị quyết, xác định phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho nhiệm kỳ mới. Trong đó, một vấn đề xuyên suốt được đặt ra là làm thế nào để những giá trị văn hóa dân gian được trao truyền qua nhiều thế hệ không dừng lại ở việc được bảo tồn, mà tiếp tục sống, phát triển và tạo ra những giá trị mới trong đời sống hôm nay.

Ban Chấp hành khóa IX Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam ra mắt Đại hội. Ảnh Quang Vinh
Đưa văn hóa dân gian vào đời sống: cơ hội và thách thức
Phát biểu khai mạc Đại hội, GS.TS Lê Hồng Lý - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam ôn lại chặng đường 59 năm của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam kể từ khi thành lập ngày 1/3/1967. Theo ông, trong những năm chiến tranh, hành trang của người lính ra chiến trường có những câu ca dao, câu chuyện cổ tích do bà, mẹ kể, những truyền thuyết về các anh hùng chống ngoại xâm, những bài hát dân gian, làn điệu dân ca cổ vũ tinh thần chiến sĩ. Đó chính là sức sống và vai trò của văn hóa, văn nghệ dân gian trong đời sống.
Vai trò ấy tiếp tục được Hội duy trì qua các nhiệm kỳ bằng hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, công bố, phổ biến và truyền dạy những giá trị văn hóa dân gian được tích tụ qua nhiều thế hệ.
Nhiệm kỳ 2020 - 2025, dù chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và khó khăn về kinh phí, hoạt động sưu tầm, nghiên cứu vẫn được duy trì; nhiều công trình được công bố, xuất bản; các hội thảo, tập huấn, trại viết tiếp tục được tổ chức. Hội viên tích cực tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học, biên soạn địa chí, kiểm kê văn hóa, nghiên cứu làng nghề thủ công, sưu tầm âm nhạc dân gian, văn hóa ẩm thực... Sự phối hợp giữa Trung ương Hội với các chi hội địa phương và giữa các chi hội trong cùng khu vực cũng được tăng cường. Tuy nhiên, công tác bảo tồn văn hóa dân gian đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.

GS.TS Lê Hồng Lý - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phát biểu tại Đại hội
Trong bối cảnh đó, GS.TS Lê Hồng Lý nhấn mạnh yêu cầu mới đối với công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam: bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản mà phải làm cho di sản tiếp tục được sáng tạo, lan tỏa và tạo ra giá trị mới trong đời sống đương đại.
Đây cũng là yêu cầu đặt những người làm công tác văn hóa nói chung, văn hóa văn nghệ dân gian nói riêng trước trách nhiệm lớn hơn trong giai đoạn mới.
Theo GS.TS Lê Hồng Lý, việc đưa các giá trị văn hóa dân gian vào đời sống hiện đại mở ra cơ hội cho phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp văn hóa, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức như quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa khiến nhiều giá trị văn hóa dân gian có nguy cơ mai một, không gian sưu tầm, nghiên cứu bị thu hẹp. Kinh phí hạn chế khiến hoạt động tập huấn, trại viết, tài trợ công trình chưa thể mở rộng và đi vào chiều sâu. Phần lớn hội viên là những nhà sưu tầm, nghiên cứu không chuyên, tuổi đời cao nên việc tiếp cận công nghệ số còn khó khăn; công tác xã hội hóa hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến và truyền dạy di sản cũng chưa đáp ứng yêu cầu…
Từ bảo tồn đến phát huy nguồn lực của di sản
Phát biểu chỉ đạo tại Đại hội, ông Trần Thắng - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận định Đại hội lần thứ IX diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đòi hỏi phát huy cao độ mọi nguồn lực, trong đó văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực nội sinh quan trọng của sự phát triển bền vững.
Theo ông, điều đó đặt ra yêu cầu đối với công tác văn hóa dân gian không chỉ bảo tồn những giá trị được các thế hệ trao truyền, mà còn phải làm cho những giá trị ấy tiếp tục hiện diện, lan tỏa, phát huy sức sống trong đời sống đương đại và trở thành nguồn lực đóng góp cho sự phát triển đất nước.
Từ yêu cầu đó, để hiện thực hóa các mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội đề ra, thay mặt Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông Trần Thắng đề nghị Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Ông Trần Thắng - Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong nhiệm kỳ 2026 - 2031
Trước hết, Hội cần tiếp tục khẳng định vai trò của văn hóa dân gian trong xây dựng con người và phát triển đất nước; cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Mỗi hội viên, nghệ nhân cần phát huy trách nhiệm trao truyền các giá trị văn hóa, góp phần biến kho tàng văn hóa dân gian thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững.
Nhiệm vụ được ông Trần Thắng đặc biệt nhấn mạnh là làm tốt hơn công tác bảo tồn, kế thừa và trao truyền di sản qua các thế hệ; phát huy vai trò cầu nối giữa nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nghệ nhân và cộng đồng; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng thế hệ trẻ có năng lực, niềm đam mê với văn hóa truyền thống.
“Trong nhiệm kỳ tới, mỗi di sản được nghiên cứu, sưu tầm không chỉ được lưu giữ trong sách vở, bảo tàng hay hồ sơ, mà quan trọng hơn là phải tìm được cách để tiếp tục sống trong cộng đồng, hiện diện trong đời sống văn hóa và được tiếp nối, sáng tạo bởi công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ”, ông Trần Thắng nói.
Cùng với đó, Hội được đề nghị đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động, đẩy mạnh chuyển đổi số trong bảo tồn và lan tỏa văn hóa dân gian; xây dựng các hình thức truyền thông trên nền tảng số phù hợp với công chúng, nhất là giới trẻ; phối hợp với các cơ quan, địa phương nghiên cứu, ứng dụng văn hóa dân gian vào phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, xây dựng nông thôn mới.
Theo ông Trần Thắng, những hoạt động này không chỉ góp phần bảo tồn di sản mà còn phải hướng tới nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần của người dân - những chủ thể của di sản - ngay trên quê hương mình.
Hội cũng được đề nghị phát huy vai trò trong xây dựng đời sống văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức chính trị - xã hội đưa những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân gian vào đời sống cộng đồng; góp phần bài trừ hủ tục, lạc hậu, mê tín dị đoan, phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp và các giá trị nhân văn của các dân tộc; quan tâm hoạt động văn hóa, nghệ thuật tại địa bàn chiến lược, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào tôn giáo.
Cùng với chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cán bộ, hội viên, Hội cần nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp đối với đội ngũ hội viên, nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nghệ nhân dân gian ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tôn vinh, đãi ngộ, tạo điều kiện để nghệ nhân tiếp tục truyền dạy di sản cho thế hệ sau.

Đại diện Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng hoa chúc mừng Đại hội
Những yêu cầu đặt ra tại Đại hội cũng được cụ thể hóa trong phương hướng hoạt động của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Hội xác định tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm văn nghệ dân gian của 54 dân tộc, đồng thời đi sâu khám phá những giá trị, quy luật tư duy sáng tạo của cha ông còn tiềm ẩn trong tác phẩm, phong tục, biểu tượng..., nâng cao chất lượng các công trình nghiên cứu, sưu tầm phục vụ việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời đại mới. Trong đó, công tác sưu tầm sẽ chú trọng các tộc người có số dân dưới 10.000 người và những tộc người vì nhiều nguyên nhân, điều kiện lịch sử đã quên tiếng mẹ đẻ và những biểu hiện văn hóa tộc người.
Cùng với sưu tầm, nghiên cứu, Hội đặt nhiệm vụ khai thác các giá trị văn hóa dân gian phục vụ đời sống văn hóa của nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; mở rộng phối hợp nghiên cứu, khôi phục, làm mới các giá trị văn hóa truyền thống như lễ hội, nghệ thuật trình diễn dân gian. Việc bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số được đặt trong mối quan hệ với tạo sinh kế bền vững. Văn nghệ dân gian cũng được xác định có khả năng đóng góp vào phát triển công nghiệp văn hóa, song quá trình khai thác phải bảo vệ và phát huy giá trị truyền thống từ điểm nhìn của cộng đồng, tránh thương mại hóa quá mức làm mất bản sắc địa phương.
Chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ mới. Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hội coi số hóa là giải pháp quan trọng để bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong kỷ nguyên công nghệ.
Theo phương hướng được trình tại Đại hội, Hội sẽ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số đồng bộ, bảo mật về văn hóa dân gian của 54 dân tộc; chuyển đổi các kho tư liệu quý hiếm, băng đĩa ghi âm, ghi hình nghệ nhân sang định dạng kỹ thuật số chất lượng cao; phổ biến văn hóa truyền thống trên không gian mạng, các nền tảng mạng xã hội nhằm mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, đặc biệt là giới trẻ.

Toàn cảnh Đại hội
Cùng với đó là yêu cầu xây dựng lực lượng tiếp nối. Hội tiếp tục phát triển hội viên, đặc biệt là hội viên trẻ được đào tạo cơ bản; tổ chức tập huấn cho hội viên người dân tộc thiểu số có vốn di sản phong phú nhưng chưa có kỹ năng nghiên cứu, sưu tầm; duy trì các trại viết chuyên sâu và đầu tư có trọng tâm cho những đề tài còn ít được nghiên cứu.
Đối với những người trực tiếp nắm giữ di sản, Hội tiếp tục phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, đồng thời quan tâm lớp nghệ nhân trẻ được tiếp nhận kiến thức, kỹ năng từ các nghệ nhân cao tuổi để tiếp tục thực hành, truyền dạy vốn văn hóa của cha ông. Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, Hội cũng xác định tăng cường kết nối với các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, nhà tài trợ; mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế, hội đoàn ở nước ngoài có chung mục tiêu bảo vệ, phát huy di sản văn hóa dân gian.
Cần quan tâm đến lợi ích của cộng đồng và những chủ thể đang trực tiếp nắm giữ, thực hành, trao truyền di sản
Trao đổi bên lề Đại hội, từ góc độ nghiên cứu văn hóa dân gian, GS.TS Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam nhìn nhận văn hóa là một dòng chảy từ quá khứ, qua hiện tại và tiếp diễn trong tương lai. Vì vậy, thế hệ hôm nay có trách nhiệm bảo tồn, phát huy vốn văn hóa quý giá được tiền nhân trao lại, để dòng chảy ấy “không hề bị đứt đoạn”, không rơi vào những “vết gãy”, đồng thời để con người đương đại không xa cách với di sản.
Nhưng để duy trì dòng chảy ấy, GS.TS.NSƯT Nguyễn Chí Bền cho rằng không thể chỉ dừng lại ở việc kêu gọi bảo tồn, quảng bá hay truyền dạy. Điều cần được quan tâm là lợi ích của cộng đồng và những chủ thể đang trực tiếp nắm giữ, thực hành, trao truyền di sản.

GS.TS Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Đại hội
Điều này cũng đã được ông Trần Thắng - Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tại Đại hội. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cần tích cực phối hợp với các cơ quan, địa phương để nghiên cứu, ứng dụng văn hóa dân gian vào việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, xây dựng nông thôn mới, nâng cao nông thôn mới kiểu mẫu. Qua đó, không chỉ giúp bảo tồn di sản mà còn giúp người dân - chủ thể của di sản - nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần ngay trên mảnh đất quê hương của mình.
Theo GS.TS.Nguyễn Chí Bền, nếu không có lợi ích, không có thu nhập kinh tế thì việc bảo tồn sẽ rất khó khăn. Và công việc này không thể chỉ dựa vào Nhà nước hay một số doanh nghiệp, mà cần phát huy chính sức sống và tiềm năng kinh tế của di sản, qua đó vừa góp phần bảo tồn văn hóa, vừa đem lại lợi ích cho những người đang gìn giữ di sản.
Vì vậy, theo ông, cần có hệ thống chính sách, kế hoạch rõ ràng, trong đó quyền lợi của cộng đồng và nghệ nhân phải được bảo đảm. Khi những người trực tiếp nắm giữ, thực hành di sản có điều kiện sống với di sản, việc bảo tồn mới có cơ sở để duy trì lâu dài.
Sưu tầm, nghiên cứu, số hóa hay khai thác giá trị di sản đều cần thiết, nhưng di sản chỉ thực sự tiếp tục sống khi còn được cộng đồng thực hành, được thế hệ sau tiếp nhận, sáng tạo, trao truyền và những người gìn giữ di sản được hưởng lợi từ chính những giá trị mà họ đang bảo tồn.
Bình luận