Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác dân tộc giai đoạn mới
Thay mặt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ký ban hành Kết luận số 01/KL-MTTW-ĐCT về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong công tác dân tộc giai đoạn mới.

Bà Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, cùng đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031
Tại Hội nghị lần thứ 6 Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam khóa X, sau khi nghe Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Kết luận số 01/KL-ĐCT ngày 20/8/2015 của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá VIII về "Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam trong công tác dân tộc" (sau đây gọi tắt là Kết luận số 01) do Ban Thường trực trình bày và các ý kiến thảo luận, góp ý của đại biểu, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam thống nhất kết luận:
1. Trong 10 năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính quyền; sự phối hợp thường xuyên của các cơ quan chức năng; sự chủ động của Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp và sự phối hợp thống nhất hành động với các tổ chức chính trị - xã hội (CT-XH), các tổ chức thành viên, công tác dân tộc của MTTQ Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đảm bảo đúng các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Việc tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách dân tộc được thực hiện thường xuyên; việc xây dựng và phát huy vai trò của người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động, đoàn kết, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số được thực hiện hiệu quả; việc chăm lo, đảm bảo an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS) được quan tâm. Những kết quả đó đã góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, chính quyền, của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với công tác dân tộc; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc; tạo đồng thuận xã hội, tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương và đất nước.
Tuy nhiên, công tác dân tộc của MTTQ, các tổ chức CT-XH còn có mặt hạn chế. Công tác nắm tình hình tư tưởng, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi chưa chủ động, kịp thời. Việc triển khai các phong trào thi đua, các cuộc vận động; xây dựng, nhân rộng mô hình, điển hình trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và công tác giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc ở một số địa phương chưa hiệu quả. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc của MTTQ còn bất cập, thiếu ổn định, một bộ phận chưa đáp ứng yêu cầu. Nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các tổ chức CT-XH của một số địa phương chưa thực sự đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
2. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu công tác tập hợp, đoàn kết đồng bào, cộng đồng các dân tộc ở nước ta trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam thống nhất phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ, các tổ chức CT-XH trong công tác dân tộc giai đoạn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 như sau:
2.1. Phương hướng
(1) Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển; thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo đa chiều bền vững. Đảm bảo sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng; sự phối hợp thường xuyên với các cơ quan Nhà nước; sự phối hợp thống nhất hành động với các tổ chức thành viên và sự chủ động, sáng tạo của Uỷ ban MTTQ các cấp trong chủ trì, phối hợp thực hiện công tác dân tộc nhằm củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
(2) Thống nhất nhận thức: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Làm tốt công tác dân tộc của MTTQ, các tổ chức CT-XH là yêu cầu vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược, góp phần phát huy sức mạnh nội sinh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Gắn công tác dân tộc của MTTQ, các tổ chức CT-XH với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo đa chiều bền vững, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
(3) Đổi mới tư duy và cách tiếp cận trong công tác dân tộc, chuyển mạnh từ tư duy "chăm lo, hỗ trợ" sang đồng hành, khơi dậy nội lực, phát huy vai trò chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế - xã hội. Xác định đồng bào DTTS vừa là đối tượng vận động, vừa là chủ thể tham gia xây dựng và thực thi chính sách.
(4) Đổi mới công tác dân tộc trên cơ sở rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trong phân công, phối hợp và thống nhất hành động, cụ thể: Rõ về vai trò, trách nhiệm chủ trì của Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp; sự phân công và vai trò nòng cốt thực hiện của các tổ chức CT-XH và vai trò chủ động phối hợp, thống nhất hành động của các tổ chức thành viên cùng cấp trong lựa chọn nội dung tuyên truyền, vận động, đoàn kết; thực hiện quyền làm chủ của đồng bào dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh và công tác đối ngoại.
(5) Thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đồng bào DTTS. Bảo đảm vai trò nòng cốt chính trị của MTTQ Việt Nam, các tổ chức CT-XH để đồng bào dân tộc thực hiện quyền làm chủ theo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
2.2. Nhiệm vụ, giải pháp
(1) Đổi mới toàn diện nội dung, phương thức công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, tập hợp đoàn viên, hội viên vùng đồng bào DTTS tham gia xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách về dân tộc và công tác dân tộc, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS, miền núi trong tình hình mới.
- Chủ động tham gia nghiên cứu, tổng kết thực tiễn; kịp thời đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách về dân tộc và công tác dân tộc, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.
- Đổi mới mạnh mẽ phương thức tuyên truyền, vận động theo hướng lắng nghe, đối thoại, tham vấn cộng đồng, tăng cường tiếp xúc trực tiếp với đồng bào DTTS tại cơ sở; bảo đảm nội dung tuyên truyền phù hợp với từng dân tộc, từng địa bàn.
- Phát huy vai trò già làng, trưởng bản, người có uy tín, cán bộ tiêu biểu là người DTTS trong công tác tuyên truyền, vận động, nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội và tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh ở cơ sở. Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu số về công tác dân tộc.
- Tăng cường tham mưu tổ chức tiếp xúc, đối thoại định kỳ giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức CT-XH với đồng bào DTTS; đổi mới phương thức nắm tình hình nhân dân, dư luận xã hội, kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến dân tộc, tôn giáo, an ninh trật tự ngay từ cơ sở để tham mưu giải quyết hiệu quả, tránh phát sinh thành "điểm nóng".
- Chủ động phối hợp triển khai các chủ trương, chính sách, chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc, trọng tâm là: Chỉ thị của Ban Bí thư về tăng cường công tác dân vận trong vùng đồng bào DTTS; tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Mông; công tác đối với đồng bào dân tộc Hoa, dân tộc Khmer, dân tộc Chăm... trong giai đoạn mới; Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026-2035...
(2) Nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc và đầu tư công ở vùng đồng bào DTTS; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết kiến nghị sau giám sát.
- Đổi mới công tác giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực dân tộc, đảm bảo giám sát thực chất, giám sát đến cùng, nhất là đối với các chương trình, dự án đầu tư ở vùng đồng bào DTTS. Phát huy vai trò giám sát của Nhân dân, Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, thực hiện giám sát có trọng tâm, trọng điểm, tránh hình thức; nâng cao chất lượng phản biện xã hội, nhất là thực hiện các dự án liên quan trực tiếp tới đời sống nhân dân.
- Theo dõi, đôn đốc, giám sát việc tiếp thu, giải quyết kiến nghị sau giám sát; kịp thời báo cáo, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý những vấn đề chưa được giải quyết dứt điểm liên quan đến chính sách dân tộc và công tác dân tộc.
(3) Tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, lực lượng vũ trang trong công tác dân tộc, bảo đảm an ninh, trật tự và đối ngoại nhân dân ở vùng biên giới.
- Thực hiện hiệu quả các chương trình, quy chế phối hợp giữa MTTQ, các tổ chức CT-XH với các bộ, ngành, lực lượng vũ trang trong công tác dân tộc, nhất là tại vùng biên giới, vùng trọng điểm, địa bàn phức tạp.
- Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và các cơ quan liên quan triển khai hiệu quả Chỉ thị số 06/2008/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào DTTS, gắn với phong trào "Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới". Tăng cường công tác bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, cung cấp thông tin cho người có uy tín thông qua các lớp tập huấn, các hoạt động tham quan, trao đổi kinh nghiệm; nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp đối với người có uy tín, để thực sự phát huy vai trò nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở cơ sở.
- Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại nhân dân gắn với công tác dân tộc, góp phần xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
(4) Đổi mới việc lựa chọn nội dung hoạt động, phương thức phối hợp và thống nhất hành động trong công tác dân tộc theo hướng phân công thực hiện rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, tránh chồng chéo nhiệm vụ; đẩy mạnh các phong trào thi đua, các cuộc vận động; xây dựng và nhân rộng các mô hình hiệu quả, phù hợp với đặc điểm dân tộc, địa bàn.
- Phát huy vai trò chủ trì của Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp, vai trò nòng cốt thực hiện của các tổ chức CT-XH và trách nhiệm phối hợp thống nhất hành động của các tổ chức thành viên trong quá trình triển khai các chương trình, kế hoạch hành động trên lĩnh vực công tác dân tộc.
- Gắn công tác dân tộc với việc triển khai các phong trào thi đua, cuộc vận động, các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, tránh dàn trải, hình thức.
- Lựa chọn xây dựng mô hình điểm theo vùng, theo dân tộc, tập trung vào phát triển sinh kế bền vững, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, xây dựng cộng đồng đoàn kết, tự quản.
- Thường xuyên sơ kết, tổng kết, kịp thời biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong đồng bào DTTS.
(5) Chăm lo công tác tổ chức, cán bộ, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào DTTS.
- Quan tâm đầu tư xây dựng, củng cố bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc của hệ thống MTTQ và các tổ chức CT-XH các cấp theo hướng tinh gọn, chuyên sâu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu phong tục, tập quán, ngôn ngữ, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, có kỹ năng, phương pháp dân vận đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Chủ động rà soát, đề xuất các cơ chế, chính sách nhằm nâng cao chất lượng hoạt động và phát huy vai trò của các vị Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam, các vị uỷ viên ban chấp hành các tổ chức CT-XH là người có uy tín tiêu biểu trong các DTTS.
3. Tổ chức thực hiện
3.1. Ở Trung ương
- Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Thường trực các tổ chức CT-XH xây dựng hướng dẫn/chương trình/kế hoạch hành động để quán triệt, triển khai thực hiện Kết luận tới Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức CT-XH các cấp; hướng dẫn cơ chế phối hợp, thống nhất hành động giữa Uỷ ban MTTQ Việt Nam với các tổ chức CT-XH và các tổ chức thành viên khác trong công tác dân tộc, nhất là công tác vận động, tập hợp phát huy vai trò già làng, trưởng bản, người có uy tín, trí thức trẻ là người DTTS trong tuyên truyền, vận động và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do MTTQ, các tổ chức CT-XH phát động.
- Hằng năm, Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Thường trực các tổ chức CT-XH bố trí nguồn lực thoả đáng cho công tác dân tộc; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Kết luận tại các địa phương; định kỳ tiến hành sơ, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm và biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích trong việc thực hiện Kết luận này.
3.2. Ở địa phương
- Tổ chức quán triệt, triển khai nghiêm túc các nội dung của Kết luận; cụ thể hóa Kết luận vào chương trình, kế hoạch công tác và các nhiệm vụ thường xuyên của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức CT-XH các cấp tại địa phương, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn từng vùng, từng địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số.
- Hằng năm, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam, Thường trực các tổ chức CT-XH các tỉnh, thành phố bố trí nguồn lực thoả đáng cho công tác dân tộc; hướng dẫn chuyên môn và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Kết luận và các hướng dẫn/chương trình/kế hoạch hành động tại địa phương. Định kỳ tiến hành sơ, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm và biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích trong việc thực hiện Kết luận này.
Đoàn Chủ tịch giao Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cụ thể hóa các nội dung để triển khai thực hiện Kết luận này, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện, báo cáo Đoàn Chủ tịch và Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
Xem Toàn văn Kết luận số 01/KL-MTTW-ĐCT tại đây.
Theo phunuvietnam.vn
Bình luận