Nhà văn Nguyễn Văn Đệ từ bút ký, truyện ngắn đến tiểu thuyết “Tâm cơn bão biển”
Nhà văn Nguyễn Văn Đệ sinh ra và lớn lên tại vùng biển Diêm Phố, Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, nơi đời mỗi ngư dân thường được đong đếm bằng những chuyến ra khơi, họ thuộc đáy biển như lòng bàn tay. Nguyễn Văn Đệ đã dành tình yêu cho văn học từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường. Tốt nghiệp phổ thông ông cầm súng lăn lộn với chiến trường Bình Trị Thiên từ năm 1968 đến năm 1971. Ông đặt dấu ấn trên văn đàn bằng giải nhất trong cuộc thi ký văn học của Ban Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam năm 1985-1986 với bút ký “Bãi cá giữa vụ cá” và giải ba Báo Văn nghệ năm 1988 với bút ký “Đảng viên làng tôi”.
Năm 1988, Nguyễn văn Đệ vào học Trường viết văn Nguyễn Du (hệ đại học). Tốt nghiệp, ông về công tác ở Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Năm 1996, bút ký Một chuyến đi biển đã đoạt giải nhì truyện ký Báo Văn nghệ (cuộc thi không có giải nhất). Những năm sau ông cho ra mắt hai tập truyện ngắn là Vàng dưới biển xanh năm 1990 và Mắt biển xanh Nhà xuất bản Hội nhà văn năm 2003, đạt giải A giải văn học Lê Thánh Tông. Truyện ngắn Điều thằng Lượng không nói thật đạt giải ba trong cuộc thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2010. Truyện ngắn Khúc sông chảy xiết đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn năm 2013 của Tạp chí Xứ Thanh.

Nhà văn Nguyễn Văn Đệ. Ảnh: Báo Thanh hóa
Ngoài truyện ngắn và ký, ông đã cho xuất bản 5 tiểu thuyết là: Người thay thế năm 1991; Hồn Biển đạt giải ba trong cuộc thi viết về biển đảo năm 2008 của Hội Nhà văn Việt Nam; Tiếng biển năm 2015; Nỗi niềm năm 2019; Tâm cơn bão biển năm 2023. Ông có những tác phẩm văn học xuất sắc, bởi từng hạt muối, hạt cát và cả nắng gió của biển cả đã ngấm sâu vào máu thịt của ông, nên nói đến Nguyễn Văn Đệ là người đọc nhớ đến nhà văn của biển cả.
Không chỉ có dấu ấn đậm nét trong văn xuôi, ông còn xuất hiện trên văn đàn với những vần thơ giàu hình tượng, giàu cảm xúc, chan chứa tình người, tình biển: “Đất đẻ ra cây/ Biển đẻ ra thuyền/ Mẹ đẻ tôi trong đêm mưa gió/ Khi cha còn chém sóng đường khơi/ Lúc bà đỡ chưa kịp đến/ Mẹ đập vỏ ngao làm dao cắt rốn/ Và tự tay người moi cát chôn rau/ Tôi lớn lên tôi đi chiến đấu/ Máu phía nào rơi cũng đỏ mắt mẹ thương đau/ Tôi trở lại quê hương mẹ tôi đã mất/ Sóng bạc đầu xô mộ mẹ trắng phau”.
Gần đây nhất (năm 2023), Nguyễn Văn Đệ cho ra mắt cuốn tiểu thuyết: Tâm cơn bão biển do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Cuốn tiểu thuyết đã ám ảnh day dứt và tạo những sóng ngầm sâu lắng trong tâm thức người đọc. Tiểu thuyết cốt truyện lấy cơn bão quái ác số 7 (Frankie) năm 1996 tàn phá miền Bắc Việt Nam với sức gió lên đến 165km/giờ, đã gây tổn thất rất nặng nề làm hơn 100 người chết, thiệt hại vật chất đến 200 triệu USD. Cơn bão vùi dập đoàn thuyền đánh lưới vây hơn trăm chiếc cùng ngư lưới cụ, cướp đi hơn 50 ngư dân của làng Đa Ngư, những con người chân chất thật thà suốt đời bám biển. Qua tiểu thuyết, tác giả đưa người đọc như trực tiếp đối mặt với giông tố, cửa ải mà hầu như ngư dân nào cũng phải qua; được hội ngộ tình người trong cơn hoạn nạn, những bất hòa hiềm khích trong cuộc sống đời thường ngư dân đều bỏ lại phía sau. Họ chỉ mang theo tình yêu thương ra biển, quên mình cùng nhau lao động, chống chọi với phong ba bão táp, sống chết có nhau.

Bìa cuốn tiểu thuyết "Tâm cơn bão biển".
Tiểu thuyết tái hiện những con người làng chài đã nhiều thế hệ đánh cá ở miền Trung nghèo khó. Những con người thật thà chất phác, nói thì thẳng như mái chèo chém sóng, da chân da tay của họ dày như vỏ cam sành.
Câu chuyện đưa người đọc chao đảo trong không khí tang thương của cả làng Đa Ngư bằng nghệ thuật đặc tả nội tâm. Ông Ngư bị hối thúc chạy đua với thời gian đi tìm vớt xác những người đã chết khỏi làm mồi cho tôm cá. Suốt mấy đêm ròng, ông Ngư không sao chợp mắt. Hình ảnh ông Nghê, người bạn già trái tính trái nết nhưng tốt bụng quên mình cứu gạo chở ra chiến trường khi gạo bị chìm, rồi quẳng phao cho ông… cứ hiện lên trong tâm trí. Ông Ngư quyết tâm đi tìm xác bạn và những ngư dân của làng Đa Ngư còn vật vờ nổi trôi trong lòng biển cả tối tăm với bao nhiêu khó khăn và rào cản...
Rồi trong đêm trăng muộn, ông Ngư lén trộm con tàu bốn lăm sức ngựa của chủ nhiệm Thục vừa tậu được qua cuộc bán hóa giá do Hợp tác xã Đa Ngư giải thể để đi vớt xác người chết. Con tàu bốn lăm sức ngựa do ông Ngư cầm lái kéo giã quét suốt đêm ngày. Lúc quá mệt tranh thủ vào mui tàu ngủ một lát, vừa chợp mắt ông Ngư đã nằm mơ thấy đàn cá heo đang giúp ông ủi những cái xác người trôi vật vờ dưới đáy biển vào giã, ông Ngư mừng lắm, ông gặp con cá heo xám... Và cuối cùng trong chuyến trộm tàu đi khơi rà tìm xác những ngư dân chết vì bão, con tàu đã về bến vớt được hơn hai chục cái xác chết cuối cùng của làng, như xoa bớt nỗi đau.
Trong câu chuyện, nhà văn không chỉ dồn sức khắc họa một trận bão biển (tr.16-24), kéo theo nhiều cơn bão trong lòng người, mà còn vẽ những bức tranh phong cảnh biển đầy chất thơ.
Tác giả đã thâm nhập sâu sắc vào nhân vật, đưa người đọc đi hết khó khăn bất ngờ này đến với những cam go khó khăn và nỗi đau khác… Nhưng cái xác trôi vật vờ dưới đáy biển mấy ngày đêm liền, bị va đập và bị cá nóc, thứ cá có cái răng sắc nhọn như dao cạo rỉa rói làm các thân hình không còn nguyên vẹn, rách nát nham nhở. Rất nhiều gia đình không nhận được xác người thân vì mặt mũi đều biến dạng. Một bà mẹ nhận được xác thằng con trai trẻ chưa kịp lấy vợ vì nó có bàn tay chỉ bốn ngón tay ( thằng bốn ngón). Một ngư dân nhận được bạn mình vì trước hôm đi đánh cá hai người đã say rượu, rồi gây sự đánh nhau, anh bạn bị gãy cái răng cửa, dấu vết duy nhất ấy cho anh ngư dân tìm được xác bạn mình.
Bằng trực giác nhạy cảm, một yếu tố thường tại trong tư duy của người viết giàu tư chất, giàu sử liệu, đơn cử năm 1931 Diêm Phố đã mất 344 người đi biển cũng vì một cơn bão. Không chỉ có mất mát từ những cơn bão, mà con người của làng Đa Ngư còn phải chịu đựng gian khổ khốc liệt với hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ; cùng những vết đau nhói khó lành của hậu chiến tranh như. Tất cả chỉ như là thử thách để con người nơi đây đứng dậy.
Tác giả không chỉ cho người đọc chiêm ngưỡng những bức tranh miêu tả biển trời giàu đẹp; những chuyến đi khơi với những ngư dân lành nghề căng mắt dồn sức truy tìm những tía cá lớn trên biển bạc, những màn đánh cá, đánh tôm sinh động cùng bản chất cần cù nhân hậu của người ngư dân. Mà tác giả còn lột tả cuộc sống khó khăn nhọc nhằn uẩn khúc của họ trong thời bao cấp. Hoàn cảnh đã bắt buộc người dân biển chân chất thật thà phải ăn trộm chính thành quả của mình, đó là mấy con cá mà chính họ phải vật lộn với sóng gió mới đánh bắt được, bởi kết quả chia chác bằng thứ công điểm thời hợp tác xã không đủ nuôi con. Và cho dù bị phạt, bị bắt giam, rồi họ vẫn phải ra biển để chém sóng lặn gió (tr. 59).
Nhà văn còn cho người đọc biết thêm về phong tục tập quán lý thú của dân vùng biển, được mục sở thị những chi tiết cười ra nước mắt. Ông Thản, một ngư dân cừ khôi vung chèo đến gãy mái chèo để con thuyền vượt lên đuổi theo tia cá gúng đang lẩn chạy và cuối cùng thuyền của ông và ông Ngư đánh trúng mẻ cá lớn, mang tiếng thơm cho cả huyện biển. Ông chủ tịch huyện về xã họp khen thưởng… Ông Thản, thật sự xúc động nhớ mãi trong đời ông đã may được bắt tay ông chủ tịch huyện. Nhất là ông chủ tịch lại thay mặt ủy ban huyện tặng thưởng cho ông Thản và ông Ngư một bộ comple, ông Ngư được thưởng cái quần, ông Thản được cái áo. Cái quần comple khó mặc nên ông Ngư cho luôn ông Thản, ông Thản thích thú. Đông cũng như hè, ông Thản luôn vận bộ comple vì ông rất tự hào về nó. Nhiều hôm, chèo thuyền vây bắt cá, bộ comple làm vướng tay chân ông, nhưng ông vẫn không xa rời nó.
Tác giả viết về “xóm Chờ” trần trụi, dí dỏm, như một mũi khoan xoáy vào lòng người gây đau buốt. Xóm Chờ, bột phát như “cái nhọt” trên mảnh đất của làng chài nhưng nó đã giải thoát thực trạng ách tắc của gái không chồng, hệ lụy của chiến tranh. Những cô gái, từng tham gia quân đội, thanh niên xung xong, sau chiến tranh họ trở về làng, các cô đều không có đàn ông để lấy làm chồng (chống Mỹ làng Diêm Phố có 174 liệt sỹ, 54 thương binh), bỗng trở thành một gánh nặng khó giải quyết cho gia đình và xã hội.
Với sự khao khát hơi ấm của đàn ông, khát khao có tiếng trẻ bi bô luôn rực cháy trong lòng mỗi người đàn bà. Thế rồi các chị rủ nhau bỏ cái dãy nhà tình nghĩa tập thể khá tiện nghi mà chính quyền đã xây cho, tự ý ra cửa lạch, xây nên những cái lều nhỏ đơn côi để ở với hy vọng cái cửa lạch có bến đò mới mở sẽ có khách qua sông… đã tạo nên “xóm Chờ ”. Rồi một ngày kia, có một chị tự nhiên mang bụng, rồi hai ba chị bụng to, niềm vui nhen nhóm… Vấn đề trở nên éo le, rắc rối hơn cả, chịu hy sinh tai tiếng hơn cả là bỗng dưng ông Nghê bí thư đảng ủy xã xin từ chức, xin ra khỏi Đảng, rũ bỏ tất cả để ra xóm Chờ xoa bớt nỗi đau cho xóm. Và rồi trong chuyến đi biển gặp cơn bão định mệnh lần ấy, ông Nghê đã không trở về, xóm Chờ chờ mong trong khắc khoải tang thương.
Một chi tiết kết chuyện làm day dứt nhức nhối xoáy vào lòng người đọc, tìm mãi chưa xác định được chồng trong đám xác người từ cái đuôi giã quét mà ông Ngư kéo về, trong đau xót chị vợ chợt nhớ trước lúc đi khơi, vợ chồng đắm say trao nhau thân xác, lúc anh chồng đứng dậy ra biển, chị vợ đã thắt cái dút quần bằng dây đay với cái nút thắt “cổ cầy”. Và chính cái nút thắt cùng sợi dây riêng biệt ấy giúp chị nhận được xác chồng. (tr. 159) đó chính là ông Nghê.
Trong tiểu thuyết, tác giả như nhập vào đối tượng, lắng nghe thế giới bằng sự quen thuộc nhạy cảm. Tác giả đã khéo dùng nghệ thuật tự sự, tự nhiên suồng sã, khắc họa nhân vật nào cũng điển hình sống động, rõ tính cách từ người lao động cho đến cán bộ đảng chính quyền.
Trong câu chuyện, người đọc cảm giác làng Đa Ngư như lênh đênh nơi hoang đảo, sự khổ cực đắng cay, đau thương mất mát đều cô đơn chịu đựng, chỉ có dân làng với dân làng. Sự thờ ơ vô cảm như quay mặt với nỗi đau của những người lương thiện yếu thế, không thấy bóng dáng của bàn tay cứu rỗi nào? May mà có đàn cá heo… Chính vì vậy người đọc Tâm cơn bão biển không thể thoát được cơn xoáy lốc thôi thúc tỉnh thức lòng người. Câu chuyện thể hiện hoài bão mãnh liệt của nhà văn là tiếng thét cảnh tỉnh: hãy đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái vô cảm; hãy ngăn ngừa thiên tai địch họa; hãy quan tâm đặc biệt đến quyền sống, quyền được hạnh phúc của con người.
Là người ham ăn tục uống, tôi chỉ tiếc tác giả chưa cho người đọc được sống trong cảm giác ngập răng với “hải vị” phong phú của biển miền Trung quê ông.
Bão biển là hiện tượng tự nhiên của trời đất rồi sẽ tan. Nhưng cơn bão lòng người, gây bởi bức tranh đầy tính hiện thực mà tác giả vẽ lên với bố cục gọn, lớp tầng hợp lý, bằng ngôn từ kể chuyện mộc mạc, suồng sã hấp dẫn, ám ảnh mãi nỗi đau của một vùng biển mong manh xơ xác, vì thương tích triền miên của thiên tai, của chiến tranh, của u mê vô cảm, đã tạo vực xoáy vào lòng trắc ẩn sẽ còn dai dẳng thật khó tan.

Ấn tượng đọc "Miền ký ức", bình luận và chân dung của Cao Ngọc Thắng, Nxb Hội Nhà văn, 2023
Bình luận