Bốn bước chuyển chiến lược theo tinh thần Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Từ lý luận đến thực tiễn
Bài viết tập trung phân tích và luận giải sâu sắc những nội dung cốt lõi của Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, đặc biệt là ý nghĩa sinh tử của việc tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực phát triển quốc gia. Qua đó, làm rõ 4 bước chuyển chiến lược mang tính đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản trị thống nhất không gian phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên công nghệ, tri thức và bảo đảm sức chống chịu của đất nước trong giai đoạn mới. Bài viết đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm đưa các quyết sách của Trung ương vào thực tiễn sinh động của công tác quản trị quốc gia.
1. Đặt vấn đề
Thực tiễn công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những thời cơ và thách thức đan xen sâu sắc. Sau bốn thập kỷ kiên định đường lối đổi mới, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu mang tính sống còn phải tái lập và tối ưu hóa các động lực tăng trưởng mới. Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (diễn ra từ ngày 20/7 đến ngày 24/7/2026) đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/TW, đưa ra những quyết sách quan trọng, mang tầm vóc lịch sử (Ban Chấp hành Trung ương, 2026a). Dựa trên Hướng dẫn số 255-CV/BTGDV, trọng tâm tuyên truyền hiện nay là làm rõ ý nghĩa của việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng, đặc biệt là việc nhận diện khách quan và quyết liệt tháo gỡ các “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực quốc gia.
Dưới góc nhìn liên ngành của khoa học Xây dựng Đảng và Quản trị nhà nước hiện đại, việc tháo gỡ điểm nghẽn hiện nay không chỉ dừng lại ở các giải pháp tình thế, mà là cuộc đại phẫu về thể chế và phương thức vận hành hệ thống. Kế thừa tư duy kiến tạo từ các nhiệm kỳ trước, tinh thần Đại hội XII, XIII và khát vọng vươn lên mạnh mẽ tại Đại hội XIV (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026), Trung ương đã thông qua hàng loạt chủ trương lớn nhằm kiện toàn bộ máy. Nổi bật là việc ban hành “Kết luận số 76-KL/TW về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”, hướng tới một bộ máy tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả (Ban Chấp hành Trung ương, 2026d). Song song đó, để siết chặt kỷ cương, Đảng đã ban hành Quy định số 208-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng và Quy định số 207-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm (Ban Chấp hành Trung ương, 2026b, 2026c), qua đó nhấn mạnh “cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” (Bộ Chính trị, 2018). Ở bình diện hành chính nhà nước, Chính phủ cũng kịp thời ban hành “Nghị định 300/2026/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức” (Chính phủ, 2026), tạo hành lang pháp lý vững chắc nhằm xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, triệt tiêu tư tưởng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Từ những quyết sách đồng bộ này, Đảng ta đã định hình rõ nét 04 bước chuyển chiến lược: (1) Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền; (2) Quản trị thống nhất không gian phát triển; (3) Xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức thông qua Chương trình số 33-Ctr/TW thực hiện “Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”; và (4) Chủ động phòng ngừa rủi ro với nền tảng là Nghị quyết số 22-NQ/TW về Chiến lược An ninh quốc gia (Ban Chấp hành Trung ương, 2026a). Việc phân tích, luận giải sâu sắc các bước chuyển này không chỉ củng cố nền tảng lý luận về chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên số, mà còn là kim chỉ nam cho hành động thực tiễn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV đã đề ra.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3, khóa XIV. Ảnh: VGP.
2. Ý nghĩa sống còn của việc tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực
Dưới góc nhìn của khoa học quản trị quốc gia và kinh tế chính trị học Mác - Lênin, sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên lộ trình hiện đại hóa cũng phải đối mặt với những giới hạn và rào cản mang tính chu kỳ. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định, các quan hệ sản xuất (mà biểu hiện tập trung là hệ thống thể chế, chính sách và pháp luật) nếu không kịp thời điều chỉnh sẽ trở thành chiếc áo chật hẹp, kìm hãm sự phát triển. Đối với Việt Nam hiện nay, khi đất nước đang ở giai đoạn then chốt của việc bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình, các “điểm nghẽn” đã bộc lộ ngày càng phức tạp, trở thành lực cản trực tiếp đối với các mục tiêu chiến lược. Ngay từ Đại hội XIII, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ thể chế vẫn là một “điểm nghẽn” lớn, và việc “hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển” là đột phá chiến lược đầu tiên cần thực hiện (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 203). Bước sang năm 2026, trong bối cảnh khởi đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV, hệ thống “điểm nghẽn” này thể hiện tập trung ở sự bất cập của một bộ phận thể chế quản trị; sự chồng chéo, thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật (đặc biệt là lĩnh vực đất đai, đầu tư, xây dựng); và những thủ tục hành chính rườm rà đang làm xói mòn năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp. Hơn thế nữa, sự phân bổ nguồn lực quốc gia (vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên) chưa thực sự tuân theo nguyên tắc tối ưu hóa của kinh tế thị trường định hướng XHCN, dẫn đến tình trạng lãng phí và thất thoát cục bộ.
Đặc biệt, từ lăng kính của chuyên ngành Xây dựng Đảng và Công vụ công chức, một điểm nghẽn nghiêm trọng, mang tính cốt tử hiện nay chính là hạn chế trong năng lực thực thi và tâm lý làm việc của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tình trạng “né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai không dám làm” đã làm đình trệ nhiều khâu trong bộ máy hành chính nhà nước. Nhận diện sâu sắc rào cản này, Bộ Chính trị đã từng ban hành Kết luận số 14-KL/TW năm 2021 về “chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung” (Bộ Chính trị, 2021), và Chính phủ đã cụ thể hóa bằng Nghị định số 73/2023/NĐ-CP (Chính phủ, 2023). Kế thừa và nâng tầm những quyết tâm chính trị đó vào bối cảnh mới, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (tháng 7/2026) đã nhìn nhận thẳng thắn cụm vấn đề này và coi việc “tháo gỡ điểm nghẽn” không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên, mà là một mệnh lệnh cấp bách, mang tính đột phá và sống còn để bảo vệ chế độ. Minh chứng rõ nét nhất là Trung ương đã thông qua Nghị quyết số 17-NQ/TW, trong đó tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thể chế thông qua các định hướng sửa đổi Luật Đất đai và ban hành Nghị định số 300/2026/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức nhằm siết chặt kỷ cương, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khu vực công (Ban Chấp hành Trung ương, 2026; Chính phủ, 2026).
Ý nghĩa căn cốt và sâu xa của việc tháo gỡ điểm nghẽn, trước hết, là nhằm “giải phóng mọi nguồn lực”, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất của xã hội. Khi các nút thắt về cơ chế, chính sách được tháo bỏ bằng một tư duy pháp lý kiến tạo, các nguồn lực quốc gia sẽ được khơi thông, luân chuyển linh hoạt và tự động hội tụ tới những không gian phát triển có năng suất, hàm lượng tri thức và hiệu quả kinh tế cao nhất. Thứ hai, quá trình này đồng thời là quá trình thanh lọc và tái cấu trúc hệ thống chính trị. Việc tháo gỡ điểm nghẽn giúp tạo lập và nâng tầm năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, kết hợp với năng lực quản trị và hành động quyết liệt của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Khi bộ máy công quyền vận hành trơn tru, dứt điểm được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nó sẽ tạo ra những xung lực mới to lớn cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời gia tăng sức chống chịu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước các biến động địa chính trị và an ninh phi truyền thống của thời đại. Xét cho cùng, đây là tiền đề mang tính bắt buộc, là nền tảng vật chất và tinh thần để Đảng và Nhà nước ta kiến tạo nên một không gian phát triển mới, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới và tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên hội nhập toàn diện.
3. Làm rõ nội hàm bốn bước chuyển chiến lược
Để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường và tháo gỡ triệt để những điểm nghẽn mang tính cơ cấu, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (tháng 7/2026) đã thông qua các quyết sách chiến lược, định hình một hệ sinh thái quản trị quốc gia hiện đại. Quá trình chuyển đổi này không diễn ra đơn lẻ mà là một chỉnh thể biện chứng, được cấu thành từ 04 bước chuyển chiến lược cốt lõi, phản ánh sự trưởng thành về tư duy lý luận của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trong kỷ nguyên số.
3.1. Bước chuyển thứ nhất: Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành của Đảng và bộ máy Nhà nước
Dưới góc độ khoa học chính trị, đây là bước chuyển then chốt, đóng vai trò “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, mang tính quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Trong điều kiện Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất cầm quyền, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không thể chỉ dừng lại ở các nghị quyết chính trị trừu tượng, mà bắt buộc phải được “vật chất hóa”, hiện thực hóa thông qua hiệu lực, hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống thiết chế công quyền. Bước chuyển đổi này đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII; trong đó nhấn mạnh yêu cầu phân định thật rõ ranh giới, thẩm quyền, trách nhiệm giữa cấp ủy đảng và chính quyền các cấp, kiên quyết “khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng” (Ban Chấp hành Trung ương, 2022, tr. 4). Đặc biệt, bộ máy Nhà nước phải được tiếp tục tinh gọn, vận hành thông suốt dựa trên nguyên tắc pháp quyền XHCN. Kế thừa Nghị quyết số 18-NQ/TW khóa XII về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy (Ban Chấp hành Trung ương, 2017) và các quy định pháp luật hiện hành như Luật Tổ chức Chính phủ (Quốc hội, 2019), bộ máy hành chính năm 2026 phải chuyển hướng mạnh mẽ từ nền hành chính “quản lý, xin - cho” sang nền hành chính “phục vụ, kiến tạo”. Thước đo tối thượng, khách quan nhất để đánh giá năng lực hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức giờ đây chính là sự hài lòng của người dân, tính minh bạch của tổ chức và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.2. Bước chuyển thứ hai: Quản trị thống nhất không gian phát triển, phát huy hiệu quả nguồn lực quốc gia
Từ lăng kính kinh tế chính trị và địa lý học chính trị, không gian phát triển quốc gia – bao hàm không gian trên đất liền, không gian biển, không gian mạng, không gian ngầm và không gian vũ trụ – là tài sản vô giá, mang tính sống còn và có giới hạn của quốc gia. Bước chuyển thứ hai nhấn mạnh tư duy quản trị thống nhất, nhằm khắc phục triệt để căn bệnh “cục bộ địa phương”, tư duy “nhiệm kỳ” và tình trạng chia cắt không gian kinh tế đã từng làm suy yếu năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc quản trị này phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Quy hoạch và “Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050” (Quốc hội, 2023). Bước chuyển này đòi hỏi một tư duy quy hoạch mang tính tầm nhìn, khoa học và đồng bộ; bảo đảm phân bổ nguồn lực quốc gia (đất đai, ngân sách, nhân lực) một cách tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, kiên quyết chống đầu tư dàn trải. Các nguồn lực phải được ưu tiên dẫn dắt vào các đại dự án hạ tầng chiến lược, các vùng kinh tế động lực nhằm tạo ra “hiệu ứng lan tỏa” (spillover effect), lôi kéo sự bứt phá của các vùng phụ cận, từ đó định hình một cực tăng trưởng thống nhất cho cả nước.
3.3. Bước chuyển thứ ba: Xác lập mô hình phát triển dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ và con người
Thực tiễn chu kỳ kinh tế cho thấy, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thô, mở rộng tín dụng và lợi thế lao động giá rẻ của Việt Nam đã chạm đến ngưỡng tới hạn lý thuyết. Bước chuyển thứ ba đánh dấu một cuộc cách mạng sâu sắc sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Như Văn kiện Đại hội XIII đã khẳng định, cần phải “phát triển kinh tế số, xã hội số; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 113). Động lực cốt lõi mang tính dẫn dắt của nền kinh tế Việt Nam đến năm 2026 và định hướng 2030 tập trung vào việc nâng cao tổng năng suất các yếu tố (TFP), làm chủ tri thức khoa học và ứng dụng sâu rộng các công nghệ mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, công nghệ xanh và công nghệ sinh học (Bộ Chính trị, 2019). Trong mô hình kiến tạo này, nguồn nhân lực chất lượng cao và con người Việt Nam được đặt ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực nội sinh quyết định sự thành bại của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
3.4. Bước chuyển thứ tư: Chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước
Trong bối cảnh thế giới năm 2026 tiếp tục đối mặt với môi trường VUCA (biến động, không chắc chắn, phức tạp, mơ hồ) – đặc trưng bởi các cuộc đa khủng hoảng từ biến đổi khí hậu khắc nghiệt, đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị cường quốc đến sự trỗi dậy của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống trên không gian mạng. Do đó, triết lý phát triển của Đảng không chỉ chú trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà còn đặt lên hàng đầu tính bền vững và sự an toàn quốc gia. Bước chuyển này yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng không bị lệ thuộc. Quản trị quốc gia hiện đại đòi hỏi phải thiết lập các hệ thống cảnh báo rủi ro sớm (early warning systems), chủ động phòng ngừa rủi ro từ xa, từ sớm. Hơn thế nữa, cần nâng cao năng lực thích ứng và sức chống chịu (resilience) của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và xã hội trước các “cú sốc” từ bên ngoài. Song song với đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kiên quyết, kiên trì “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 156), giữ vững môi trường hòa bình, ổn định làm tiền đề bất biến để đất nước vững bước phát triển.
4. Đề xuất nhóm giải pháp cụ thể hóa các quyết sách vào thực tiễn quản trị quốc gia
Để 4 bước chuyển chiến lược theo tinh thần Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thực sự bước ra khỏi các văn kiện lý luận và đi vào đời sống thực tiễn, toàn hệ thống chính trị cần phải tiến hành đồng bộ, quyết liệt một hệ sinh thái các giải pháp quản trị. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đổi mới tư duy lập pháp, tái định hình văn hóa công vụ và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực.
Thứ nhất, khâu đột phá nền tảng là phải đổi mới mạnh mẽ tư duy thể chế từ trạng thái “quản lý, kiểm soát” sang “kiến tạo, phát triển”. Theo tinh thần định hướng của Đại hội XIV, thể chế pháp luật không chỉ là công cụ để duy trì trật tự, mà phải đóng vai trò là “bà đỡ” cho sự đổi mới sáng tạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Cần nhanh chóng thể chế hóa các Nghị quyết, Kết luận của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV thành các đạo luật, nghị định, chính sách có tính khả thi và độ trễ thực thi ngắn nhất. Việc này đòi hỏi Quốc hội và Chính phủ phải kiên quyết rà soát, cắt bỏ ngay các quy định pháp luật chồng chéo, các “giấy phép con” và những thủ tục hành chính mang tính hình thức đang gây kìm hãm sự luân chuyển của các nguồn lực. Đặc biệt, để hiện thực hóa bước chuyển về mô hình phát triển dựa trên công nghệ, cần khẩn trương thiết lập các khuôn khổ pháp lý linh hoạt, các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn.
Thứ hai, phải lấy việc nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và tái thiết kỷ cương trong công tác cán bộ làm điểm tựa thực thi. Thực tiễn khoa học tổ chức nhà nước chỉ ra rằng, mọi chính sách dù ưu việt đến đâu cũng sẽ bị vô hiệu hóa nếu thiếu vắng một đội ngũ công chức có đủ tầm và tâm. Do đó, cần gắn chặt tiến độ quán triệt, triển khai Nghị quyết với trách nhiệm giải trình trực tiếp của cấp ủy, tổ chức đảng và đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Trên nền tảng Quy định số 144-QĐ/TW về “chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” (Bộ Chính trị, 2024), hệ thống chính quyền cần chú trọng thực thi các cơ chế bảo vệ, khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo, “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung” theo đúng tinh thần Kết luận số 14-KL/TW (Bộ Chính trị, 2021) và Nghị định số 73/2023/NĐ-CP (Chính phủ, 2023). Đồng thời, căn cứ vào Nghị định số 300/2026/NĐ-CP về quản lý công chức mới được ban hành (Chính phủ, 2026), phải kiên quyết xử lý kỷ luật, điều chuyển, thay thế ngay những cán bộ có tâm lý “sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm”, bởi sự trì trệ của họ chính là rào cản lớn nhất ngăn chặn việc khơi thông các nguồn lực quốc gia.
Thứ ba, phải bảo đảm các điều kiện vật chất, nguồn lực thực thi quyết sách và siết chặt công tác kiểm tra, giám sát. Quá trình đưa Nghị quyết vào cuộc sống phải bám sát điều kiện đặc thù của từng địa phương, bộ ngành; phải định lượng và làm rõ việc áp dụng từng quyết sách sẽ giúp tháo gỡ cụ thể “điểm nghẽn” nào, tiết kiệm được bao nhiêu chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và tạo ra năng lực cạnh tranh mới nào. Việc triển khai cần xác định rõ lộ trình, sơ đồ hóa nguồn lực tài chính và nhân lực, phân công rạch ròi trách nhiệm cá nhân (cá thể hóa trách nhiệm). Cùng với đó, bám sát Quy định số 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát (Ban Chấp hành Trung ương, 2021), các cơ quan thanh tra nhà nước và ủy ban kiểm tra đảng các cấp cần thực hiện giám sát thường xuyên, lấy kết quả công việc, hiệu quả đo lường được làm thước đo đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức và cá nhân.
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tư tưởng, truyền thông chính sách nhằm kiến tạo sự đồng thuận xã hội sâu sắc. Căn cứ Hướng dẫn số 255-CV/BTGDV (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2026), các cơ quan báo chí, lực lượng báo cáo viên cần đổi mới phương pháp truyền thông chính trị trong kỷ nguyên số. Việc tuyên truyền không thể dừng ở cách truyền đạt một chiều, mà phải ứng dụng dữ liệu lớn, mạng xã hội để đối thoại, giải thích, giúp cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp Nhân dân nhận thức thấu đáo tính tất yếu khách quan và ý nghĩa sống còn của 04 bước chuyển chiến lược. Khi tư tưởng đã thông, nhận thức đã sáng, chúng ta sẽ phát huy tối đa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động được sự đồng thuận, nhất trí cao trong toàn xã hội để chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các chiến lược phát triển mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
5. Kết luận
Những quyết sách lịch sử được thông qua tại Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV là sự kết tinh cao độ của trí tuệ tập thể, phản ánh tư duy chiến lược sắc bén và năng lực dự báo, quản trị quốc gia vượt trội của Đảng ta trước những chuyển dịch mang tính cấu trúc của bối cảnh toàn cầu mới. Việc nhận thức đúng đắn ý nghĩa của sứ mệnh “tháo gỡ điểm nghẽn”, song hành cùng việc thực thi quyết liệt, có hiệu quả 04 bước chuyển chiến lược, không chỉ đơn thuần là một mệnh lệnh cấp bách của thực tiễn, mà chính là chiếc “chìa khóa vàng” để kiến tạo nên một không gian phát triển bứt phá. Khi các định hướng lý luận này được cụ thể hóa thành hệ thống pháp luật kiến tạo và hóa thân vào hành động thực thi đầy tinh thần trách nhiệm của toàn thể hệ thống chính trị, Việt Nam sẽ hội tụ đủ mọi xung lực nội sinh và ngoại sinh để vươn mình trỗi dậy. Đó là lộ trình tất yếu để chúng ta hiện thực hóa khát vọng thiêng liêng: xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường, dân chủ, văn minh và hạnh phúc, vững bước trên con đường XHCN (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021).
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương. (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương. (2021). Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28/07/2021 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương. (2022). Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương. (2026). Nghị quyết số 17-NQ/TW, ngày 24/07/2026 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Báo Điện tử Chính phủ. Truy xuất từ https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-3-khoa-xiv-11926072908294064.htm
Ban Chấp hành Trung ương. (2026b). Quy định số 207-QĐ/TW, ngày 26/07/2026 về những điều đảng viên không được làm. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương. (2026c). Quy định số 208-QĐ/TW, ngày 26/07/2026 về thi hành Điều lệ Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương. (2026d). Kết luận số 76-KL/TW Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Tuyên giáo Trung ương. (2026). Hướng dẫn số 255-CV/BTGDV ngày 31/07/2026 về định hướng công tác tuyên truyền tháng 8 năm 2026. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2018). Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2019). Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/09/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2021). Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/09/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bộ Chính trị. (2024). Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 09/05/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chính phủ. (2023). Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29/09/2023 quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Chính phủ. (2026). Nghị định số 300/2026/NĐ-CP, ngày 29/07/2026 sửa đổi, bổ sung một số nội dung về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội. (2025). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 19/6/2025.
Quốc hội. (2023). Nghị quyết số 81/2023/QH15, ngày 09/01/2023 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Bình luận