Chào mừng Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021: Tiếp tục thắp sáng ngọn đèn "soi đường cho quốc dân đi"

(Arttimes) - Sáng ngày 24/11/1946, trong khi trên nhiều đường phố chính của Hà Nội, các loại xe cơ giới, xe bọc thép cùng các loại sắc lính của thực dân Pháp trang bị nhiều loại vũ khí đi lại nghênh ngang, khiêu khích, chuẩn bị gây chiến để chiếm nước ta một lần nữa, tại Nhà hát Lớn (Hà Nội), hơn 200 văn nghệ sĩ - trí thức khắp Bắc - Trung - Nam đã tham dự Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất.

Hội nghị nhằm huy động mọi đề xuất, sáng kiến chấn hưng văn hóa dân tộc. Chương trình hội nghị dự kiến họp 3 ngày nhưng do tình hình chiến sự căng thẳng nên chỉ rút lại trong một ngày. Đang phải lo giải quyết trăm ngàn công việc, khi thù trong giặc ngoài ngổn ngang, nhà nước mới còn nhiều việc cần trực tiếp giải quyết... nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn tới dự và có bài phát biểu dài đến 40 phút. Người tha thiết mong muốn “nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”; hãy học tập cái hay của văn hóa Đông-Tây để tạo ra một “nền văn hóa thuần túy Việt Nam” để hợp với tinh thần dân chủ; phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là “văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”; văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có “tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung mà quên lợi ích riêng”. Chính tại diễn đàn này, Người đã khẳng định: “Số phận dân ta là ở trong tay dân ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Tôi mong chúng ta đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.

Chào mừng Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021: Tiếp tục thắp sáng ngọn đèn "soi đường cho quốc dân đi" - 1
Nhà hát Thành phố, nay là Nhà hát Lớn – nơi diễn ra Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (24.11.1946)

 

Như đã biết, năm 1946, nhằm ký một Hiệp định hòa bình với Pháp, Hồ Chủ tịch đã sang thăm Pháp từ 31/5 đến 20/10/1946. Khi Hồ Chủ tịch sang, nước Pháp chưa có Chính phủ mới để thương lượng. Trong thời gian đó, vốn là một Nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, lại là một nhà báo, Hồ Chủ tịch đã có nhiều hoạt động, giao tiếp với giới trí thức, văn hóa, báo chí của nước Pháp. Trong bài nói chuyện ở Hội nghị Văn hóa lần thứ nhất, Người có kể: Hội nghị Văn hóa toàn nước Pháp có ý định mời Người tới dự và phát biểu. Nhưng lúc đó, Chính phủ mới của Pháp chưa có, chưa đón Người với nghi thức Nguyên thủ Quốc gia nên người không thể xuất hiện. Rất có thể, đây là một gợi ý, để ngay khi trở về nước, dù tình hình chính trị phức tạp, Chính Hồ Chủ tịch là người đã có sáng kiến và Quyết định triệu tập Hội nghị Văn hóa Việt Nam lần thứ Nhất. Điều này, nhất quán với các nhận định về nhà văn hóa Hồ Chí Minh.

Thời gian tổ chức hội nghị chỉ một ngày nhưng nhiều ý kiến tâm huyết của các nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ đã biểu thị quyết tâm xây dựng một nền văn hóa mới. Chúng ta đều biết, ngay từ năm 1943, Tổ chức Văn hóa Cứu quốc đã ra đời, với bản Đề cương văn hóa lịch sử, nêu rõ những tính chất cơ bản của nền văn hóa mới: dân tộc - khoa học - đại chúng. Một số văn nghệ sĩ nổi tiếng đã có mặt, là nòng cốt cho mặt trận văn hóa mới. Non một tháng sau, toàn quốc kháng chiến, hầu hết văn nghệ sĩ tham gia hội nghị đã có mặt ở các vùng hậu cứ kháng chiến. Nhà thơ Thanh Tịnh từ Huế ra dự, những ngày đó tản cư lên vùng Chèm – Vẽ. Trên đường lên Việt Bắc, từ những buổi nói chuyện, tuyên truyền, thông tin về chiến sự, kể những mẩu chuyện kháng chiến cho dễ nghe, ông đã sáng tạo ra thể loại văn vần, gọi là Độc tấu. Nhà thơ tham gia kháng chiến rồi nhập ngũ trong đội hình Đoàn kịch Chiến thắng. Ba mươi năm “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân”, để lại vợ và hai con thơ ở Huế. Ngày trở về, gia đình tan tác. Một số văn nghệ sĩ Nam Bộ như Lưu Hữu Phước, Diệp Minh Châu... cũng không kịp trở về nên ở lại và theo các cơ quan lên Việt Bắc. Sau những ngày tùy nghi di tản, các địa bàn bắt đầu tập họp để hoạt động, hình thành nên các trung tâm như Khu III, Khu IV, Nam Trung Bộ, Nam Bộ, Khu X, các cơ quan Dân chính, đơn vị quân đội dần được tổ chức; khá nhiều báo, tạp chí được ra đời. Phần thơ văn luôn được chú ý, bên cạnh tin tức chiến sự và tăng gia sản xuất.

Non một năm sau “Đêm ra đi đất trời bốc lửa/ Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng (Chính Hữu), ngày 03/10/1947, một số văn nghệ sĩ ở Đại Từ - Thái Nguyên đã họp bàn về việc thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam và đã bầu ra Ban Chấp hành lâm thời để xúc tiến các công việc cụ thể. Ban Chấp hành lâm thời gồm: Nhà phê bình Hoài Thanh (Tổng thư ký), nhà thơ Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu  (văn học), Tô Ngọc Vân (mĩ thuật ), Lưu Hữu Phước (âm nhạc )

Ngày 6/4/1948, Ban Chấp hành lâm thời triệu tập hội nghị lần thứ 2 để: (1) Thông qua Điều lệ của Hội; (2) Bầu thêm người vào Ban Chấp hành - Thế Lữ  (kịch); (3) Tổ chức các ban: văn học, mĩ thuật, Âm nâạc, kịch. Để giúp các ngành hoạt động và giúp đào tạo các tài năng mới, hội nghị ra quyết định đề nghị Bộ Giáo dục mở lại Trường Cao đẳng Mĩ thuật, Trung ương nhạc viện và mở thêm một Kịch viện, gọi chung là Nghệ thuật học viện. (4) Bầu thêm người vào Tạp chí Văn nghệ. Từ tháng 3/948, Tạp chí Văn nghệ - cơ quan ngôn luận Hội Văn nghệ Việt Nam ra số 1.

Đầu năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn phòng ngự, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cuộc Thi đua Ái quốc. Các đoàn thể quần chúng lần lượt tiến hành các hội nghị, củng cố tổ chức, phát động thi đua sản xuất và giết giặc. Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức tại xã Đào Giã, huyện Thanh Ba, Phú Thọ trong 5 ngày, từ 16-20/7/1948, với hơn 200 đại biểu trí thức toàn quốc. Hội nghị được nhận thư của Hồ Chủ tịch. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, trình bày bản báo cáo lịch sử Chủ nghĩa Marx và văn hóa Việt Nam. Đây là văn kiện hoàn chỉnh đầu tiên về đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, cụ thể hóa và phát triển những luận điểm cơ bản của bản Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943. Đại hội đã chính thức thành lập Hội Văn hóa Việt Nam. Hội nghị nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự. Ban chấp hành gồm: Đặng Thai Mai (Hội trưởng). Đại biểu Khoa học tự nhiên: Trần Đại Nghĩa, Phạm Đình Ái, Đặng Phúc Thông, Tôn Thất Tùng. Đại biểu Khoa học xã hội: Nguyễn Khánh Toàn, Trần Công Tường, Trần Văn Giáp. Đại biểu Giáo dục: Ngụy Như Kontum, Nguyễn Công Mỹ, Phạm Thiều - bà Thục Viên. Đại biểu Văn học: Hoài Thanh, Trần Huy Liệu, Đoàn Phú Tứ, Hoàng Xuân Nhị, Đỗ Đức Dục. Đại biểu các ngành nghệ thuật: Thế Lữ (kịch), Tô Ngọc Vân (mĩ thuật), Văn Cao, Nguyễn Xuân Khoát (nhạc), Nguyễn Cao Luyện (kiến trúc)... Ban Thường vụ Trung ương Hội gồm: Đặng Thai Mai (Hội trưởng), Hoài Thanh (Tổng thư ký); các Ủy viên: Ngụy Như Kontum, Tô Ngọc Vân, Trần Huy Liệu, Đoàn Phú Tứ, Trần Văn Giáp.

Tiếp đó, cũng gần địa điểm này, hơn 80 văn nghệ sĩ đã dự Hội nghị Văn nghệ toàn quốc lần đầu tiên (từ 23-25/7/1948), có ý nghĩa như một Đại hội thành lập chính thức Hội Văn nghệ Việt Nam, ngày 25/7/1948. Bài tường thuật của nhà thơ Xuân Diệu in trong Tạp chí Văn nghệ  số 4 ra tháng 8.1948, cho ta biết tên tuổi những văn nghệ sĩ có mặt:

“Thật là một cái vườn bách… nghệ, trong đó, mỗi người một vẻ, thiếu tiền thì thiếu, chứ cá tính thì thật đầy tràn. Này là Đoàn Văn nghệ kháng chiến Khu IV. Lão thành có cụ Võ Liêm Sơn, năm nay ngoài 60 tuổi, từ Hà Tĩnh ra đây. Và ông Đặng Thai Mai, người anh cả, mắt sáng sâu, một cây trào phúng. Bạn Nguyễn Tuân, cái đầu to tát, anh Nguyễn Văn Tỵ, lành và khỏe; các anh Chu Ngọc, Phạm Văn Đôn, Đoàn Phú Tứ với ba tý râu mép; thi sĩ Xuân Sanh, cây phóng sự Nguyễn Đình Lạp... Anh Hải Triều nói giọng Núi Ngự.

Liên khu III có Lê Đại Thanh, Hoàng Công Khanh, Tô Vũ, Học Phi, Sao Mai, Trần Lê Văn…

Cụ Ngô Tất Tố ở Khu I vẫn bước đi với thanh niên. Anh Nguyên Hồng, người đã cày cấy lấy hai mẫu ruộng. Khu X có Tô Ngọc Vân, Tạ Mỹ Duật, Thế Lữ, Đồ Phồn, Thanh Tịnh, Võ Đức Diên. Ngành nhạc có Nguyễn Xuân Khoát, (Con voi hay thằng Bờm), Phạm Duy, Văn Chung, Bùi Công Kỳ, Đỗ Nhuận như bẻ cong được những song sắt, “Cô lái đò” Nguyễn Đình Phúc, Văn Cao không cao chút nào. Ngành họa còn cái khỏe khoắn, nhẹ nhàng của Trần Văn Cẩn, cái gầy của Trần Đình Thọ, cái giòn bánh mật của Lê Phả, cái hăng hái Miền Nam của Nguyễn Văn Sáng, cái tự nhiên của Nguyễn Tư Nghiêm, anh Phan Kế An nhanh nhẹn, anh Dương Bích Liên ít nói, anh Mai Văn Hiến cái mũi biết cười…

Kể sao cho hết những tài năng mới: Bửu Tiến, Trần Đăng, bạn Ngô Quang Châu - bồ chữ của dân tộc, nữ thi sĩ Anh Thơ, tác giả Bắc Sơn, các bà: Phan Thanh, Phương Hoa, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Hoài Thanh, Như Phong, các nhà báo Xuân Thủy, Hải Như. Kể sao xiết.

Anh em rất tiếc còn vắng mặt Nguyễn Hữu Đang, Lương Xuân Nhị, Kim Lân, Tô Hoài, Nam Cao, Tạ Phước. Nữ thi sĩ Vân Đài có gửi thơ. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương cũng gửi lời chào.

   … Cuộc giới thiệu kia, bạn Nguyễn Huy Tưởng đã làm một cách giản dị, thân mật. Diễn văn khai mạc của Hoài Thanh. Chủ tịch đoàn: Hoài Thanh, Tố Hữu, Tô Ngọc Vân, Thư ký đoàn: Lê Đại Thanh, Trần Lê Văn, Xuân Diệu.

    …Các khu lần lượt trình bày tình trạng. Đoàn Văn nghệ kháng chiến Khu IV đã tổ chức chặt chẽ và hoạt động có kế hoạch. Khu III hoạt động riêng từng tỉnh, từng huyện nhưng toàn Khu chưa được duy nhất. Khu I chưa có tổ chức. Khu X có một Đoàn Văn hóa kháng chiến ở Phú Thọ. Vì có nhiều tổ chức như thế nên càng tỏ rõ sự thiếu tổ chức, thiếu một đoàn thể lớn, thống nhất được lực lượng lẻ tẻ của địa phương và của cá nhân để làm việc có phương tiện, có kế hoạch và có hiệu quả hơn.”

Chúng tôi trân trọng trích dẫn bài tường thuật về Đại hội Văn nghệ và Danh sách Ban Chấp hành Hội Văn hóa Hội Văn nghệ để bạn đọc biết đến, nhớ đến những văn nghệ sĩ có công đầu tham gia sáng lập những tổ chức văn học, nghệ thuật mà hôm nay chúng ta được may mắn kế tục. Đại hội đã thống nhất bầu Ủy ban Chấp hành Hội Văn nghệ gồm: Thường vụ: Nguyễn Tuân (Tổng thư ký), Tô Hoài (Phó Tổng thư ký); các ủy viên: Võ Đức Diên (kinh tế), Ngô Quang Châu (quản trị), Xuân Diệu (tổ chức và kiểm tra). Đại biểu các ngành: Trần Văn Cẩn (mĩ thuật), Thế Lữ (sân khấu), Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước (âm nhạc). Đại biểu các khu: Ngô Tất Tố (Khu I), Lê Hữu Kiều (Sơn Tùng - Khu III), Trương Tửu, Lưu Trọng Lư (Khu IV), Tạ Mỹ Duật (Khu X), . Nguyễn Đỗ Cung (Nam phần Trung Bộ), Hoàng Xuân Nhị, Huỳnh Văn Gấm (Nam Bộ).

Hội nghị Văn nghệ toàn quốc đã thành lập một số đoàn chuyên ngành.

Cũng trong bài tường thuật trên, nhà thơ Xuân Diệu nhận xét: “Ban Chấp hành Hội Văn nghệ: 17 người đã bầu xong trong một không khí hòa vui chưa từng thấy. Có những bạn vắng mặt được toàn thể nhắc nhở và cử vào Chấp hành: Thi sĩ Lưu Trọng Lư ở chiến khu Thừa Thiên, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung ở Nam Trung Bộ, Họa sĩ Huỳnh Văn Gấm, Khu phó ở một khu quân sự miền Nam nước Việt và nhà văn Hoàng Xuân Nhị, Chủ tịch Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ.

Hội nghị thanh thản bầu anh Nguyễn Tuân làm Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam. Nguyễn cảm ơn: Tôi quả quyết nhận lấy bổn phận mà Hội nghị giao cho vì tôi muốn tập cho tôi nhận lấy những trách nhiệm. Câu nói đánh dấu cho cuộc chuyển sang “giai đoạn thứ hai” được toàn thể hoan hô”.

Hội nghị nằm trong phong trào Thi đua Ái quốc nên có một nội dung quan trọng là phát động cuộc thi dưới khẩu hiệu: “Văn, Họa, Nhạc, Kịch thi đua sáng tác”. Có các bản giao kèo được ký giữa các tập thể và các cá nhân. Giáo sư Đặng Thai Mai (Hội trưởng Hội Văn hóa Việt Nam), Đoàn Văn nghệ Khu IV, Đoàn Sân khấu Việt Nam, Đoàn Kiến trúc Việt Nam vừa được thành lập trong đại hội đã treo các giải thưởng có giá trị bằng tiền. Độc đáo nhất là nhà văn Nguyên Hồng, từ ngày kháng chiến đưa gia đình về ấp Cầu Đen (còn có tên là Ấp Đồi Cháy) cày ruộng, chăn nuôi, treo thưởng hai gánh thóc và hai con gà cho một bài thơ hay, một truyện ngắn có giá trị. Nhà văn Nguyễn Công Hoan yêu cầu đích thân Nguyên Hồng gánh thóc tới cho người được giải. Một ai đó  yêu cầu tặng gạo thì tiện hơn!

Cũng trong đại hội, nhiều nhóm nghệ sĩ đã ký kết thi đua với những con số tác phẩm trong thời gian cụ thể.

Sở dĩ, sau đại hội, vấn đề sáng tác được coi trọng là vì có một thực tế, sau cả ngàn ngày kháng chiến, hầu hết văn nghệ sĩ tham gia mọi công việc, có lòng yêu nước, căm thù bọn xâm lược nhưng vẫn chưa tìm ra tiếng nói nghệ thuật mới mà cuộc sống yêu cầu. Quá trình Nhận đường (tên một bài viết của Nguyễn Đình Thi) gần như đi suốt cuộc kháng chiến 9 năm. Nhà văn hiện thực tiêu biểu nhất của thế kỷ XX, từng có nhiều tác phẩm về những người dân nghèo trong xã hội cũ là Nam Cao (1917-1951), trong mấy kỳ Nhật ký ở rừng (Văn nghệ số 6, tháng 10-11 và số 7 tháng 12/1948), đã thể hiện rất rõ nỗi dằn vặt của một nhà văn từng nổi tiếng trong chế độ cũ mà vẫn thấy bất lực trong sáng tác, dù sống gần, sống và làm những việc cuộc kháng chiến yêu cầu một cách tích cực.

Trong Hội nghị Tuyên truyền toàn quốc lần thứ 3, tổ chức vào các ngày 19 đến 22/6/1948, nhà văn Nguyễn Đình Lạp, Trưởng ban Văn nghệ Quân đội Liên khu IV trong báo cáo, sau khi tổng kết văn thơ của bộ đội, đã nói: Thực ra mà nói, các văn nghệ sĩ tự nguyện nhập ngũ là có ý đi tìm lối thoát cho chính bản thân họ, tâm hồn họ. Họ đi tìm một nhân loại linh động nhất, hi sinh nhất, tích cực tranh đấu nhất để mong rũ bỏ cái bế tắc, ngột ngạt của sự sáng tác trong bấy lâu nay. Quả là một bầu trời mới. Họ đã bắt đầu nhận thấy những tia nắng hồng, những ngọn gió mát. Lồng ngực họ đã thở đều đặn, Họ đã sống lại. Và nhiều tác phẩm nho nhỏ đã thấy xuất hiện với những tình cảm đằm thắm.

Nam Cao, Nguyễn Đình Lạp, Thâm Tâm, cùng Trần Đăng, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Thúc Tề, Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Nguyễn Đình Thư, Tô Ngọc Vân, Ngô Tất Tố… đều đã không kịp nhìn thấy ngày thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Những tâm sự, nhận định về sáng tác văn học, nghệ thuật giai đoạn này của chính người trong cuộc cho chúng ta thấy ngay cả trong những thời điểm đất nước khó khăn nhất, Đảng ta đã động viên, tập họp các cá nhân nghệ sĩ hành nghề riêng lẻ, tự do vào những đoàn thể, tổ chức nghề nghiệp, có mục tiêu, lý tưởng xã hội cụ thể, động viên, tạo động lực để họ có nhiều sáng tác nhằm xây dựng một nền văn nghệ mới. Sự “chuyển mình” từ trong từng suy nghĩ của văn nghệ sĩ cho thấy tầm nhìn mang tính chiến lược của Đảng về tổ chức, lý luận và phương pháp... đối với hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật.

Để làm rõ hơn vai trò của văn hóa, văn nghệ và văn nghệ sĩ trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, trong thư gửi các họa sĩ nhân triển lãm mĩ thuật năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa - nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công-nông-binh. Văn học, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.

Có một cứ liệu lịch sử bằng văn bản đặc biệt là ngay từ năm 1949, mở đầu bản Báo cáo về văn thơ bộ đội, Thâm Tâm, tác giả của Tống biệt hành, đã phát hiện: “Hồ Chủ tịch không rảnh việc nước nhưng khi nghe giao thông chạy ngựa đưa tới tin thắng trận liên tiếp, nghe tin du kích đi giết giặc đã quay về với tiếng tù và dưới núi, vị Cha già của chúng ta cũng rung cảm thành thơ. Mà cả những bức thư từ hơn ba năm nay Người gởi cho mọi từng lớp dân chúng thời thường cũng là thơ, những đoạn văn có vần. Chúng ta đọc một lần, không bao giờ quên được.

Hồ Chủ tịch là Người lính số Một của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người lính số Một, trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ. Vì hay thơ là một trong những dân tộc tính của chúng ta. Tiếp tục truyền thống văn nghệ ấy, những người lính con cháu đứng dậy cầm súng giết giặc giữ nước ngay từ phút đầu cũng đã rập với tiếng đạn nổ ngân lên những vần thơ - mầm mống của văn nghệ bộ đội mà hôm nay chúng tôi có dịp trình bày trước hội nghị”.

May mắn cho chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là Người Anh hùng Giải phóng dân tộc, mà còn là một Danh nhân Văn hóa được quốc tế tôn vinh, Người đã luôn nêu cao ngọn cờ “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” bằng chính cuộc đời của Người.

Nhìn lại chặng đường 75 năm văn hóa, văn nghệ tham gia vào cuộc cách mạng và kháng chiến của dân tộc, lớp hậu sinh trân trọng và tự hào về những sáng tác văn học, nghệ thuật mỗi thời kỳ, mà ngày nay vẫn hiện diện trong những giai điệu tự hào thuộc mọi loại hình nghệ thuật. Trên những nẻo đường kháng chiến, tại nhiều chiến trường, hàng trăm văn nghệ sĩ đã hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, đang thời kỳ sáng tác sung sức. Tên tuổi, tác phẩm và cuộc đời của các văn nghệ sĩ tài năng tham gia sáng lập những tổ chức văn nghệ Cách mạng và kháng chiến mãi mãi nằm trong lòng kính yêu, trân trọng của nhân dân; có ý nghĩa nhắc nhở các thế hệ văn nghệ sĩ trẻ về trách nhiệm với công cuộc xây dựng đất nước hôm nay.

Ngô Thảo

Tin liên quan

Tin mới nhất