Cảm nhận về thơ Đặng Quốc Việt

Nhà thơ Đặng Quốc Việt tuổi Đinh Hợi, là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Tôi quen biết anh năm 2018, ngày cùng nhau học lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du khóa 12. Hai anh em sêm sêm tuổi nhau, cùng lớn lên gần hai bờ sông Ninh quê hương. Anh sống chất phác, hiền lành, dễ hòa đồng nên được nhiều bạn bè quý trọng. Anh phát lộ năng khiếu thơ khá sớm.

Ngày “lọt cửa” trường Đại học Bách khoa, anh đã đăng ký cuộc thi thơ của nhà trường, ông hoàng thơ tình Việt Nam Xuân Diệu khi ấy đã chấm bài thơ “Tấm lòng sinh viên” của anh giải nhất (bài được đăng trên Báo Văn nghệ - 1968). Hàng tháng, anh rong ruổi con đường thơ, trên những chuyến xe buýt gần xa, đến giao lưu nhiều CLB thơ trong và ngoài thành phố. Tới đâu, tình thơ của anh đều để lại dấu ấn, được bạn thơ ghi nhận. Quãng đời thơ đến nay anh đã in được 7 tập (6 tập thơ và 1 tập tiểu luận).

Đặng Quốc Việt vốn xuất thân là kỹ sư Bách khoa (ngành khoa học tự nhiên) với bản tính không thích giãi bày dài dòng nên thơ anh khúc triết, kiệm lời song chiều sâu từng con chữ vô cùng dài rộng. Thơ anh, phải đọc đi đọc lại mới vỡ ra… mới hiểu anh đang chuyển tải đến công chúng nghĩ suy gì.

Tôi may mắn làm biên tập thơ văn, quyển 10 -11 -12 “Tiếng Vọng Thành Nam” nên được biên tập những tác phẩm của anh gửi in, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần để cảm thụ. Gần đây anh gửi cho tôi 2 tác phẩm mới: “Cãi Trời” (Thơ - NAM KAU) gồm 89 bài, “Chân trời tối sáng” (tập thơ - 50 bài). Tôi xin nói về nghệ thuật thơ của Đặng Quốc Việt.

Cảm nhận về thơ Đặng Quốc Việt - 1

Nhà thơ Đặng Quốc Việt

Tình yêu quê hương trong thơ Đặng Quốc Việt

Mọi nhà thơ, ai cũng có miền thơ viết về quê hương, mạch nguồn cảm xúc gần gũi thương yêu nhất. Bằng cách tả thực, Đặng Quốc Việt đã viết về quê hương như sau:

“Đê. Chiều. Ma võng rễ Đa

Gánh gồng vài chị, rề rà dăm trâu

Mương in bóng lật cây cầu”…

 (Cãi Trời - trang 68)

Câu thơ hay quá! Ví von, hình ảnh thật sinh động. Quê hương Việt Nam ở đâu cũng có cây đa cổ thụ trồng ở đầu làng. Người dân đi xa về gần, cách khoảng 2 cây số đã nhìn thấy dáng hình làng quê mình. Cây đa đóng đinh địa giới, người thợ cày giữa mùa nắng lửa nép dưới gốc đa nghỉ ngơi, lũ trẻ con mọi thời đều bám rễ cây đánh đu, trai gái trong làng đêm trăng hò hẹn, cây đa là hồn cốt của làng. Nhà thơ đã viết về cây đa làng mình:

… “Võng đu râu cụ đa xanh dai bền

Người đi săn vận đỏ đen

Gù lưng… đa giữ đất phèn mặn chua”

 (Chân trời tối sáng, trang 34)

Đặng Quốc Việt còn cho ta được thưởng thức âm thanh quê hương qua tiếng chuông. Anh rành rọt kể đâu là tiếng chuông nhất, chuông nhì của 2 giáo phận Phú Nhai, Bùi Chu cùng tiếng chuông nhà thờ đổ hồi làm sóng sánh dòng sông Ninh, khuấy động làng quê yên tĩnh. Thuở chúng ta còn ở quê hương, nghe chuông mà tính giờ đi học, đi làm. Cảm xúc tiếng chuông trong thơ anh…

“Thao thức

Chập chờn… mộng mị

Rộn hồi chuông

Giáo phận Phú Nhai”

(Chân trời tối sáng, trang 9)

Hay!

“Nghĩ ngợi miên man vừa chợt thiếp

Bùi Chu chuông nhất giọng rầu rầu”…

(Chân trời tối sáng, trang 58)

Thực ra, chuông nhà thờ luôn rộn rã. Song thời cắp sách, thế hệ chúng ta, làng quê, gia đình nghèo đói nên tiếng chuông cũng bị buồn theo. Miền quê ta, ngàn năm nay vẫn thong thả tiếng chuông chùa, điểm hai lần sáng, tối. 108 tiếng buồn thả vào lòng nhân thế, ngấm sâu vào hồn cốt quê hương để người Việt giữ mãi được tên làng, tên xã đến tận ngày nay. Quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn, dẫu đi xa vạn dặm nhớ tìm về. Quê hương ngày nay đã hết đói nghèo, làng quê rất gần với phố thị, cảnh cũ mất dần, chạnh lòng người đi xa.

Tiếng lòng, Đặng Quốc Việt da diết. Song phải yêu thương quê nhiều lắm mới viết được tứ thơ hay.

“Quê nhà nay vãn bóng tre

Diều ngân méo tiếng

Nắng nhòe bến sông”

Xin thưa: Đề tài viết về quê hương của anh còn nhiều câu thơ thú vị lắm. Tôi chỉ nhặt ra một vài ví dụ để cảm nhận.

Tình yêu lứa đôi trong thơ Đặng Quốc Việt

“Cấp Một chung bàn, chúa lườm nguýt

Nhát gan, ta không dám che bài

Thua - tay em cố khuỳnh choán chỗ

Tảng lờ đuôi tóc hất sang vai”

(Chân trời tối sáng, trang25).

Một sự nhường nhịn thú vị. Nhà thơ vốn hiền lành, đôi lần anh bảo: Ngày xưa, anh khờ khạo nhát gái.

“Đâu rồi bàn ghế thân thương

Đèn dầu học nhóm, chân vương dưới gầm

Anh giả điếc, em giả câm

Tay quờ bóng tối. Dõi ngầm ma trơi”

(Cãi Trời, trang 67)

Thật tinh nghịch, bố mẹ cô bạn gái mà biết… chắc chẳng dám cho con đi học nhóm.

Thời cấp Ba “guốc mộc” mấy xã mới có một trường, phải ở trọ cùng nhau, rồi đến thời sinh viên ở ký túc xá… Thuở ấy, sinh viên chưa dám sống chung, sống thử như bây giờ. Tình yêu trai gái thời nào cũng có nhưng đa số không thành vợ thành chồng bởi hầu hết bạn trai ra trường chưa có sự nghiệp nên các em phải tìm nơi có điểm tựa.

“Nhớ hôm xưa vai áo rách

Ngượng ngùng xin mẹ vá cho anh

Trễ giờ đi học, đường kim lệch

Phấp phỏm anh mơ áo đã lành”

(Chân trời tối sáng, trích Tim Vỡ trang 16)

Một mối tình thật đẹp. Nhưng trong thời chiến chẳng nói trước được điều gì. Anh vào giảng đường đại học, em đi miền khói lửa, sau đó hy sinh trên trận tuyến đánh quân thù. Nhà thơ đau buồn trái tim như bị vỡ ra.

Năm tháng đi qua, cuộc sống sôi nổi thời sinh viên giúp anh trưởng thành, lời thơ đằm hơn, sâu sắc hơn.

Hiếu nghĩa - tình người

Phải đợi tới độ tuổi nhất định người ta mới có thời gian chiêm nghiệm. Đầu những năm 2000, Đặng Quốc Việt sang Tây Đức công tác. Xa quê hương, gia đình, bạn bè cùng cơ quan, nên đã khắc sâu nỗi nhớ. Tha hương, quăng quật nơi xứ người, lăn lộn kiếm sống anh mới ngộ ra… “Trong tiền có xương”. Ngày tháng buồn xa Tổ quốc, anh đã cho ra lò, một series tác phẩm như: “Tha hương”, “Nhớ U - Vơ”, “Bức tường Berlin”, “Cầu iình”, “Thiêng liêng”, “Khóc muộn”, “Cãi Mẹ”, “Gối đầu tay Mẹ”…

Một ngày buồn trên đất khách, nhận tin sét đánh cha mẹ không còn. Đau thương quằn quại đưa anh về quá khứ. Anh tìm lại tình mẹ, nghĩa cha ngày xưa:

“Mẹ với mo cau đêm hè dành mát cho tôi

Mắt Mẹ quầng thâm mo cau héo một đời”

(Cãi Trời, trang7 tập)

Tôi cùng nhà thơ chung một nỗi đau. 56 tuổi mẹ qua đời. Tôi mất mẹ năm 1971 khi đang ở chiến trường miền Nam. Anh Việt mất mẹ những năm 2000 sống ở nước ngoài. Kiếm được đồng tiền xứ trời Tây bỗng thương cha mẹ vô cùng:

“Nhà nông tiền bói không ra

Mẹ nhịn ăn, cha ngầm cõng nợ”…

Nhà thơ tự dằn vặt mình:

“Tưởng lớn khôn đỡ đần đôi nhẽ

Chỉ quàng thêm cho cha bẽ mẹ rầu

Mong gắng học, mở mày mở mặt

Nợ cơm áo lút cổ ngập đầu

Vận hạn đến gặp cơn “bĩ cực”

Xếp mảnh bằng, con lang thang bán sức trời Âu!”

Xa cách biển trời, dù có gào thét đau thương, vòm cao vẫn lặng thinh:

“Hai nấm đất quê nhà biền biệt

Đốt lòng con nắng lửa

Héo lòng con mưa buồn”

Mất cha mẹ rồi mới hiểu công lao trời bể. Anh đã sám hối, khi có lần dám cãi mẹ…

“Ôi tội lỗi tuổi thơ cạn nghĩ

Ngộc nghệch rồi không bẻ nổi sừng trâu”

Nhớ về thuở ngày xưa được gối đầu tay mẹ.

“Quặn lòng, vẳng tiếng Mẹ ho

Cơn đau hành Mẹ, đến giờ con mang

Mẹ coi con tựa cục vàng

Đến ơn nắm đất tuyềnh toàng mé mương”.

Đặng Quốc Việt kiệm viết lời viết về cha. Một chi tiết thơ cho ta hiểu: Bố anh là người dạy con nghiêm khắc: “Roi tre cha giắt mái gianh nảy chồi mọc rễ” (Cãi Trời, trang 8). Chiếc roi không rút ra nên đâm chồi mọc rễ nhưng con cái nhìn lên mái gianh để mà tu dưỡng.

Nhà thơ còn viết rất rộng, chan chứa tình cảm yêu thương với người xung quanh như cụ tôi, cô tôi, anh tôi, thầy cô, bạn bè các cấp học. Tôi xin ghi lại tình cảm của nhà thơ viết cho vợ yêu của mình:

“Mấy mươi năm bể đông lúc cạn lúc đầy

Muối mặn gừng cay, nay mật ngọt

Vượt suối sông, biển cả cũng đến bể bơi

Chẳng mơ ước chồng vua vợ hậu

Thỏa lòng, các con đã “lên ngôi”

Tuổi xế chiều thật viên mãn. “Thuận vợ, thuận chồng, bể đông tát cạn”. Con cháu thành đạt trưởng thành là do giáo dục, truyền thống gia đình.

… “Dựng nhà cho cháu, cây roi xưa làm trụ

Giấy khen hong khô, cuộn lại làm roi”.

Xin chúc mừng thành quả của nhà thơ, gừng càng già càng cay.

Vũ Viết Ngà

Tin liên quan

Tin mới nhất

Ra mắt bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân”

Ra mắt bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân”

Chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp Tổng công ty Bưu điện Việt Nam phát hành đặc biệt bộ tem “Tết Bính Ngọ” và đồng xu sưu tầm “Nhật Mã Phi Vân”. Đây là hai sản phẩm văn hóa giàu giá trị thẩm mỹ, mang dấu ấn mỹ thuật dân gian đương đại, gửi gắm thông điệp “Mã đáo thành công” và tinh thần “Vạn dặm quang minh”, hướng tới năm mới an khang, hanh

Diễn ngôn về văn hóa Việt Nam và những đối thoại xuyên thời từ một tiểu thuyết du ký

Diễn ngôn về văn hóa Việt Nam và những đối thoại xuyên thời từ một tiểu thuyết du ký

Cuốn sách “Hồ Xuân Hương và Tôi” (Nxb Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đông Di được xếp - có lẽ do chính tác giả xếp - vào thể loại tản văn. Nhưng khi đọc xong và nghĩ sâu về tác phẩm này, tôi vẫn cứ muốn xem nó là một tiểu thuyết, chính xác là một tiểu thuyết du ký. Bởi qua vài trăm trang văn bản, tôi nhận ra, dưới hình thức kể lại những điều mắt thấy tai nghe, những cuộc gặp g