Chân trời sáng tạo và trách nhiệm văn nghệ sĩ
Kế thừa, phát triển, nâng cao các luận điểm quan trọng về văn hoá từ các Nghị quyết trước, Nghị quyết 80 nhấn mạnh, đề cao vai trò của văn hóa, là “trụ cột”, là “hệ điều tiết” cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Thực ra quan niệm này là sự học tập, tiếp thu Tư tưởng Hồ Chí Minh đều coi trọng các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa “ngang nhau”, có quan hệ tương hỗ, chi phối nhau. Trong bối cảnh mới của thế giới hội nhập, của thế và lực trong nước, Đảng ta nhấn mạnh, coi “văn hoá là nền tảng”, “văn hoá là trụ cột” của sự phát triển. Ngoài khẳng định tầm nhìn chiến lược, đây còn là sự đột phá về nhận thức lý luận, phù hợp với xu hướng chung của quốc tế coi “công nghiệp văn hoá” là một “bệ đỡ” của kinh tế.
Trước đó, Đảng ta đã coi văn hóa là “nền tảng tinh thần”, đến Nghị quyết 80, nhấn mạnh, mở rộng, là “nền tảng vững chắc”, với các luận điểm mới: “Văn hóa, con người là nền tảng”, “Phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc”. Tức “vững chắc” cả về tinh thần và vật chất.
Chân trời sáng tạo - Nghị quyết 80
Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8) xác định phương thức phát triển văn hóa là “làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người”. Nghị quyết 80 kế thừa và nâng cao, văn hoá không chỉ “thấm sâu” từ “chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm, sức mạnh nội sinh của quốc gia trong kỷ nguyên mới”; còn “thấm sâu” vào “mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao, đảm bảo đồng bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”. Đây là một tầm nhìn mới, phổ quát, rộng rãi, nhất là hoà vào nhịp đi của thời đại mới, chưa bao giờ có, là công nghệ số.

Khối ngành Văn hóa, thể thao tham gia diễu hành ngày 2/9/2025. Ảnh: VGP
Trên những cơ sở quan điểm mới, Đảng khẳng định xây dựng “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội. Đây là luận điểm bao trùm rất quan trọng, không chỉ nhấn mạnh, đề cao vai trò, còn là mục tiêu hướng tới của cả hệ thống chính trị. Đúng như Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: văn hoá còn dân tộc còn. Nhìn từ bản chất của văn hoá, đó là nguyên lý tồn tại, là nguyên lý phát triển; là chân lý lịch sử; là đạo lý truyền thống; cũng là định lý cuộc sống.
Nghị quyết 80 xác định có ba thành tố quan trọng để phát triển văn hóa là phát triển hạ tầng; huy động, sử dụng các nguồn lực; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa. Ở mức độ cụ thể, Nghị quyết yêu cầu xử lý hài hòa, biện chứng các “quan hệ nội tại”. Chú ý tới quan hệ đặc thù: truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển.
Như vậy, với những luận điểm mới, ngoài nhấn mạnh vai trò, vị trí, chức năng của văn hoá, quan trọng hơn, Nghị quyết đã mở ra cả một chân trời sáng tạo mới cho văn nghệ sĩ.
Sáng tạo ra những tác phẩm hay – sứ mệnh người nghệ sĩ cách mạng
Hẳn nhiên, đã là văn nghệ sĩ, ai cũng khao khát sáng tạo ra “tác phẩm hay” (thường gọi là “tác phẩm đỉnh cao”). Vấn đề là ở giải pháp, phương hướng, cách thức. Dăm năm trở lại đây, sự ra đời của AI làm thay đổi sâu sắc quan niệm về sáng tạo nghệ thuật, thực chất là đòi hỏi một cách khắt khe, nghiêm túc hơn, mới có thể “cạnh tranh” với trí tuệ nhân tạo. Để “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa”, phải làm gì?
Chủ thể người nghệ sĩ quyết định chất lượng tác phẩm nghệ thuật
Điểm khác biệt lớn nhất giữa AI và con người, là AI không thể thay thế trải nghiệm sống, chiều sâu cảm xúc và trách nhiệm xã hội của nghệ sĩ. Triết học nghệ thuật thời công nghệ số quan niệm, để làm nên bản sắc, nghệ sĩ chỉ còn cách đào sâu vào đời sống, đối thoại trực tiếp với hiện thực để tích lũy những trải nghiệm riêng mình có, không thể sao chép.
Những mất mát, hy sinh, tình yêu, ký ức, những rung động sâu sắc chỉ riêng cá nhân, mới là chất liệu làm nên sức sống tác phẩm. Càng giàu bản sắc, càng gắn với đời sống và khát vọng của con người, nghệ thuật mới có thể khẳng định được giá trị không thể thay thế. Xét đến cùng, đó cũng chính là bài học về vốn sống, ngày nay được hiểu cụ thể hơn, gồm vốn về đời sống (trải nghiệm), vốn văn hoá (học vấn), vốn tư tưởng (quan niệm).
Từ cuộc đời trôi nổi, vất vả của chính cá nhân, “Thi Thánh” Đỗ Phủ đúc kết: “Đọc sách hết vạn quyển/ Cầm bút như có thần”. Có lẽ câu này cần được hiểu rộng hơn, ngoài đọc sách theo nghĩa đen, còn là đọc sách cuộc đời theo nghĩa bóng. Có trải đời mới hiểu đời để yêu đời, đau đời. Muốn bạn đọc hiểu đời, nhà văn phải hiểu đời trước. Chủ nghĩa Mác quan niệm hiện thực là nguồn gốc của nhận thức. Văn nghệ là một hình thái ý thức nên càng phải cắm sâu vào mảnh đất hiện thực để hút lấy chất dinh dưỡng của cuộc đời. Thoát ly hiện thực, nghệ thuật nhất định khô héo.
Một trong những cách để thúc đẩy sự phát triển của văn học nghệ thuật, là tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ thâm nhập thực tế, càng nhiều càng tốt, càng sâu càng hay. Chỉ có từ đời sống, bắt nguồn từ đời sống mới có thể nảy nở những tài năng. Không có cách nào khác, muốn rèn luyện tài năng, người nghệ sĩ phải trở về cái gốc của nghệ thuật là đời sống muôn màu muôn vẻ. Để phát hiện những năng khiếu, điều kiện cần có của tài năng, cũng phải tìm từ đời sống.
Trong lịch sử văn hóa nhân loại, chưa có thiên tài nghệ thuật nào không được gieo hạt, nảy mầm, bắt rễ, lớn lên, trưởng thành từ cái nôi đời sống. Các cây đại thụ văn chương, trước khi có những trước tác đồ sộ, họ cũng đều là những người lăn lộn với cuộc đời: Lỗ Tấn từng là một bác sĩ, du học ở Nhật Bản và đi rất nhiều nơi trên đất Trung Hoa rộng lớn. Chekhov vốn là một nhân viên ngành y đã làm một cuộc vạn lý vượt Siberia mênh mông đến tận đảo Sakhalin. Gorky đi hầu khắp nước Nga. Để trở thành một tiểu thuyết gia, Dickens trước đó làm nghề ghi tốc ký ở the British Parliament (Nghị viện Anh), nhờ đó mà hiểu sâu sắc đời sống các chính khách. Các nhà văn Nga thế kỷ XIX như: Pushkin, Lermontov, Nekrasov, Tolstoy… đều đã từng tham gia đấu tranh chống chế độ nông nô và phải chịu cảnh khổ sai, tù đày.
Quy luật của nghệ thuật là quy luật của tình cảm. Có ý thức chính trị cao mới tạo tiền đề cho tình yêu, cho tâm huyết - vốn được coi là những điều sống còn của nghệ thuật. Cây nghệ thuật có tươi mát, có xum xuê hoa trái là nhờ được trồng trên mảnh đất của tình yêu. Thiếu tình yêu, không có đam mê, tận hiến, sẽ không có nghệ thuật. Tình yêu luôn tìm đến tình yêu. Có tình yêu nghệ thuật cháy bỏng, có khát vọng phục vụ công chúng hết lòng, tự nhiên sẽ được tình yêu của công chúng đáp lại. Triết học nghệ thuật khẳng định có một quy trình sáng tạo: từ thấu hiểu sâu sắc đến thấu cảm tận cùng, mới có thể đồng cảm, trên cơ sở đó, tạo ra sức truyền cảm mà cộng cảm cùng bạn đọc.
Tình yêu và tài năng như hai cánh tay trong một cơ thể nghệ thuật. Tình yêu không tự nhiên có, mà do sự giáo dục, rèn luyện bản lĩnh của một ý thức chính trị nhất định. Văn học nghệ thuật luôn là lĩnh vực sáng tạo tinh thần đặc biệt gắn chặt với tư tưởng, tâm hồn con người nghệ sĩ. Tư tưởng chính trị như ánh sáng soi đường cho quá trình sáng tạo đi lên. Thiếu ánh sáng dễ bị lạc đường. Một số hiện tượng văn học gần đây cho thấy, có tài năng, tâm huyết nhưng tác giả thiếu vốn tư tưởng chính trị, “tác phẩm” dễ phản tác dụng.
“Những người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển”
Trong các Nghị quyết trước, Đảng ta luôn khẳng định văn hóa vươn lên hiện đại từ truyền thống. Tiếp tục tư tưởng đó, Nghị quyết 80 nhấn mạnh tính dân tộc, khuyến khích đi sâu vào truyền thống, phát huy bản sắc độc đáo, khơi nguồn khát vọng vươn lên hiện đại, để có tác phẩm “đóng góp xứng đáng vào dòng chảy của văn minh nhân loại”. Quan điểm của Đảng ta là “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”.
Sinh thời, Bác Hồ đã rất sâu sắc, tinh tế khẳng định: “Những người cộng sản chúng ta phải rất quý trọng cổ điển. Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn núi cổ điển đó. Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”. Ý của Người rất rõ: phải xây dựng một nền văn hóa tiến bộ bắt nguồn từ truyền thống.
Cũng chính Bác Hồ từng căn dặn nhà điện ảnh Phạm Văn Khoa cũng là căn dặn các văn nghệ sĩ: “Làm công tác văn nghệ mà không tìm hiểu sâu vốn của dân tộc thì không làm được đâu”. Người nói với nghệ sĩ Nguyễn Nho Túy: “Nghệ thuật của cha ông hay lắm, tốt lắm! Cố mà giữ gìn. Nhưng chớ có gieo vừng ra ngô”. Đó là những bài học cho hôm nay tìm vào truyền thống, khai thác vốn cổ. Phải giữ cho được cái bản sắc, cái hồn cốt dân tộc, lấy đó làm nền tảng để sáng tạo cái mới, phù hợp với thời đại hôm nay. Đó là hai mặt biện chứng của một vấn đề mang tầm chiến lược.
Lịch sử văn hóa nhân loại chứng minh bất kỳ sáng tác của một nhà văn hóa lớn nào cũng đều được bắt nguồn, khơi nguồn từ truyền thống, Trong những sáng tác của họ đều có những dấu ấn cách tân rất rõ. Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiêu biểu. Rất truyền thống, cũng rất mới. Do vậy, một vấn đề quan trọng là đầu tư để nghiên cứu các giá trị truyền thống. Bởi phải hiểu, mới biết kế thừa, gạt bỏ cái gì, làm mới đến đâu... Cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng những nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống, ưu tiên tài trợ những công trình nghiên cứu văn hóa quá khứ.
“Phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới”
Tiếp biến, giao thoa, ảnh hưởng như là một thuộc tính của văn hoá. Nhưng sẽ diễn ra mạnh, nhanh hơn trong môi trường có điều kiện tương tự giữa các nước cùng khu vực, nhất là giữa các dân tộc “đồng văn, đồng chủng”. “Thổi” đến từ nhiều phương trời khác nhau, văn hoá ngoại lai thường có cả “gió lành” và “gió độc”.
Học tập, tiếp thu, kế thừa văn hoá nước ngoài là điều đương nhiên, vấn đề là tiếp thu, học tập cái gì, như thế nào. Theo Bác Hồ, “phải mở rộng kiến thức của mình về văn hóa thế giới, ... nhưng đồng thời lại phải tránh nguy cơ trở thành những kẻ bắt chước... Văn hóa của các dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trường hợp đó mới có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của chính mình”. Từ những lời này toát lên mấy vấn đề lý luận: cần tiếp thu đa dạng các nền văn hoá khác nhau, nhưng là tiếp thu cái tiến bộ; phải chủ động, không bắt chước, biết tiếp thu cái gì là đặc sắc mà mình còn thiếu. Muốn thế phải nghiên cứu nền văn hoá mình cần tiếp thu một cách toàn diện, hệ thống. Cần thấm thía hơn lời dạy của Bác: Từ nắm bắt cái chỉnh thể để tìm ra, tiếp nhận cái đặc sắc cá thể.
Chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế về sự “xâm lăng văn hóa”, mà một biểu hiện là các khuynh hướng, các trào lưu sáng tác văn học nghệ thuật trên thế giới hay có, dở có đang từng bước ảnh hưởng. Chấp nhận sự đa dạng hóa trong hướng tiếp cận đối tượng sáng tác, nghiên cứu, nhưng phải đảm bảo yếu tố phù hợp với bản sắc văn hóa, tâm hồn, tính cách Việt Nam. Bài học từ một cuốn sách vừa bị thu hồi, là: tiếp thu nước ngoài nhưng phải tiếp thu có hệ thống, có chọn lọc, phải phù hợp với văn hoá nước nhà, với thị hiếu tiếp nhận của công chúng… Từ góc nhìn này, cho thấy một vài nơi, các cấp quản lí, các đơn vị, tổ chức văn hóa, nghệ thuật chưa thực sự hiểu, cũng chưa đủ bản lĩnh để kịp thời ngăn chặn những yếu tố ngoại lai không phù hợp.
Học theo Bác Hồ - người nghệ sĩ mẫu mực
Đáp ứng với thời đại hội nhập toàn cầu sâu sắc, mạnh mẽ, với thời kỹ thuật số đang diễn ra rất nhanh chóng, triết học liên văn hóa (The Intercultural Philosophy) ra đời như là nhu cầu tất yếu. Thuật ngữ “liên văn hóa” (intercultural) như là một “từ khoá” có ở mọi nền văn hoá, để mở ra phương hướng trong việc học tập, kế thừa, kết tinh, phát triển, nâng cao văn hóa dân tộc. Còn là sự tiếp nhận văn hóa có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu văn hóa nước mình; thể hiện ở cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật.
Có bộ rễ khỏe khoắn cắm sâu vào các mảnh đất văn hóa của cuộc sống đương đại, của truyền thống dân tộc và văn hóa nhân loại để hút dưỡng chất tinh hoa, cây xanh liên văn hoá vươn cao cành lá vào bầu trời thời đại quang hợp ánh sáng lý tưởng nhân văn mới mẻ, kết những trái cây tác phẩm mang hương vị tư tưởng vì con người đặc sắc, khác biệt.
Cuộc Hội thảo khoa học Quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18/4/2023 tại Italia (thủ đô Roma) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14/5/2022, tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Tháng 10/2019 Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York - Mỹ.
Các Hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Không chỉ là vị anh hùng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người còn mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hoá cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận.
Ở Hồ Chí Minh có sự hài hoà, nhất quán tuyệt đẹp giá trị đạo đức và nhân cách người cầm bút. “Văn là người”, với Bác là rõ nhất. Một lối viết giản dị, trong sáng, tinh tế, khiêm nhường để thể hiện tiếng nói đối thoại vì hoà bình, vì con người, mang giá trị đạo đức cách mạng, nên có tính mẫu mực và ý nghĩa giáo dục lớn.
Là chuẩn mực về trách nhiệm xã hội cho người viết, là tấm gương cho các thế hệ nhà văn, nhà báo, văn chương Bác Hồ mang giá trị lịch sử - tư liệu để trở thành nhân chứng của thời đại, là tư liệu sống động về cách mạng Việt Nam và thế giới thế kỷ XX, có ảnh hưởng sâu sắc đối với văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Đó là văn chương của tương lai, là bài học về cách viết, cách làm người, cách dùng phương tiện ngôn ngữ phụng sự dân tộc và nhân loại.
Có ba nguồn văn hóa cơ bản để tạo nên Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh. Một là học tập, kế thừa tinh thần yêu nước thương người trong văn hóa Việt. Hai là sự tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, nhất là tư tưởng đạo Nho và giáo lý nhà Phật. Ba là nhờ được đi tới hầu khắp các nền văn hóa phương Tây, học tập và thu lượm những điều tiến bộ ở nhiều tôn giáo, ở rất nhiều chủ nghĩa, khuynh hướng, đặc biệt ở chủ nghĩa Mác.
Như cây đại thụ văn hóa cường tráng nhờ ba chùm rễ khỏe khoắn cắm sâu vào mảnh đất văn hóa nhân loại để cành lá vươn cao lên bầu trời nhân dân khắp thế giới mà quang hợp ánh sáng của tự do, bình đẳng, bác ái, của trí tuệ, tình thương, Hồ Chí Minh đã tạo cho riêng mình một chủ nghĩa nhân văn vừa phương Đông lại rất phương Tây, cổ điển, truyền thống mà mới mẻ, hiện đại; bình dân giản dị mà bác học trí thức; trong sáng hồn nhiên mà sang trọng lịch lãm. Đấy là mẫu mực, là tấm gương cho văn nghệ sĩ học tập, không chỉ hôm nay, mà là mãi mãi!
Bình luận