Văn học nghệ thuật với việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam kể từ Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị
Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về tiếp tục phát triển văn học nghệ thuật Việt Nam trong tình hình mới được ban hành năm 2008 là sự nhấn mạnh, khẳng định thêm lần nữa về vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của văn học nghệ thuật như bộ phận tinh tế và nhạy cảm nhất trong tổng thể văn hóa nói chung, nhất là trong sự phát triển kinh tế xã hội đất nước thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ. Nếu văn hóa được coi như một “sức mạnh mềm” của quốc gia, thì văn học nghệ thuật chính là nguồn lực xung kích của “sức mạnh mềm” ấy. Với các giá trị văn học nghệ thuật đặc sắc, vừa kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc lại vừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của các nền văn hóa quốc tế, các trào lưu văn hóa hiện đại trên thế giới, chúng ta có thể xây dựng thành công hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và quảng bá hình ảnh đẹp đẽ ấy đến với bạn bè khắp năm châu bốn biển. Điều đó không chỉ mang lại niềm tự hào Việt Nam (theo nghĩa duy tinh thần), mà một cách thực tế hơn, nếu có một chiến lược quảng bá đúng hướng, bài bản, khoa học, một sự tập trung đầu tư tương xứng, thì việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam thông qua các giá trị văn hóa, văn học nghệ thuật Việt Nam sẽ mang lại những nguồn lợi vật chất to lớn, góp phần rất quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế đất nước.
Chủ trương, tinh thần của Nghị quyết 23 về cơ bản là như vậy. Vấn đề đặt ra để giải quyết tiếp theo là Nhà nước phải xây dựng được khung pháp lý thực sự có hiệu quả trong việc bảo vệ, hỗ trợ công cuộc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam bằng các giá trị của văn học nghệ thuật Việt Nam. Mặt khác, cũng rất cần thiết phải có sự kiểm kê, “tính sổ” những kết quả thực tế mà chúng ta đã đạt được trong thời gian qua, kể từ khi Nghị quyết 23 ra đời (năm 2008) đến nay, ở tất cả các lĩnh vực của văn học nghệ thuật Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp điều chỉnh, bổ sung, thậm chí những thay đổi về phương pháp, cách thức thực hiện. Đó cũng chính là mục đích mà bài viết này hướng đến, trên những nét cơ bản nhất và trong khả năng bao quát có thể.
Đánh giá chung
Hoạt động sáng tác, biểu diễn, quảng bá nghệ thuật có bước phát triển đa dạng hơn, cả về đề tài, loại hình và phương thức biểu hiện.
Đội ngũ văn nghệ sỹ được mở rộng, nhiều lực lượng trẻ hơn, có nhiều hơn hoạt động phong trào văn nghệ quần chúng.
Cơ sở vật chất, công nghệ truyền thông, số hóa, giao lưu quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật được tăng cường.
Chất lượng nhiều tác phẩm chưa đáp ứng cao cả về tư tưởng và nghệ thuật, số tác phẩm “đỉnh cao” còn ít.
Thể chế, chính sách, cơ chế đãi ngộ, hỗ trợ sáng tác - biểu diễn - quảng bá còn chưa theo kịp thực tiễn.
Quản lý, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động của các hội văn học nghệ thuật, cơ sở sáng tác - biểu diễn còn nhiều điểm cần đổi mới. Như vậy, Nghị quyết đã góp phần định hướng và tạo nền tảng cho phát triển, nhưng vẫn có nhiều “điểm nghẽn” cần khắc phục.
Lĩnh vực văn học - dịch thuật với việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam
Nhiều người vẫn nghĩ và nói về văn học - nghệ thuật của ngôn từ - như là “cái gốc” của tất cả các loại hình văn học nghệ thuật. Cách nghĩ ấy có phương diện đúng, bởi ngôn ngữ lời nói của con người, xét cho cùng, vẫn là kiểu ngôn ngữ cơ bản, chủ yếu nhất trong giao tiếp thông tin và giao tiếp thẩm mỹ (bên cạnh các loại ngôn ngữ hình thể, ngôn ngữ màu sắc, ngôn ngữ đường nét, ngôn ngữ âm thanh, ngôn ngữ hình ảnh tĩnh và hình ảnh động v.v...). Chính vì thế mà qua văn học - tức các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - với độ phản ánh rộng về mọi phương diện, mọi chuyển biến của đời sống xã hội, sâu về mọi ngóc ngách và những chuyển động của đời sống tình cảm, cảm xúc trong mỗi cá nhân, người đọc có thể thấy được hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam, diện mạo của văn hóa Việt Nam suốt các giai đoạn lịch sử. Hình ảnh này, diện mạo này được độc giả trong nước tiếp cận, nắm bắt khá dễ dàng bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt), nhưng nếu để quảng bá ra với thế giới rộng lớn, thì điều kiện tiên quyết, không gì khác là các tác phẩm văn học tiếng Việt cần phải được chuyển ngữ, tức là được dịch sang nhiều thứ tiếng nước ngoài, nhất là những “ngôn ngữ mạnh” như tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản v.v... Tôi gọi đó là “dịch ngược”.
Về lịch sử của “dịch ngược” trong văn học Việt Nam, có thể thấy rằng nó đã được khởi đi từ trước năm 1945, với nhiều bản dịch tác phẩm thuộc vào loại danh tác của văn học Việt Nam trung đại, như thơ Hồ Xuân Hương, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, và đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Người dịch có thể là các trí thức Việt Nam (Trương Vĩnh Ký, Paulus Của, Nguyễn Văn Vĩnh...) và cũng có thể là các trí thức, học giả người Pháp. Sau năm 1945, kéo dài cho đến thời kỳ đất nước đổi mới, mở cửa (năm 1986 và vài năm đầu thập niên 1990) cái phổ của “dịch ngược” các tác phẩm văn học Việt Nam được mở rộng hơn rất nhiều, chủ yếu là nhờ công của các dịch giả người nước ngoài thuộc “phe” các nước XHCN, như Liên Xô, CHDC Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Bulgari, Rumania v.v... Các tác phẩm được chọn để dịch, ngoài Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương, thì đại đa số là những tác phẩm đỉnh cao của dòng văn học cách mạng, yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc, như các tác phẩm thơ văn và báo chí của Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, thơ Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, thơ văn Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Hữu Mai, Nguyễn Minh Châu v.v...
Từ Đổi mới đến nay, việc văn học Việt Nam được “dịch ngược” sang các thứ tiếng nước ngoài càng lan tỏa rộng hơn về diện tác giả, tác phẩm được chọn để dịch, với sự tham gia của rất nhiều dịch giả người nước ngoài ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có cả các dịch giả Việt Nam và các dịch giả người nước ngoài gốc Việt. Tác phẩm được “dịch ngược” không bó hẹp trong khuôn khổ đấu tranh cách mạng và chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc nữa, mà còn là những tác phẩm viết về đời sống hậu chiến, phản ánh những vấn đề của một đất nước Việt Nam đa sắc tộc, đa văn hóa đang chuyển mình trong các công cuộc đô thị hóa, hiện đại hóa, công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa. Quan sát, ta sẽ thấy ở đây những tác giả, tác phẩm xuất sắc nhất của văn học Việt Nam giai đoạn từ đổi mới đến nay đều đã được chuyển ngữ: truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, truyện ngắn của Lê Minh Khuê, truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, tiểu thuyết và truyện ngắn của Ma Văn Kháng, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Quang Thân, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Thuần, Vĩnh Quyền, thơ của Nguyễn Quang Thiều, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Mai Văn Phấn v.v...
Liệt kê ra như vậy thì thấy có vẻ nhiều, nhưng thật ra đó chỉ là một góc nhỏ thành tựu, rất khiêm tốn, của văn học Việt Nam từ Đổi mới đến nay được “dịch ngược” ra các thứ tiếng nước ngoài mà thôi. Nguyên nhân của sự khiêm tốn này nằm ở đâu? Câu trả lời: nằm ở việc, về thực chất, công cuộc dịch đầy khó khăn này đang được vận hành theo con đường “tiểu ngạch”. Tức là: nó hoàn toàn thuộc vào nỗ lực cá nhân của các dịch giả người nước ngoài yêu văn hóa, văn học Việt Nam, muốn dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang những ngôn ngữ khác để giới thiệu với thế giới; hoặc phụ thuộc vào sự cố gắng và mối quan hệ cá nhân của các nhà văn Việt Nam với nước ngoài (dịch giả và nhà xuất bản) để đưa tác phẩm văn học trong nước ra mắt người đọc nước ngoài. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị nhấn mạnh việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra với thế giới, nhưng ít nhất, trong lĩnh vực văn học/ xuất bản, ta lại chưa thấy có động thái nào về việc xây dựng và phát triển một cơ quan quốc gia chuyên về dịch tác phẩm văn học Việt Nam, kiểu như “Viện dịch thuật văn học thế giới” của Hàn Quốc. Đây là mô hình rất đáng để chúng ta tham khảo, học tập: họ chuyên dịch văn học, nhưng không phải dịch các tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Hàn, mà là chỉ dịch (nhấn mạnh) các tác phẩm văn học Hàn Quốc sang những ngữ khác nhau trên thế giới, đặc biệt là những “ngôn ngữ mạnh”. Văn hóa Hàn Quốc lan tỏa khắp toàn cầu, một phần cũng là nhờ sự đóng góp của việc dịch thuật văn học theo lối “dịch ngược” như vậy, mà thành tựu đỉnh cao, chói sáng, chính là giải Nobel văn chương năm 2024 mà chủ nhân của nó là Han Kang, nữ nhà văn nổi tiếng thế giới người Hàn Quốc.

Những cuốn sách nổi bật của các tác giả Việt Nam được xuất bản ở nước ngoài thời gian qua.
Lĩnh vực sân khấu - điện ảnh với việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam
Sân khấu và điện ảnh là những loại hình nghệ thuật tổng hợp có sức lan tỏa, phổ biến, sức tác động rất mạnh đến quảng đại công chúng tiếp nhận tác phẩm. Bằng và qua các tác phẩm sân khấu và điện ảnh - những vở kịch hát (tuồng, chèo, cải lương, dân ca kịch) và kịch nói, phim tài liệu, phim hoạt hình, phim truyện điện ảnh và phim truyện truyền hình - công chúng khán giả Việt Nam có cơ hội được thấy, được tìm hiểu và khám phá thêm hình ảnh đất nước, con người Việt Nam từ lăng kính của những người nghệ sỹ sân khấu và điện ảnh. Có một giai đoạn khá dài trong lịch sử đất nước - thời chiến tranh và bao cấp ngay sau đó - sân khấu và điện ảnh là dưỡng chất tinh thần không thể thiếu trong đời sống của nhân dân. Thậm chí còn hơn thế nữa: trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những vở kịch, vở chèo ngắn mà các nghệ sỹ dàn dựng và biểu diễn phục vụ bộ đội ngay tại các chiến trường, các hầm hào công sự vẫn còn nồng mùi khói súng đã thực sự là những lời cổ vũ, động viên, khích lệ rất có ý nghĩa với tinh thần chiến đấu của người chiến sỹ vệ quốc. Hoặc, trước và trong thời kỳ đất nước bước vào Đổi mới, những vở kịch của Xuân Trình, Võ Khắc Nghiêm, Nguyễn Khắc Phục - nhất là những vở kịch của kịch tác gia tài năng Lưu Quang Vũ - hay những bộ phim tài liệu của đạo diễn Trần Văn Thủy (Hà Nội trong mắt ai, Chuyện tử tế) và hàng loạt phim truyện điện ảnh của các đạo diễn khác, đã thực sự phản ánh hình ảnh một quốc gia đang chuyển mình, đang vượt thoát khỏi nếp tư duy cũ kỹ để hòa nhập với một thế giới không ngừng hiện đại hóa, từng giờ, từng phút.
Nhưng đó là câu chuyện đối nội, câu chuyện của người Việt Nam tự nhận thức về mình qua hình ảnh đất nước và con người Việt Nam mà các tác phẩm sân khấu, điện ảnh Việt Nam mang lại. Câu chuyện đối ngoại là sân khấu và điện ảnh Việt Nam phải quảng bá cho được hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra với thế giới rộng lớn, với những quốc gia khác, với những nền văn hóa dân tộc khác. Về câu chuyện này, có thể nói rằng sân khấu và điện ảnh Việt Nam thực hiện được vẫn còn khá khiêm tốn. Ta hãy nói về sân khấu trước. Tuồng, chèo, cải lương và dân ca kịch là những loại hình kịch hát truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam - từ hình thức đến nội dung - rất được công chúng khán giả trong nước yêu mến, hâm mộ, nhưng quả thực rất khó để đưa ra nước ngoài và nhận được sự yêu mến, hâm mộ tương tự từ công chúng khán giả nước ngoài. Nếu như vậy, và trên thực tế là như vậy, thì việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới qua các tác phẩm/ vở diễn tuồng, chèo, cải lương và dân ca kịch không hề đạt được hiệu quả như chúng ta mong muốn, nếu không muốn nói hiệu quả đạt được là rất thấp. Chỉ có thể trông chờ vào kịch nói, loại hình sân khấu vốn có gốc từ phương Tây, lại có sự lan tỏa toàn cầu nên ít nhiều sẽ được công chúng khán giả nước ngoài chia sẻ.
Thực tế thì quả đúng như vậy. Có thể quan sát thấy, kể từ khi Nghị quyết 23 được ban hành và có hiệu lực đến nay, Nghị định - chưa phải Luật - về nghệ thuật biểu diễn đã vài lần điều chỉnh, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để những đơn vị nghệ thuật sân khấu năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm như Nhà hát Tuổi Trẻ (công lập) hay Sân khấu Lệ Ngọc (tư nhân) xuất ngoại liên tục ở nhiều nước trên thế giới (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên bang Nga, CHLB Đức, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan), tham gia nhiều liên hoan quốc tế và gặt hái được không ít thành công. Những tác phẩm mà họ mang theo trong các chuyến “mang chuông đánh xứ người” ấy đã giúp công chúng khán giả ngoại quốc hiểu rộng hơn và sâu hơn về lịch sử và văn hóa truyền thống của Việt Nam, nhất là những vấn đề của đời sống xã hội và con người Việt Nam đương đại.
Điều đó dễ hiểu, vì thật ra mỗi vở diễn đều là những câu chuyện được kể lại, không phải bằng ngôn từ, mà bằng hành động sân khấu và lời thoại của các nhân vật. Những câu chuyện, qua góc nhìn của các tác giả kịch bản, bàn tay dàn dựng của các đạo diễn và diễn xuất của các diễn viên sân khấu kịch nói, đã cho công chúng khán giả nước ngoài một cách tiếp cận với đất nước và con người Việt Nam rất sinh động, đầy thuyết phục. (Ở đây chỉ đề cập việc các đơn vị sân khấu Việt Nam mang tác phẩm sân khấu Việt Nam ra nước ngoài biểu diễn, không nói việc có những đơn vị, ví như Nhà hát Tuổi trẻ, đã ra nước ngoài tham gia các liên hoan sân khấu quốc tế bằng những tác phẩm kịch nước ngoài, như tác phẩm của kịch tác gia Shakespeare (Anh) hay Ibsen (Na Uy)).
Về điện ảnh, cần phải ghi nhận rằng từ khá sớm, qua các liên hoan phim quốc tế được tổ chức giữa các quốc gia cùng khối XHCN (Trung Quốc, Cuba, Liên Xô, CHDC Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc v.v...) thì điện ảnh Việt Nam, kể cả điện ảnh tài liệu lẫn điện ảnh phim truyện và điện ảnh hoạt hình, đều đã khắc được dấu ấn đậm nét với công chúng khán giả nước ngoài. Chỉ nói riêng phim truyện điện ảnh, những bộ phim được sản xuất trong kháng chiến chống Mỹ - và ngay sau đó ít năm - như Chị Tư Hậu, Vỹ tuyến 17 ngày và đêm, Chung một dòng sông, Con chim vành khuyên, Bao giờ cho đến tháng Mười... đã mang lại cho khán giả quốc tế hình ảnh chân thực, sống động về một đất nước Việt Nam bị chia cắt trong chiến tranh, bị bom dội suốt các thành phố và các làng quê nhưng vẫn quật cường chiến đấu vì nền độc lập và sự thống nhất của dân tộc, về những con người Việt Nam hiền lành chất phác, nhân hậu thủy chung, phải hứng chịu biết bao đau thương mà vẫn rất đỗi anh hùng trong sự xả thân vì nhiệm vụ lớn lao mà lịch sử giao phó. Hình ảnh đất nước và con người Việt Nam thời chiến trong những bộ phim như vậy, có thể nói, đã giành được rất nhiều thiện cảm của bạn bè quốc tế, và từ đó kéo theo những sự ủng hộ giúp đỡ quý báu cả về tinh thần lẫn vật chất của nhân dân thế giới đối với cuộc chiến tranh vì chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Nhưng không chỉ là hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong chiến tranh. Nhiều bộ phim truyện điện ảnh ngay từ thời đó đã đi sâu khai thác văn hóa truyền thống Việt Nam, bản sắc Việt Nam, chẳng hạn như phim Bao giờ cho đến tháng Mười của đạo diễn Đặng Nhật Minh - với trường đoạn về phiên chợ âm dương rất đặc sắc và đầy cảm động - hay các phim Mùa ổi (Đặng Nhật Minh), Thời xa vắng (Hồ Quang Minh), Mùa len trâu (Nguyễn Võ Nghiêm Minh), Trăng nơi đáy giếng (Nguyễn Vinh Sơn), Mê Thảo, thời vang bóng (Việt Linh), Mùi đu đủ xanh (Trần Anh Hùng), Song lang (Leon Lê)... sau này. Bộ phim Bao giờ cho đến tháng Mười của đạo diễn Đặng Nhật Minh được Đài truyền hình NHK của Nhật Bản bình chọn là một trong mười phim điện ảnh hay nhất châu Á thế kỷ XX cũng chính là trên phương diện khai thác bản sắc văn hóa Việt Nam, cụ thể là khai thác văn hóa truyền thống vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng (Bắc Bộ). Và các bộ phim khác của các đạo diễn khác cũng vậy: khán giả điện ảnh quốc tế - lúc này không chỉ là khán giả điện ảnh thuộc các nước “cùng phe” nữa, mà đã mở rộng hơn rất nhiều - quan tâm đến những câu chuyện Việt Nam, và họ cũng quan tâm không kém đến những yếu tố, những phương diện đặc sắc của văn hóa Việt Nam được thể hiện qua các tác phẩm điện ảnh phim truyện.
Và, kể từ năm 2008, với Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị và các chính sách kèm theo về phát triển công nghiệp điện ảnh, việc khai thác “tính văn hóa”, “sự khác biệt văn hóa” trong phim truyện điện ảnh Việt Nam càng được đẩy mạnh - ở đây cần ghi nhận những đóng góp lớn của lực lượng đạo diễn Việt kiều như Hồ Quang Minh, Nguyễn Võ Nghiêm Minh, Trần Anh Hùng, Leon Lê v.v... - điều đó khiến điện ảnh Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong sự tiếp nhận của công chúng khán giả quốc tế, và chắc chắn là khiến cho hình ảnh đất nước và con người Việt Nam được lan tỏa mạnh mẽ và hiệu quả hơn trên thế giới.
Lĩnh vực ca - nhạc với việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam
Từ khá lâu trước khi Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ra đời, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong các tác phẩm thuộc lĩnh vực ca - múa - nhạc đã được thể hiện rất đậm nét. Hàng nghìn, hàng vạn tác phẩm thanh nhạc - tức ca khúc, nhạc có lời - ngoài giai điệu mang màu sắc riêng có của âm nhạc dân gian khắp các vùng miền, các sắc tộc anh em trên cả nước, thì phần ca từ đã phản ánh rất đầy đủ và sinh động hình ảnh cuộc sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân ta, cũng là phản ánh đời sống tình cảm, cảm xúc, những chuyển biến nội tâm của con người Việt Nam qua các chặng đường lịch sử.
Chúng ta không thể nào quên được rằng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vô cùng nhiều các ca khúc đã lên đường ra mặt trận, hoặc đã được các nhạc sỹ sáng tác ngay tại mặt trận, trong các chiến dịch, và chúng đã chuyển tải trọn vẹn hình ảnh cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của quân và dân Việt Nam anh hùng. Kháng chiến chống thực dân Pháp, tiêu biểu là các ca khúc Trường ca sông Lô của Văn Cao, Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa của Nguyễn Văn Tý, Tiểu đoàn 307 của Nguyễn Hữu Trí, Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương, Đường lên Tây Bắc của Văn An, Hò kéo pháo của Hoàng Vân, Giải phóng Điện Biên của Đỗ Nhuận... Kháng chiến chống đế quốc Mỹ và ngụy quân Sài Gòn, hướng đến giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, gia tài ca khúc cách mạng Việt Nam càng dày dặn và phong phú đa dạng hơn, tiêu biểu là các tác phẩm: Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương của Nguyễn Đức Toàn, Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng Vân, Trên đỉnh Trường Sơn ta hát của Huy Du, Bài ca bên cánh võng của Nguyên Nhung, Bài ca Trường Sơn của Trần Chung, Bác đang cùng chúng cháu hành quân của Huy Thục, Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng của Phạm Tuyên...
Tiếp đến, khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất hai miền Nam Bắc - tạm chưa kể đến hai cuộc chiến tranh chống xâm lược ở hai đầu biên giới sau năm 1975 - ca khúc Việt Nam bước vào giai đoạn viết về cuộc sống tái thiết, về những chuyển biến của một xã hội sản xuất phục vụ dân sinh và hướng đến xây dựng thành công chế độ XHCN. Sự rộn ràng, tươi trẻ, căng đầy sinh lực và tình yêu người, yêu đời đã trở thành nhịp chủ âm, thành đường nét chính trong ca khúc Việt Nam giai đoạn này, và đó là cái cốt lõi để chúng ta có thể hình dung về đất nước và con người Việt Nam sau chiến tranh. Tiêu biểu là các ca khúc Ơi cuộc sống mến thương và Như khúc tình ca của Nguyễn Ngọc Thiện, Thành phố trẻ của Trần Tiến, Em ở nông trường em ra biên giới và Thành phố mười mùa hoa của Trịnh Công Sơn, Một rừng cây một đời người của Trần Long Ẩn, Trị An âm vang mùa xuân của Tôn Thất Lập, Mùa xuân từ những giếng dầu của Phạm Minh Tuấn, Ngõ vắng xôn xao của Trần Quang Huy...
Cho đến hiện nay, trong vài thập niên đầu của thế kỷ XXI, giai đoạn hội nhập, quốc tế hóa và toàn cầu hóa một cách mạnh mẽ, cái nhịp chủ âm và đường nét chính ấy vẫn vẹn nguyên, thậm chí còn được nhấn, được tô đậm thêm trong các ca khúc Việt Nam bằng những phong cách rất hiện đại, pha trộn giữa “truyền thống dân tộc” và “đương đại thế giới”. Như không thể khác: các ca khúc, về tổng quan, đã phản ánh trung thực, sống động tư thế và hình ảnh của một đất nước, một dân tộc đang vươn mình vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của phát triển năng động, mạnh mẽ, đủ sức “sánh vai với các cường quốc năm châu” và đầy tính nhân văn.
Hình ảnh ấy đã được quảng bá ra với thế giới như thế nào? Bằng những cách thức nào và đạt hiệu quả ra sao? Ở đây vẫn cần phải có cái “nhìn lại” về tình hình mấy chục năm trước để đối sánh với hiện tại. Trước đây, trong chiến tranh và giai đoạn khoảng 10, 15 năm hậu chiến, các ca khúc - và ca sỹ - Việt Nam ra với thế giới chủ yếu qua con đường những liên hoan ca múa nhạc trong khối các nước XHCN. Bằng tài năng của các nghệ sỹ thể hiện và chất lượng nghệ thuật - về cả giai điệu và ca từ - của các ca khúc được lựa chọn để giới thiệu với bạn bè quốc tế, quả thực là chúng ta đã gặt hái được vài thành công, mà ví dụ tiêu biểu là Giải thưởng lớn tại Liên hoan âm nhạc quốc tế Dresden (CHDC Đức) của ca sỹ Ái Vân vào cuối thập niên 1980, khi hát Bài ca xây dựng của nhạc sỹ Hoàng Vân.
Tuy nhiên những trường hợp như vậy là không nhiều, và thường thì các giải thưởng hay các huy chương cũng... mang màu sắc “thân tình, hữu nghị” là chính (Dù sao chăng nữa, giai đoạn ấy, so với bên khí nhạc - tức nhạc không lời - thanh nhạc vẫn có phần đạt hiệu quả cao hơn trong việc xuất ngoại để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Bởi lẽ đơn giản là khí nhạc rất hiếm có cơ hội đưa cả một dàn nhạc giao hưởng ra nước ngoài để trình diễn các tác phẩm của các nhà soạn nhạc Việt Nam).
Nhưng mọi việc biến chuyển vào cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000, nhất là sau năm 2008 khi Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị được ban hành. Nghị quyết ra đời, đi kèm các chính sách về thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật biểu diễn, công tác đào tạo, sự quảng bá văn hóa, văn học nghệ thuật đã tạo những điều kiện rất thuận lợi để ca - nhạc Việt Nam ra với thế giới. Không chỉ các đơn vị nghệ thuật (công lập) mà ngay cả các cá nhân nghệ sỹ hoạt động trong lĩnh vực này cũng có thể chủ động đưa sản phẩm âm nhạc của mình ra thị trường quốc tế, mà trường hợp nổi bật là ca sỹ Mỹ Tâm. Đây là thực hiện kinh doanh văn hóa trong một thế giới mở, nhưng đồng thời cũng là gửi “đại sứ văn hóa” ra quốc tế để bắc những nhịp cầu giao lưu, sự thông hiểu về văn học nghệ thuật giữa Việt Nam với các quốc gia, các dân tộc, các nền văn hóa khác.
Đến đây, chúng ta không thể không nói tới một chủ trương, một chính sách lớn, có tác động mạnh mẽ và nhiều mặt đến văn học nghệ thuật kể từ sau khi Nghị quyết 23 ban hành. Đó là Chiến lược phát triển 12 ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam - trong đó có nghệ thuật biểu diễn, tức là có lĩnh vực ca - nhạc - được Thủ tướng Chính phủ ký duyệt năm 2016. Với chiến lược này, và với sự nhanh nhạy năng động của các đơn vị nghệ thuật cũng như các cá nhân nghệ sỹ ca múa nhạc tài năng, chúng ta hoàn toàn có quyền nghĩ đến, nuôi hy vọng về một Vpop Việt Nam mang tầm vóc và sự lan tỏa toàn cầu như Kpop trong làn sóng Hàn lưu (Hallyu) của công nghiệp văn hóa Hàn Quốc.
Xin nhắc lại: đó là kinh doanh, nhưng đồng thời cũng là sự phủ sóng văn hóa đến tận các ngóc ngách của thế giới hiện đại. Tương tự, là câu chuyện của khí nhạc Việt Nam. Không còn khép mình vào đời sống nghệ thuật trong nước, Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam, rồi Dàn nhạc giao hưởng TP Hồ Chí Minh đã từng bước xuất ngoại để thực hiện các chuyến lưu diễn ở nhiều quốc gia Á, Âu, Mỹ (có bán vé chứ không chỉ là biểu diễn hữu nghị, mang tính chất đối ngoại). Trong chương trình biểu diễn của những dàn nhạc giao hưởng này, ngoài tác phẩm của các nhà soạn nhạc danh tiếng của nước ngoài, còn có tác phẩm của các nhà soạn nhạc trong nước, như Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Nam, Đặng Hữu Phúc, Trần Mạnh Hùng v.v... những tác phẩm giao hưởng vừa rất hàn lâm phương Tây, lại vừa vẫn giữ được những yếu tố rất đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Cần phải khẳng định rằng đây là một thành quả rất lớn, một bước ngoặt trong đời sống của khí nhạc Việt Nam kể từ khi có Nghị quyết 23.
Lĩnh vực hội họa - điêu khắc với việc quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam
Khác với các lĩnh vực văn học - dịch thuật, sân khấu - điện ảnh, ca - nhạc, lĩnh vực mỹ thuật - với hai chuyên ngành cơ bản là hội họa và điêu khắc - đã biết đến các quốc gia ngoài lãnh thổ Việt Nam như là những thị trường tranh, tượng quốc tế giàu tiềm năng từ khá sớm trước khi có Nghị quyết 23.
Đặc thù của sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm mỹ thuật, so với các nghệ thuật khác là ở chỗ: một tác phẩm văn học có thể được in (thành sách) nhiều bản, một tác phẩm sân khấu hay âm nhạc có thể được biểu diễn nhiều lần, một bộ phim có thể được chiếu hết từ rạp này sang đến rạp khác vô số suất chiếu, nhưng một bức tranh hay một bức tượng thì là độc bản (nhân bản nó là hành vi sao chép, thậm chí có thể bị coi là làm giả, tức là vi phạm đạo đức nghề nghiệp hoặc vi phạm quyền tác giả). Vì vậy sáng tạo phẩm của người nghệ sỹ mỹ thuật luôn đặt điều kiện là phải có người mua/ nhà sưu tập, sáng tác mà không có ai mua thì coi như nghệ sỹ chưa sáng tác gì, hoặc sáng tác chẳng có ý nghĩa gì hết.
Nên, kể từ khi đất nước đổi mới, mở cửa, bản thân các nghệ sỹ mỹ thuật và cùng với họ, hệ thống các gallery và các giám tuyển mỹ thuật, đã tự tìm các con đường để mở ra thị trường mua bán tranh, tượng. Khách nước ngoài có thể đến Việt Nam để mua tranh, tượng của các họa sỹ, các nhà điêu khắc Việt Nam - cũng cần phải nói rằng tranh (sơn dầu, sơn mài, lụa, giấy dó) tiêu thụ tốt hơn rất nhiều lần so với tượng các loại - như thế nghĩa là hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trong tranh, tượng Việt Nam đã được giới thiệu, quảng bá với khách nước ngoài ngay tại Việt Nam. Nhưng không dừng lại ở đó, các nghệ sỹ mỹ thuật và nhiều gallery Việt Nam đã mạnh dạn đi ra các nước trên thế giới, tổ chức các triển lãm tranh, tượng Việt Nam ngay tại nước ngoài - ví dụ tiêu biểu là những chuyến xuất ngoại của gallery Lotus do bà Xuân Phượng làm chủ, hồi thập niên 1990 và 2000, 2010 - và đạt được những kết quả rất tốt, cả về giá trị kinh tế lẫn ý nghĩa đối ngoại văn hóa, văn học nghệ thuật. Nghĩa là, nghệ sỹ mỹ thuật - các họa sỹ, các điêu khắc gia - có thể sống được bằng lao động nghề nghiệp của mình, và qua đó, hình ảnh của đất nước, con người Việt Nam cũng được giới thiệu, quảng bá với công chúng quốc tế một cách hữu hiệu.
Trong khoảng thời gian từ 1990 - 2000, có thể nói, tranh tượng của các nghệ sỹ Việt Nam đã tạo ra cả một thị trường mỹ thuật rất sôi động. Sau đó thì bão hòa. Nhưng với Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về tiếp tục phát triển Văn học nghệ thuật Việt Nam trong tình hình mới (năm 2008), rồi sau đó là Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa do Thủ tướng chính phủ ký duyệt (năm 2016), thì sự khởi sắc đã trở lại. Chúng ta có thể quan sát thấy ngay sự tái khởi sắc này bằng việc xuất hiện một thiết chế mới trong đời sống mỹ thuật Việt Nam - mới ở ta, nhưng là điều rất bình thường ở các nước phát triển trên thế giới - đó là các nhà đấu giá. Trên phương diện lý thuyết, các nhà đấu giá đảm bảo tất cả đều minh bạch, công khai: tranh, tượng thật và tranh, tượng sao chép, tình trạng bản quyền, mức giá (tính bằng tiền) của các tác phẩm được đưa ra đấu giá v.v... tuy vậy vẫn có những vi phạm và hình như đó là điều không thể tránh khỏi.
Và vì thế, cũng như ở các lĩnh vực văn học - dịch thuật, sân khấu - điện ảnh, ca - nhạc, trong hội họa - điêu khắc cần độ mở cho biên giới sáng tạo của người nghệ sỹ và cho sự phát triển của thị trường nghệ thuật, nhưng cũng cần sự xiết lại trong các vấn đề về đạo đức nghề nghiệp và tình trạng bản quyền, quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ. Nghĩa là yêu cầu đặt ra với chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước. Rồi bên cạnh đó - đây là điều cuối cùng bài viết này muốn đề cập để khép lại chuyên đề - là vai trò của đào tạo (mà Nghị quyết 23 cũng đã nhấn mạnh). Không chỉ là đào tạo về kỹ năng nghề nghiệp, mà còn là đào tạo về “nghệ thuật bán hàng”, tức là năng lực và tính chuyên nghiệp trong việc tiếp cận thị trường nghệ thuật ngoài lãnh thổ quốc gia. Thực hiện được những yêu cầu này, Văn học nghệ thuật Việt Nam sẽ đạt được nhiều thành công hơn nữa trong việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam ra với công chúng ở khắp các quốc gia trên thế giới rộng lớn này.
Kết luận và đề xuất
Sau gần 20 năm thực hiện Nghị quyết 23 NQ/TƯ, nền văn học nghệ thuật Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực: mở rộng cả về quy mô, loại hình, hình thức biểu hiện và tiếp cận thị trường, đồng thời khẳng định vị trí văn hóa tinh thần trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên việc phát triển chất lượng cao, giá trị tư tưởng nghệ thuật lớn, bản sắc dân tộc rõ nét, và thể chế chính sách phù hợp vẫn là những “điểm nghẽn” cần được khắc phục.
Cần tăng cường đầu tư bài bản cho các tác phẩm mang tính điểm nhấn, đỉnh cao, không chỉ dựa vào số lượng mà phải chú trọng chiều sâu và giá trị.
Hoàn thiện cơ chế chính sách: hỗ trợ sáng tác, biểu diễn, quảng bá; đãi ngộ văn nghệ sỹ; xã hội hóa hoạt động nghệ thuật; thương mại hóa nhưng không bỏ qua bản sắc và chất lượng tác phẩm.
Đổi mới mạnh hơn về tư duy quản lý, tổ chức bộ máy, các tổ chức Hội VHNT trung ương và địa phương, nâng cao vai trò của lý luận, phê bình để hỗ trợ sáng tạo và nâng cao trình độ nghệ thuật.
Tăng cường giao lưu quốc tế có chọn lọc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc để các tác phẩm VHNT Việt Nam không chỉ “hội nhập” mà còn phải “đi ra” với giá trị rõ ràng. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng các văn nghệ sỹ, nhà lý luận, phê bình có năng lực, tạo nguồn lực ổn định cho lâu dài.

Thảng hoặc cũng xảy ra chuyện này chuyện nọ. Đó là lúc ai đó cũng vì cái tôi của mình lớn quá, thành ra tranh cãi. Có...
Bình luận