Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim: Đi suốt cuộc đời để trở về nguồn cội
Tôi và nhà thơ Nguyễn Thanh Kim quen biết nhau chừng 1/4 thế kỷ kể từ khi hai chúng tôi về cùng làm việc với nhau ở báo Sức khỏe & Đời sống (Bộ Y tế) cho đến khi cả hai đều nghỉ hưu ở bản báo này. Ngoài nghề làm báo, Nguyễn Thanh Kim còn có nghiệp thơ văn. Đến nay, theo tôi biết, ông đã có 40 đầu sách cá nhân và in chung. Riêng thơ, ông cũng đã có chừng 20 tập, còn lại là sách biên soạn, phê bình và chân dung tác giả và tác phẩm văn chương... Như vậy, xem ra lưng vốn văn chương của Thanh Kim cũng khá đầy đặn về số lượng tác phẩm.
Từ ngày quen biết nhau ở báo Sức khỏe & Đời sống, mỗi lần ra sách Nguyễn Thanh Kim thường ký tặng tôi. Thú thực đến nay, tôi không nhớ đã nhận được bao nhiêu cuốn sách mà ông tặng và tôi đã viết bao nhiêu bài về các tác phẩm của ông. Gần đây nhất, tháng 6/2025, nhà thơ ký tặng tôi tập thơ mới xuất bản mang Nhịp Xuân. Tập thơ khoảng trên 100 trang gồm 61 bài thơ với 5 phụ bản là 5 bức họa in trên giấy couché 75, sáng bóng và đẹp của họa sĩ Nguyễn Duy Lập, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và là em trai nhà thơ Thanh Kim.
Đọc nhiều thơ của Nguyễn Thanh Kim, đến nay tôi ngộ ra một điều ở ông là người có hình hài ở phố, còn hồn vía lại ở quê. Quê ở đây tôi muốn nói đến các vùng miền trên quê hương đất nước Việt Nam nói chung và quê hương Bắc Ninh của ông nói riêng. Có thể nói thơ Nguyễn Thanh Kim thuộc dòng thơ hoài cổ (cảm hoài). Dường như khi đến mỗi vùng miền của đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc, từ miền xuôi lên miền ngược đến những vùng sông nước Cửu Long ông đều có thơ ghi lại những điều mắt thấy, tai nghe hay những phút xao lòng, như là cách lưu giữ kỷ niệm về những nơi ông đã từng đặt chân tới. Trong Nhịp Xuân có khá nhiều bài trực tiếp hay gián tiếp viết về chủ đề quê. Chẳng hạn như những bài: Long Biên mấy nhịp, Duyên quê, Xuân áp vào chợ phiên, Hoa gạo bóng làng, Vẫn màu hoa xoan ấy, Ba Vì chiều, Mùa hoa ban đỏ, Với Huế, Lăng Cô, Trăng sông Tiền, Lệ Giang, Tam Điệp ngàn lau, Quê bạn, Gặp gỡ sông Thương, Thượng Cẩm Đàn, nào quên, Bình yên cho mỗi căn nhà,… Mà nói đúng hơn, cả tập Nhịp Xuân của ông đều phảng phất hồn quê kiểng từ giọng điệu đến ngôn từ; từ cách cảm đến lỗi nghĩ rất riêng, nhưng đều không trượt ra ngoài đường ray biên độ quê.
Dù viết về đề tài, chủ đề nào thì tính chân quê trong thơ Nguyễn Thanh Kim luôn là mạch nguồn chủ đạo. “Nghĩ gần, nghĩ xa/ xui ta nhớ mẹ” (Nhớ mẹ) hay “Em vội ra chợ sớm/ mua hoa rồi sắm đào/ ta nhảy xe khắp chốn/ nhặt chút nhuận bút nghèo… Dòng đời cứ chảy trôi/ đường trần sao tất tả/ Tết đến méo mặt cười/ thiên hạ đều thế cả!?” (Ngày áp Tết).

Tập thơ "Nhịp xuân" của nhà thơ Nguyễn Thanh Kim.
Nói chung thơ Thanh Kim từ trước đến nay thường viết ngắn. Qua những tập tôi đã đọc thấy ông là người khá kiệm lời, rất ít khi dài dòng, vòng vo tam quốc. Thậm chí có bài chỉ có một đơn vị câu thơ: “Ngõ - vết - rạn - tim - tôi” (Ngõ). Có thể nói đây là một bài thơ khá độc đáo: Bài thơ chỉ có một đơn vị câu thơ với 5 từ mà có tới 4 gạch nối, tạo nên chất suy tưởng cho bài thơ. Nhưng phần lớn thơ ông là những bài có 4 đơn vị câu thơ trở lên.
Đến đây tôi xin được phép nói rõ quan niệm của tôi về đơn vị câu thơ khác với câu thơ như thế nào. Câu thơ theo quan niệm thông thường được sử dụng trong các thức thơ truyền thống như: Lục bát, Song thất lục bát, Tứ ngôn, Ngũ ngôn, Lục ngôn, Thất ngôn, Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú…
Còn đơn vị câu thơ thường được sử dụng trong thức thơ tự do, không hạn chế số câu trong một bài cũng như không hạn chế số chữ trong một đơn vị câu thơ. Đơn vị câu thơ không phụ thuộc vào cấu trúc câu như các thức thơ truyền thống, mà chỉ phụ thuộc vào ý tưởng và cảm xúc của chủ thể sáng tạo - nhà thơ. Trong thức thơ tự do, đơn vị câu thơ không phải là những khuôn mẫu có sẵn như trong cấu trúc của các thức thơ truyền thống mà ở trên tôi vừa đề cập đến.
*
Trong tập Nhịp Xuân tôi thích bài thơ dài nhất của ông là bài Bình yên cho mỗi căn nhà. Nói là dài, nhưng bài thơ cũng chỉ có 42 đơn vị câu thơ được chia làm 3 khổ và mỗi khổ đều bắt đầu từ đơn vị câu thơ: “Đất nước này đâu chỉ có bình yên”. Sở dĩ tôi thích bài thơ này vì nó khác với những bài thơ hướng nội của Thanh Kim mà ta thường gặp, đây là một trong số không nhiều những bài thơ hướng ngoại tới cộng đồng trong những lần thiên tai ập tới, thảm họa bủa vây của ông. Có thể nói, đây là bài thơ hiếm hoi được Thanh Kim viết theo lối này, như là cách nhắc nhở tất thảy chúng ta rằng mình đã, đang và còn sẽ sống ở một đất nước luôn có những biến động khôn lường, hết địch họa, rồi đến thiên tai, khiến: “trời đương nắng bỗng sập sùi mưa gió/ thung lũng xanh chợt đục ngầu xoáy lũ/ bản làng xa cuốn hút chốn trời mây/ dốc cheo leo/ cầu đã hãy/ máu người đã đổ/ tàu neo đậu cuồng phong và và bão tố/ bao yên lành sụp đổ nước và cây/…/ người dẫm bùn chỉ hở hai tròng mắt/ lúa ngậm đòng xao xác ngợp sóng chao/ mùa thất bát cơ chừng trông thấy được/…/ những phận người ơi sao cơ cực thế này!”. Có lẽ cơn lũ kinh hoàng do bão Yagi gây ra hồi tháng 9/2024 đã khiến nhà thơ thực sự xúc động viết nên bài thơ này.
Tất nhiên bài thơ không chỉ có nhắc nhở, chia sẻ với người dân trong vùng bão lũ, “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa” (Đất nước - Phạm Minh Tuấn). Hơn thế nó còn mang tính cảnh giới cao độ. Đọc bài thơ này của Nguyễn Thanh Kim, làm tôi lại nhớ đến hai câu thơ của Trần Đăng Khoa trong bài Thơ tình người lính biển được viết vào năm 1981, trước khi lão Khoa vào học khóa II, trường Viết văn Nguyễn Du cùng với Nguyễn Thanh Kim: “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình уên/ Ϲơn bão chưa ngưng trong tâm hồn biết bao người”. Hai bài thơ của Trần Đăng Khoa và Nguyễn Thanh Kim ra đời cách nhau đúng 44 năm, nhưng tính cảnh báo của chúng vẫn giữ nguyên giá trị.
Vậy ra, phần lớn những người nghệ sĩ thực thụ, có tâm đều có chung một phẩm chất là rất mẩn cảm trước sự ba đào của quê hương, đất nước và cuộc sống của người dân ở quanh ta. Vấn đề là khi nào người nghệ sĩ biểu hiện ra điều đó, sớm hay muộn lại là câu chuyện riêng của mỗi người. Nhưng chắc chắn chúng tùy thuộc hoàn cảnh khách quan có thể đem đến cho người nghệ sĩ sự xúc động cần thiết về cảm hứng sáng tạo để tạo nên những tác phẩm thơ ca nói riêng và văn học, nghệ thuật nói chung.
Trong bài Bình yên cho mỗi căn nhà của Nguyễn Thanh Kim, tôi thích nhất khổ thứ ba và cũng là khổ kết của bài thơ: “Đất nước này đâu chỉ có bình yên/ dẫu biết vậy và lòng không nghĩ vậy/ nắng mưa thất thường hoang hoải/ tôi vẫn tin tha thiết tấm lòng dân/ vẫn những tấm lòng biết mấy sẻ chia/ vẫn những con tim ấm nóng tình người/ vẫn những thân thương mắt nhìn tin cậy/ đường dẫu xa và bão giông có nổi/ tôi tin bình yên có trong từng giọng nói/ nỗi đau sẽ qua/ và bình yên sẽ đến trong mỗi căn nhà”.
Ở đây, Nguyễn Thanh Kim đã góp thêm một tiếng nói bằng thơ, theo cách riêng của mình về tấm lòng vị tha, tương thân tương ái. Ông đã khẳng định thêm một lần nữa dù có thiên tai, địch họa đến mấy cũng không thể làm suy suyển lòng tin của con người Việt Nam vào một tương lai tươi sáng.
Dẫu biết rằng thơ ca là sản phẩm sáng tạo tinh thần của riêng mỗi người, nhưng khi nhà thơ gắn cái tôi cá nhân của mình với cái ta chung của cộng đồng, dân tộc thì nó sẽ tạo nên sức mạnh lan tỏa rộng lớn hơn và cũng bền lâu hơn. Chỉ riêng bài thơ này thôi, Nguyễn Thanh Kim đã làm được điều đó.

Nhiều người bình thơ bằng cách "diễn nôm" cái ý của tác giả đã rõ như ban ngày thay vì phát hiện ý tứ, những tầng,...
Bình luận