Nước Việt Nam trên bầu trời Đường thi
Thơ Đường ảnh hưởng sâu sắc đến thi ca Việt Nam từ thời trung đại đến những năm thế kỷ XX. Bầu trời Đường thi đã tỏa sáng hơn 10 thế kỷ.
Gần một nghìn năm đầu tiên sau công nguyên, người Việt Nam chưa có độc lập và nền văn học viết. Chưa có căn cứ đầy đủ về việc trước và sau công nguyên, tổ tiên chúng ta đã có chữ viết để làm văn học. Người ta đã thống kê trong một nghìn năm đó chỉ còn tìm thấy 25 văn bản do người Việt Nam viết bằng chữ Hán.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư bản khắc năm 1697, Gia phả họ Khương ở Thạch Thất, Sơn Tây và trực tiếp là cuốn Sưu tầm và khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt trước thế kỷ thứ X của Trần Nghĩa thì có nêu cụ thể bài phú: Bạch vân chiều xuân hải phú của Khương Công Phụ (731-805) có tổ tiên từ phương Bắc di cư đến Việt Nam, không biết đến ông Khương này là đời thứ bao nhiêu. Ông đỗ tiến sỹ năm 804 và làm đến tể tướng của triều Đường. Số hơn 20 tác phẩm còn lại phần nhiều bàn luận về đạo phật và thiền. Trong khoảng thời gian 10 thế kỷ đó, chữ Nôm (nghĩa là Nam), một thứ chữ dùng chữ Hán để xác âm và định nghĩa tiếng Việt mới ở giai đoạn bước đầu.
Học giả Đào Duy Anh trong sách Việt Nam văn hóa sử cương viết năm 1938 có nêu một trong nhiều giả thuyết, Sỹ Nhiếp (187 - 226) mà sử ta gọi là Sỹ Vương là người đặt ra thứ chữ Nôm ấy để dịch các sách kinh truyện ra Việt ngữ. Đại Việt sử ký toàn thư (1697) nói rằng tổ tiên của Sỹ Nhiếp vốn người phương Bắc di cư sang Việt Nam, đến đời ông ấy là đời thứ 6. Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn trong sách Một số vấn đề về chữ Nôm in năm 1985 cho rằng chữ Nôm xuất hiện chỉ từ thế kỷ thứ VIII thứ IX trở đi, sau khi hệ thống phát âm Đường Tống ra đời. Như thế là chữ Nôm xuất hiện không phải một sớm một chiều mà phải sau nhiều thế kỷ, xuất phát từ sự giao lưu văn hóa giữ người Việt và người Hán ở sự cần thiết của cả hai phía. Chữ Nôm phải sau thế kỷ thứ X, khi nước nhà độc lập, sự phát triển bởi người Việt mới đủ độ trưởng thành để làm công cụ sáng tác văn học. Chặng đường phát triển chữ quốc ngữ sau này cũng phải mất 300 năm.
Và phải đến thế kỷ XVIII, tức là sau 800 năm, chữ Nôm mới phát triển rực rỡ bằng các truyện thơ và khúc ngâm. Giáo sư Trần Nho Thìn và nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định thực tế lịch sử văn hóa của 9 thế kỷ văn học trung đại từ thế kỷ thứ X đến XIX, nền văn học song ngữ Hán và Nôm phát triển rực rỡ trên cả 2 loại hình chữ đó. Tôi cho rằng có lẽ đó là một đặc trưng nổi bật của văn học Việt Nam trước thế kỷ XX. Danh sĩ Phạm Đình Hổ (1768-1839) trong bài tựa và nhuận sắc cho Tỳ Bà Hành, tác phẩm xuất sắc của Bạch Cư Dị trong Đường thi ra chữ Nôm đã viết: “nền văn hiến nước ta có điều nào đó gặp gỡ với văn hóa Trung Hoa, nhưng ngôn ngữ thì hoàn toàn khác biệt. Thời gian gần đây đã có kẻ sĩ ưa thích cái xưa thường dùng quốc âm để dịch chữ Trung Hoa. Việc đó không phải là không có kết quả và tỏ rõ ngọn ngành (Người xưa bàn về văn chương - NXB Khoa học xã hội - 1993).

Ảnh minh họa
Xuất phát từ thực tế lịch sử 10 thế kỷ sau Công nguyên, việc hình dung nước Việt Nam qua các tác phẩm văn học viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm của người Việt là một ẩn số, ít nhất về mặt tư liệu là chưa thật đầy đủ. Đề cập đến nước Việt Nam qua các sáng tác văn học của các tác giả người Hán, đặc biệt là trong 3 thế kỷ, từ thế kỷ thứ VII đến năm 938, rơi vào không gian văn hóa Đường thi, một trong số ít nền thơ lớn đặc sắc của phương Đông và thế giới, nghĩ nên cần thiết. Vua Tự Đức (1829-1883) đã ca ngợi thơ Đường hơn hẳn các dòng thơ khác ở Trung Quốc xưa như sau: “Đạo thơ mỗi ngày một sa đọa. Hán Ngụy thì coi chất hơn văn. Lục triều thì quá ư ủy mị. Nguyên Minh thì ưa chuộng cặn kẽ và chi ly. Tựu trung duy có thơ Đường cách biệt mới hoàn toàn, Uẩn súc rất đáng để ý” (Người xưa bàn về văn chương - NXB Khoa học xã hội - 1993).
Thơ Đường ảnh hưởng sâu sắc đến thi ca Việt Nam từ thời trung đại đến những năm thế kỷ XX. Bầu trời Đường thi đã tỏa sáng hơn 10 thế kỷ.
Các thi sĩ đời Đường bằng nhiều cách khác nhau hoặc là làm các chức quan ở Việt Nam hoặc tâm sự với người đến Việt Nam v.v... Dù là nhãn quan khác nhau nhưng đã ghi nhận một cách xác thực cảnh sắc và con người Việt Nam thời đó để chúng ta nhìn nhận giang sơn đất nước thăng trầm đã trải qua thời gian hơn một nghìn năm. Thơ của thi sĩ đời Đường dùng trong bài viết này lấy từ sách An Nam chí lược của Lê Tắc viết năm 1307, xuất bản bằng tiếng Việt 2009. Sách Việt kiệu thư của Lý Văn Phượng viết năm 1540, xuất bản bằng tiếng Việt năm 2022 cũng như cuốn Đường thi tam bách thủ do các học giả Trung Quốc biên soạn - dịch và in tiếng Việt năm 2008.
Truyền thống văn chương Trung Quốc rất coi trọng thể loại thi ca. Chữ thi trong tiếng Hán được cấu trúc bằng bộ ngôn (lời nói) và chữ tự (đền đài). Quan niệm trân trọng này có lẽ giúp cho các thi sĩ vượt qua những mặc cảm và thiên kiến về chính trị của các triều vua phong kiến để bày tỏ tâm trạng của họ. Các nhà thơ nổi tiếng đời Đường hay đề cập đến hai chữ nhân sinh. Lý Bạch nói: “Nhân sinh đắc ý tu tận hoa” (Đời người khi đắc ý hãy vui hết mình). Hàn Dũ nói: “Nhân sinh như thử tự như lạc” (Đời người như thế tự cho là vui), “Nhân sinh do mệnh phi do tha” (Người ta sinh ra có số mệnh đâu do họ) v.v... và đặc biệt Đỗ Phủ được mệnh danh là “thánh thi” nói: “Nhân sinh bất tương kiến” (Người ta ở đời khó gặp nhau). Đỗ Phủ đã viết câu thơ nổi tiếng:
“Rút đao chém xuống nước nước vẫn chảy
Nghiêng chén tiêu sầu sầu thêm sầu
Người sống trên đời nào được như ý”.
Quan niệm nhân sinh sâu đậm ấy lan tỏa trong thời đại thơ Đường. Làm nên một nền thi ca hướng tới con người. Do đó các thi sĩ đời Đường khi viết về cảnh sắc và con người Việt Nam những năm của thế kỷ thứ VII đến đầu thế kỷ thứ X đã mang tinh thần phản ánh lẽ nhân sinh của thời đại phong kiến phát triển nhất ở Trung Hoa.
Thẩm Thuyên Kỳ (656-713) làm quan ở đất Hoan Châu - Nghệ An. Ông có làm bài thơ Sùng sơn hướng Việt Thường (núi Sùng ở Việt Thường). Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840) viết: năm 1819 có nói tên Việt Thường được dùng nhiều trong sử sách Việt Nam. Nước Văn Lang chia làm 15 bộ trong đó có Việt Thường. Đến đời Đường, Việt Thường thuộc quận Hoan Châu tức Nghệ An ngày nay. Theo chú thích của Đại Việt sử ký toàn thư 1697 thì thuộc vùng Đức Thọ và phía nam Hương Sơn - Hà Tĩnh. Bài thơ như một bức tranh thủy mặc, ở xa có núi xếp so le, ở gần hoa lá nở cây ngàn thưa nhặt.
“Núi so le cây ngàn thưa nhặt
Quấn quýt nhau giăng mức thành chùm
Đây gò lá quế xanh um
Hoa đằng nảy nở trong lùm đá ngăn
Thợ trời đường lắm công xây
Bao nhiên thắng tích người rày tới nơi”
An Nam chí lược của Lê Tắc ngoài bài thơ này còn tìm thấy hai bài thơ khác của Thẩm Thuyên Kỳ mô tả cảnh thôn dã vùng Giao Chỉ. Theo Lịch Triều hiến chương loại chí thì tên Giao Chỉ có từ thời Hùng Vương. Tiếp đến cuối đời nhà Tần và đời nhà Hán khoảng những năm đầu sau Công nguyên quận Giao Chỉ có 12 huyện ứng với vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ như Thạch Thất, Mê Linh, Phú Thọ... Đến đời nhà Đường, châu Giao Chỉ có 8 huyện ứng với Hà Nội, Long Biên, Bắc Ninh v.v... Phong cảnh vùng này xóm làng trù phú cùng với công việc làm muối lâu đời của diêm dân trên nền cảnh núi non biển cả, nói lên ở đất Việt Nam này không có gì hoang dã cách đây khoảng 1300 năm.
“Làng xóm liền nhà ở
Ngư diêm nối nghiệp truyền
Bắc đẩu sườn non quẩy
Gió nam mặt biển rền”.
Đỗ Thẩm Ngôn (648-708) đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Tư văn quán học sĩ. Có tài liệu nói ông là ông nội của thánh thi Đỗ Phủ. Cũng giống như Thẩm Thuyên Kỳ, Đỗ Thẩm Ngôn bị vua Đường biếm sang làm quan ở Hoan Châu - Nghệ An. Đỗ Thẩm Ngôn có bài thơ Lữ ngụ An Nam miêu tả sự khác nhau giữa thời tiết của Giao Chỉ với phương Bắc, khí lạnh thì đến muộn nhưng lại nóng liền được ngay. Cảnh vật của nơi này thật tuyệt vời khi quả dại chín vào tháng 11 ở trong núi. Tháng giêng thì hoa nở khắp đồng nội. Những ngôi làng cổ xưa nối dài muôn dặm và không lúc nào không vắng khách đến thăm.
“Trái núi chín tháng một
Hoa đồng nở tháng giêng
Làng cũ xa muôn dặm
Tứ khách vẫn liên miên”
Tiếp tục quan niệm nhân sinh về tả thực phong cảnh và nếp sống này, Hàn Dũ (768-824) đỗ tiến sĩ. Làm quan đến chức giám sát ngự sử. Theo sử sách thì Hàn Dũ chưa đến Việt Nam. Nhưng ông có bài thơ Đàn Việt thường ghi lại cảnh vật và đời sống nước ta thời cuối thế kỷ thứ VIII đầu thế kỷ thứ IX nơi mưa gió thuận hòa, phong cảnh tốt tươi, nhà nhà lao động.
“mưa phải thì
Vật tốt tươi
… nhà không bỏ trống
Ruộng có người cày”
Đường thi không chỉ dừng lại ở việc mô tả cảnh sắc thiên nhiên và con người mà còn đề cập đến đời sống tinh thần, thế giới tâm linh của người Việt Nam, mà vào thời kỳ đó, đạo Phật đã tỏ ra lan tỏa trên nhiều vùng đất. Trương Tịch (767-830) đỗ tiến sĩ. Làm quan đến chức Quốc tử tư nghiệp. Chưa có tài liệu nào nói rõ ông đã đến Việt Nam. Nhưng đã có bài thơ: Chơi núi tặng thầy tu quận Nhật Nam; kể như ông đã đến nơi này rồi. Theo Lịch triều hiến chương loại chí, đất Nghệ An xưa gọi là nước Việt Thường; đến nhà Tần gọi là Tương Quận. Đời Hán đổi là quận Nhật Nam. Tùy cũng gọi là Nhật Nam. Đến đời Đường bắt đầu gọi là Hoan Châu. Thầy tu Trương Tịch nói ở đây thuộc đất Nghệ An. Thơ Trương Tịch miêu tả mặt sinh hoạt của Phật giáo thật giản dị. Giúp ta hình dung rõ ràng nhà sư đã đặt kinh phật ở trên lá chuối thì quả thật không thể ở phương Bắc được. Và ý thơ đó hay đến mức giản dị không lặp lại được bao giờ nữa.
“Trong núi một sư già
Cửa tùng khép mưa sa
Dở kinh trên lá chuối
Rũ áo dưới bông la”.
Chú thích của An nam chí lược nói bông la là bông đằng la, có thể là một loài hoa thời đó.
Trong số những viên chức cai trị của triều Đường đến nước ta, có lẽ người được nhắc đến nhiều là Cao Biền (821-887) thời hậu Đường. Năm 866, vua Đường giao cho Biền làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ ở An Nam. Chẳng hiểu vì sao dân gian nước ta lại có câu “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”. Cao Biền là người phá đá ẩn dưới nước làm thuyền to hay bị đắm trên đường biển từ Nam Hải đến Giao Châu cho việc đi lại bình yên. Cao Biền cũng đã tổ chức đắp lại thành Đại La - tức thành Hà Nội hồi đầu thế kỷ thứ IX, khoảng năm 864. Sử ký Việt Nam có ghi: trước đó, năm 757 nhà Đường cũng đã cho đắp lại La Thành ở vị trí mới. Cách sông Tô Lịch khoảng 200 thước.
Cao Biền cũng có tên trong danh sách các nhà thơ Đường. Biền viết bài thơ Tiễn Tào Biệt sắc từ An Nam trở về triều xem chừng có vẻ cảm khái lắm trước cảnh chiều của đất phương Nam. Có người nói chim đa đa khi bay thường hướng về phía Nam trước, thể hiện sự gắn bó với quê hương phương Nam mà Biền đang cô đơn trong nỗi nhớ nhà.
“Vân thủy thương mang nhật dục thu
Dã yên thâm xứ giá cô sầu”
Nghĩa là: Mây nước mênh mang trời ngả về chiều, ở chốn thâm sâu sương khói có tiếng sầu của chim đa đa.
Có một nhân vật khác đối lập hình ảnh với Cao Biền là Lý Trác. Trác được giữ chức Đô hộ. Lý Trác khét tiếng tham bạo, thời gian vào nửa đầu thế kỷ thứ IX. An nam chí lược viết: “Hắn lấy một đấu muối để đổi một con ngựa của người dân”.
Bì Nhật Hữu đã làm thơ đả phá việc đô hộ của Lý Trác; nói lên nỗi thống khổ của người dân Việt Nam khiến một người cùng quan lại với Lý Trác cảm thấy ghê rợn.
“Biến thành thây lấp bí dòng sông
Có người sống sót hồi tông
Muôn nhà trông thấy hãi hùng khóc than
Tiếng ai oán lan tràn thôn dã
Khí căm hờn đầy cả núi sông
Ngọn cờ tiếng trống bẽ bàng
Ai mà nghe thấy cho đang tấm lòng”.
Người làm thơ đã không thể đứng về phía kẻ đã gây ra sự tàn khốc này, mặc dù ông ta đồng liêu và cùng chủng tộc với kẻ đã gây ra cảnh tượng đó và người dân Việt Nam vào lúc ấy khí căm hờn đầy cả núi sông.
Có lẽ Vương Bột (650-676) một trong những Sơ Đường tứ kiệt, một nhà thơ nổi tiếng với câu: “Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”, là một biểu tượng của thi ca đời Đường ở lại đất Việt Nam. Vương Bột trên đường đi thăm cha đã bất chợt ghé vào Đằng Vương Các để viết nên câu thơ nghìn đời có một đó, trước khi đến Hoan Châu. Tiếc thay nhà thơ của Đằng Vương Các chưa kịp viết bài thơ nào cho Việt Nam thì trên đường về phương Bắc, thuyền Vương Bột bị đắm tại cửa biển Hội Thống. Xác ông trôi cùng nước thủy triều dâng theo dòng sông Lam có tên lúc đó là Đồng Long đến địa phận xã Nghi Xuân, Nghi Lộc thì dạt vào bờ. Được cha ông là Vương Phúc Cơ làm quan ở đất Hoan Châu vớt lên và an táng tại nơi này. Vương Phúc Cơ cũng là một viên quan tốt. Dân đã lập đền thờ hai cha con Vương Bột. Đền Phúc Vị nằm trên bờ sông Lam cách Cửa Hội bây giờ không xa lắm. Trải qua bao nhiêu dâu bể của hơn 1300 năm, đền Phúc Vị nay vẫn còn. Tôi đã đến bờ bên kia sông Lam viếng mộ Nguyễn Du, ngôi sao sáng nhất của thi ca trung đại và đã được thấy đền thờ Vương Bột ở bên này sông Lam. Như là một duyên nợ văn chương mà trời đất đã tạo nên.
Đền Phúc Vị giống như người Việt Nam đã thờ Khổng Tử trong Văn miếu Quốc Tử Giám, thờ quan Vân Trường ở đền Ngọc Sơn giữa hồ Hoàn Kiếm - Hà Nội, thờ Sỹ Nhiếp ở Thuận Thành - Bắc Ninh. Ở hai nơi Phúc Thọ và Thạch Thất thuộc Sơn Tây - Hà Nội có nhiều làng thờ thần thành hoàng làng là hai anh em người Hán hồi đầu Công nguyên di cư sang Việt Nam. Họ không lấy vợ, làm nghề thầy thuốc chữa bệnh cho dân và qua đời tại địa phương này. Nói lên điều đó để thấy truyền thống nhân nghĩa của người Việt Nam tôn trọng đạo lý và luôn hướng về việc thiện. Cũng như trên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, không ở đâu mà không có đình đền miếu thờ có những bức hoành phi, câu đối, bia đá, quả chuông... có viết chữ Hán vẫn còn được bảo tồn. Từ Hán Việt là cách người Việt Nam đọc tiếng Hán theo cách của người Việt Nam từ thế kỷ thứ X đã chiếm một số lượng không nhỏ trong ngôn ngữ Việt Nam hiện đại. Có người nói tới 60%.
Bằng ấy câu chuyện và thân phận của Vương Bột nằm lại đất Việt Nam đã hơn 13 thế kỷ cho thấy không chỉ duyên nợ của thơ Đường nói riêng mà còn là duyên nợ đầy trắc ẩn của hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Hoa thật là khác biệt như Phạm Đình Hổ đã nói. Nhưng đã có một sự gần gũi của hai nền văn hóa ấy hiếm thấy trong lịch sử văn hóa các quốc gia trên thế giới. Và do vậy nước Việt Nam đã tỏa sáng trên bầu trời Đường thi từ hơn 1000 năm trước như ghi lại những dấu ấn bất tử của một vùng đất.
Lịch sử sau hơn 2000 năm đang mở ra những chương mới. Từ thế kỷ XIX, người Việt Nam lại tiếp tục đối mặt với thách thức và cơ hội để tồn tại và phát triển như một quốc gia có nền văn hiến lâu đời. Những gì đã tích lũy được tiếp tục giữ gìn. Người Việt Nam đã không buông bỏ những kỳ đài của quá khứ mà giữ gìn nó như giá trị của văn minh nhân loại. Từ đó để đối xử với những vấn đề văn hóa trong cuộc giao thoa của văn hóa phương Đông và phương Tây, trong làn sóng mưa Âu gió Mỹ. Nhưng duyên nợ văn hóa giữa hai nền văn minh Việt Nam và Trung Hoa đã không lặp lại nữa trong cuộc giao thoa ấy. Cái còn lại vẫn tồn tại mãi mãi là đất nước Việt Nam; con người Việt Nam; văn hóa Việt Nam.
Hai nghìn năm đã đi qua. Lại hai nghìn năm nữa sắp tới. Thi ca đâu chỉ là nghệ thuật của ngôn từ mà nó đã và sẽ là tiếng gọi khắc khoải của con người gọi con người trong cõi nhân sinh.
Bình luận
