“Thơ không cần hồi đáp” - một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh

“Phải chăng tình yêu thơ ca không còn đất sống trong tâm hồn con người hiện đại, khi “cơn lốc” của đời sống công nghiệp, đời sống đô thị và cái gọi là lối “sống gấp” đang nghiền thời gian sống của chúng ta thành từng mảnh vụn? Đã có lúc nhiều nhà thơ tự hỏi: “Thơ cần cho ai, cần cho mọi người hay chỉ cần cho riêng ta?”, “Thơ sống thế nào trong thời đại “kỹ thuật số”, trong thời “điện tử hoá” đang rút dần đất sống của thơ?” (Nguyễn Việt Chiến)

Đây là một loạt câu hỏi quan trọng được nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đặt ra trong tọa đàm “Thơ hiện nay với hôm nay”, một hoạt động mở màn cho Ngày thơ Việt Nam 2023 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hoàng thành Thăng Long. Những câu hỏi trên sở dĩ trở nên khẩn thiết, mang ý nghĩa cảnh báo đối với sự phát triển thơ ca hiện nay bởi nó phản ánh tình thế khủng hoảng của thơ. Được mệnh danh là kỉ nguyên số, khi công nghệ lên ngôi, mạng xã hội tràn lan và chủ nghĩa tiêu thụ các sản phẩm văn hóa nghe nhìn theo dạng nhanh, ngắn đã tác động sâu sắc đến thị hiếu độc giả, thói quen thưởng thức nghệ thuật và tiêu dùng sản phẩm văn hóa. Và tất cả những điều này cũng ảnh hưởng đến sự sống của thơ ca ở tầng sâu nhất của nó: ngôn ngữ. Do đó, có thể nói, trong bối cảnh thơ ca Việt Nam đương đại, khi ngôn ngữ thi ca phải sống chung với mạng xã hội, với tốc độ và sự tiêu thụ tức thì, quan niệm về vai trò của thơ ca, sự tiếp nhận thơ buộc phải được nhìn nhận lại. Đây chính là lí do cho những thảo luận về thơ trở nên nóng hổi hơn bao giờ hết, thu hút rất nhiều những nhà thơ, nhà nghiên cứu và người yêu thơ tham gia.

Trong bối cảnh đó, Nguyễn Tiến Thanh, nhà thơ của ba tập thơ: Loạn bút hành (2021), Chiều không tên (2021), Viễn ca (2024) và một tập tiểu luận Thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết (2025) đã thể hiện những suy tư rất sâu sắc của mình về sự sinh tồn và ý nghĩa thực sự của thơ ca trong bối cảnh ngôn ngữ bị tha hóa. Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh vốn rất nổi tiếng với hoạt động sáng tác và giao lưu thơ ca từ thuở sinh viên, trên giảng đường Văn khoa, Đại học Tổng hợp. Sau này, ông đã có nhiều thập kỉ kinh qua hoạt động báo chí, tiếp xúc thường xuyên với môi trường ngôn ngữ báo chí, mạng xã hội, - đó chính là cơ sở thực tiễn cho những chiêm nghiệm về thơ và sức sống của thơ ca từ góc nhìn của một người dấn mình vào thế giới ngôn ngữ trong thời đại tiêu dùng. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, do chưa tiếp cận được toàn văn cuốn sách mới nhất Thơ không cần cứu ai, nhưng cứu người viết, bài viết này khảo sát quan điểm thơ ca của Nguyễn Tiến Thanh qua tiểu luận Thơ không cần hồi đáp, vốn là một chương trong cuốn trường luận trên. Bài tiểu luận được in trên Tinh hoa Việt (số 1, bộ mới, phát hành tháng 7/2025) đã đem đến một tiếng nói rất riêng về bản chất của thơ ca và ý nghĩa của nó trong đời sống đương đại. Bài viết cho rằng, quan niệm Thơ không cần hồi đáp của Nguyễn Tiến Thanh không chỉ là một mệnh đề thẩm mỹ mà còn là một cách phản tư về thân phận của thi ca trong thế giới hậu công nghiệp, nơi tốc độ và tiện nghi cuốn con người đi xa khỏi chính mình, nơi cảm xúc bị tiêu chuẩn hóa và những khoảng lặng trở thành xa xỉ.

“Thơ không cần hồi đáp” - một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh - 1

Một số tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh. Ảnh: Trang Thụy

1. Bản thể của thơ: Thơ như một trạng thái tồn tại

Trước hết, tên bài viết Thơ không cần hồi đáp đã được cụ thể hóa bằng những tuyên ngôn rất mạnh: “Người làm thơ không chờ hồi âm. Không đòi thừa nhận. Không cần phân tích”, thơ “không cần chứng nhận” hay “người viết không cần ai vỗ tay”[1]. Các mệnh đề này được lặp đi lặp lại xuyên suốt bài viết. Tất cả những câu khẳng định này đều chỉ ra một quan niệm: thơ không nhất thiết cần được đáp lại, không cần lời phân tích, mổ xẻ, cũng không cần được công nhận, tung hô. Thơ từ chối là một hành vi giao tiếp, từ chối tính mục đích. Bằng cách đó, nhà thơ muốn khẳng định: thơ là hành vi nội tại, hoàn toàn cá nhân, và điều mà thơ “cần” không phải là sự công nhận từ bên ngoài mà là đòi hỏi và thôi thúc từ bên trong. Làm thơ trước hết là cho mình, vì mình. Vậy vì sao nhà thơ lại từ chối sự “hồi đáp” của thơ? bản chất của thơ là gì?

Ông viết: “nếu bạn, vào một lúc nào đó, - không vì cảm hứng, không vì nhiệm vụ, không vì ai yêu cầu - bỗng cầm bút và viết một câu mà không biết sẽ đặt nó ở đâu, gửi cho ai, giữ lại làm gì, thì hãy biết: bạn đã bước vào nơi sâu nhất của thơ. Nơi thơ không còn là phát ngôn, mà là một trạng thái tồn tại. Không cần được nhìn thấy. Không cần được nghe. Chỉ cần được hiện ra - đúng khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan. Và nếu vậy - đó chính là thơ”[2]. Với quan niệm như thế, thơ từ chối bất cứ một hành vi dụng tâm hay hữu ý nào, thơ từ chối bị áp đặt, từ chối là một vật trung gian giao tế, thậm chí từ chối những động cơ, những nhiệm vụ của việc viết – vốn đã được hình dung như một công thức xơ cứng: “Viết cho ai? Viết để làm gì?”. Như tác giả khẳng định, thơ chẳng cần “gửi cho ai, giữ lại làm gì”. Thơ thuần túy trở về với bản chất nguyên thủy của nó, là “viết ra”, ghi lại “một trạng thái tồn tại”, khi “khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan”. Thơ nắm bắt cái tế vi sâu kín, mong manh, dễ mất và không ngừng mất đi. Bởi thế, thơ chính là phần còn lại của sự sống, cũng tức là sống ở nghĩa hiện sinh nhất của nó.

Quan điểm này thực tế được ông thể hiện xuyên suốt trong nhiều bài viết. Trong một tiểu luận khác Ký hiệu cuối trên bức tường đổ sụp, ông cho rằng thơ chính là “chứng tích của sự tồn tại”: “Viết mà không cần câu, không cần tên, không cần ai đọc. Chỉ cần một khoảng trống để thở vào. Chỉ cần một vùng im để không bị xóa khỏi bản thể”; “Trong một thế giới nơi nghĩa đã bị rút ruột, viết không còn là truyền đạt. Nó trở thành một hình thức sống sót. Viết như cách một người học lại nhịp tim sau một cơn trụy mạch. Viết như một bản năng sinh tồn không mang theo ảo tưởng cứu rỗi, nhưng mang theo một điều khẩn thiết: “Tôi vẫn còn ở đây”.

Với một quan niệm như thế, thơ đã bị loại bỏ hết những lớp vỏ bọc bên ngoài của những mục đích, nhu cầu để trở về với bản nguyên cốt lõi, vô tư nhất của nó: Thơ như một cử chỉ nguyên thủy. Thơ viết về chính sự tồn tại, sự hiện hữu, thơ ghi dấu một hơi thở, một nét cảm, một trạng huống sống. Thơ là khoảnh khắc ta tồn tại, là sự hiện hữu bằng con chữ, đơn sơ và thuần túy. Bản chất tối hậu của thơ, như thế, đã không tách rời sự sống con người ở nghĩa cá nhân nhất và hiện sinh nhất của nó.

Trong thơ Nguyễn Tiến Thanh, người đọc bắt gặp rất nhiều những khoảnh khắc của “trạng thái tồn tại” ấy. Bài thơ Sông dưới đây chính là một ví dụ tiêu biểu. Sông giống như một tốc kí về khoảnh khắc thức ngộ về đời người của tác giả. Bắt đầu từ một quan sát về sông: “Hóa thân từ những đám mây/ Che ngang mặt trời phiêu bạt/ Vắt kiệt đời mình thành nước/ Mưa rơi từng hạt lặng im/ Băng qua rất nhiều ghềnh thác/ Ầm ầm uốn lượn về xuôi/ Suối khe oằn mình đau xé/ Thành sông lờ lững bao đời”, nhân vật trữ tình “giật mình” về chính đời mình:

“Người đứng bên bờ sông ấy

Giật mình tóc đã phôi pha

Tháng ngày trôi như nước chảy

Chưa qua sông đã thấy già”.

Những cảm xúc hiện sinh trong bài thơ được viết với ngôn ngữ giản dị, gần như trong suốt, được thể hiện qua một tứ thơ dung dị: từ quan sát về một dòng sông đã trải bao thác ghềnh, nhân vật chợt thức ngộ về dòng đời. Chính vì không làm thơ để được tung hô hay công nhận, cũng không biến thơ thành công cụ để giao tiếp với tha nhân, bài thơ Sông của Nguyễn Tiến Thanh đã gần như loại bỏ hết sự kiểu cách về mặt thi pháp, sự cầu kì trong ngôn ngữ để diễn tả trọn vẹn cái khoảnh khắc chủ thể “giật mình” nhận ra đời mình cũng trôi như nước chảy, tháng năm đã phôi phai, và tuổi già đang dần ập đến. Thơ lúc này đi thẳng từ xúc cảm, từ sự đốn ngộ thành những con chữ, bởi thế, nó hiện lên như là một dấu tích cho việc nhà thơ đang sống, đang cảm nhận về chính mình và cuộc đời. Trong bài thơ Vụt hiện, nhà thơ đã tiết giảm ngôn ngữ tới mức tối đa để ghi trọn một khoảnh khắc sống:

“Anh đuối sức chạy dọc đường số phận

Nhặt niềm vui rơi như lá me vàng

Phía trước mặt là dòng sông nước cạn

Cuối mưa nguồn còn chớp bể không em?”

Hiện lên trong bài thơ là cảm giác “đuối sức” của “anh” sau khi đã “chạy dọc đường số phận’ nhưng chỉ “nhặt niềm vui rơi như lá me vàng”. Những hình ảnh này là một cách nói ẩn dụ cho những lăn lộn của việc làm người, sự hư vô của kiếp sống, khi niềm vui quá đối nhỏ bé, dễ rơi rụng, hư hao. Và cuối cùng, sau những đuối sức đó, con ngời luôn phải đối mặt với những giới hạn khô khốc của đời “Phía trước mặt là dòng sông nước cạn”. Chính giới hạn này giúp chủ thể “anh” bật lên câu hỏi thao thiết: “Cuối mưa nguồn còn chớp bể không em?” Bài thơ, một lần nữa là một sức thức ngộ về hạnh phúc, về được mất của đời người. Nó chính là bằng chứng của những trăn trở, những thao thức, những băn khoăn về kiếp người. Và như thế, thơ chính bản thể sống của nhà thơ.

Những bài thơ trên chỉ là những ví dụ rất nhỏ cho thấy, Nguyễn Tiến Thanh đã rất coi trọng yếu tố nội tại của việc làm thơ. Trong tiểu luận Thơ không cần hồi đáp, nhà thơ nhấn mạnh rằng: “Thơ không cần hồi đáp, vì bản thân nó là hồi đáp cuối cùng của người viết với phần người chưa kịp chết trong mình. Viết không phải để nghe lại, mà để không phản bội cảm xúc đã từng chạm vào mình như một lần sóng quất vào da thịt”; hay “thơ chính là hình thức nhẹ nhất của tồn tại. Người viết không hỏi: “Ai sẽ đọc?” mà hỏi: “nếu không viết, thì ai sẽ biết điều này từng có thật?”. Với quan niệm như thế, thơ đã từ chối những vỏ bọc để trở về với phần cốt tủy nhất: là ca lên những cảm xúc, nói lên những trạng thái hiện tồn của con người.

2. Ý nghĩa của thơ: Thơ là dấu vết của sự sống

Chính vì bản chất cốt lõi của hành vi viết thơ là ghi lại sự tồn tại, sự hiện hữu của người làm thơ trong khoảng khắc, cho nên thơ chính là dấu vết của sự sống con người. Như Nguyễn Tiến Thanh xác quyết: “Thơ không cần được hồi đáp vì nó chưa bao giờ đòi hỏi điều gì. Nó không bước vào thế giới như một đòi hỏi mà như một dấu vết, một vết tay trên cửa kính buổi sớm, một hơi thở còn vướng lại trong căn phòng đã không còn người nói”. Như vậy, thơ tồn tại không vì/ và không nhằm để được nhớ đến, cũng không chứng tỏ điều gì với thế giới bên ngoài. Làm thơ là công việc hoàn toàn thuộc vào nhu cầu nội tại của nhà thơ. Thơ là sự ghi lại về chính những thời khắc sống, do đó, là cách lưu dấu sự tồn tại người qua những “dấu vết” nhỏ bé, mong manh: “một vết tay trên cửa kính buổi sớm, một hơi thở còn vướng lại trong căn phòng đã không còn người nói”. Một vết tay hay một hơi thở là những chỉ dấu tồn tại, là minh chứng cho việc ta đang sống, đang thở và đang hiện diện. Nhưng sự hiện diện vốn mong manh hơn bao giờ hết. Như ánh chớp, nó không thể trường tồn. Chính trong tình thế tồn tại mong manh ấy, thơ đóng vai trò như một cuốn nhật kí, một thước phim ghi lại hành trình xúc cảm, là bằng chứng, chứng tích của việc ta đang sống, đang hiện hữu trong từng khoảnh khắc một đi không trở lại. Ý nghĩ này khiến thơ bị tước hết mọi định danh - cũng chính là những vỏ bọc mà người ta hay gắn cho thơ: “Lúc này, thơ không còn là thể loại. Không còn là văn học. Không còn là nghệ thuật. Thơ là một dạng hiện hữu không cần hồi âm, giống như “lời chưa gửi và sự vắng mặt của người nghe”, thơ tồn tại như một hành vi bất khả hồi đáp, nhưng vẫn được thực hiện, vì nếu không, phần người nơi người viết sẽ tắt trước cả phần xác”. Kéo việc viết trở lại với bản nguyên sơ khởi nhất của nó: viết để làm chứng cho sự sống, do vậy, thơ là sự bảo lưu cái “phần người” có nguy cơ “tắt trước cả phần xác”. Thơ do đó, là nơi bảo vệ nhân tính con người. Thông điệp này cũng là điều ông thể hiện trong tiểu luận Ký hiệu cuối trên bức tường sụp đổ: “Viết như thế là một hành vi đạo đức. Không phải với người khác mà với chính bản thể của mình. Giữ lại một nhịp thở sau khi không còn gì là giữ lại nhân tính. Ngôn ngữ sụp đổ, nhưng người viết vẫn chưa tan”.

Không chỉ là bảo chứng cho những khoảnh khắc sống mong manh, theo Nguyễn Tiến Thanh, thơ còn giúp con người bảo vệ mình trước những tác nhân của ngoại cảnh: “Thơ chỉ ở đó, như một chứng từ lặng lẽ cho phần người không thể đo lường. Và chính vì không có người nghe, không có lời đáp, không có đoạn kết rõ ràng – nên sự tồn tại của thơ càng không bị từ chối, giữ lại khe hở cho một cảm xúc chưa kịp chết hẳn, giữ lại một mảnh mong manh chưa bị thế giới lấp đi bằng tiện nghi và tốc độ”. Nhận định trên cho thấy rằng, sự mong manh của những cảm xúc con người không chỉ vì đời sống con người luôn bị chi phối bởi quy luật nghiệt ngã của thời gian mà bởi con người không thoát khỏi những bủa vây của thời đại. Ý nghĩa của việc viết càng trở nên không thể thay thế khi ngoài kia, thế giới vận hành theo cách, nó không ngừng cuốn ta vào cơn lốc của “tiện nghi và tốc độ”. Bởi thế, viết là “giữ lại” cho ta một “khe hở” của “cảm xúc”, “một mảnh mong manh chưa bị thế giới lấp đi bằng tiện nghi và tốc độ”, cũng tức là giữ lại cái phần con người nhất của loài người. Suy nghĩ này thể hiện sự phản tư sâu sắc của tác giả về tình thế làm người trong thời đại kĩ trị, nơi con người dễ bị biến thành máy móc, thành công cụ, khi những cảm xúc dễ bị nghiền nát bởi một tốc độ sống quá nhanh, quá toan tính, vụ lợi. Trong bối cảnh đó, viết chính là một lối thoát, một cánh cửa tự do, một hành động tự chủ duy nhất mà con người có thể làm để lưu dấu sự sống và kháng cự lại những thiết chế chỉ trực trờ khuôn con người vào khuôn khổ, hay biến con người thành công cụ. Do vậy, với Nguyễn Tiến Thanh, Thơ không cần cứu ai, mà cứu người viết, như tiêu đề của cuốn sách mới xuất bản. Theo đó, thơ không mang những trọng trách to tát hay vĩ đại, thơ không có khả năng cứu chuộc tha nhân nhưng tự nó lại cứu người viết khỏi sự hư vô, sự mất tiếng nói, sự bị máy hóa trong đời sống ngày một quay cuồng. Đây là một triết luận rất sâu sắc, mang dấu ấn thời đại, được ông đề cập trong nhiều bài nói mình: “Thơ không thể cạnh tranh với deadline. Không thể chạy đua với AI. Nhưng thơ có sức bền lạ lùng. Giống như một cây cỏ mọc giữa khe bê tông - không ai trồng, nhưng vẫn có thể khiến một người chợt đứng lại giữa phố”[3].

Đó cũng chính là cách nhà thơ đặt thơ vào vị trí “kháng cự”, không theo nghĩa cách mạng đấu tranh ngoài mặt, mà theo nghĩa một hành vi ngầm, một sự răn đe ẩn dấu, hoặc “một vết xước” vào cái ngôn ngữ trơn tuột của thời đại. Trong tiểu luận Một câu thơ một vết xước vào thời đại, tác giả viết: “Thơ không giành quyền lực, thơ giành lại sự sống bên trong người viết - thơ là một hành vi kháng cự không cần tiếng hô”; “Thơ kháng cự bằng cách không biến mình thành nội dung dễ nuốt… không nói ngay khi người ta muốn nó phải nói”[4]. Nói cách khác, đối với Nguyễn Tiến Thanh, thơ là đối trọng nội tại với sự cơ giới hóa ngôn từ, với áp lực số hóa cảm xúc, với hệ thống đo đếm lượt xem/like như chỉ dấu duy nhất của “tương tác” mạng xã hội. Thơ không cần nhiều người đọc để tăng lên giá trị, nó chỉ cần có mặt, như một hơi thở, như một phần không bị xóa mờ.

“Thơ không cần hồi đáp” - một quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh - 2

Nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh.

3. Quan niệm thơ Nguyễn Tiến Thanh trong dòng chảy thơ ca Việt Nam

Với những gì mà nhà thơ đã thể hiện, có thể thấy Nguyễn Tiến Thanh đã đưa ra một quan niệm hết sức độc đáo, thể hiện một tầm nhìn sâu sắc về thơ. Đặt trong lịch sử phát triển thơ ca Việt Nam, quan niệm “Thơ không cần hồi đáp” của Nguyễn Tiến Thanh vừa là sự tiếp nối với quan niệm cốt lõi về thơ, vừa là sự bổ sung, thậm chí, đưa đến một quan niệm mới trong lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại.

Trước hết, những tuyên ngôn của Nguyễn Tiến Thanh về việc làm thơ là ghi lại “một trạng thái tồn tại”, một “khoảnh khắc phần người trong bạn đang chực tan”, hay viết “để không phản bội cảm xúc đã từng chạm vào mình” thực chất chính là sự tiếp nối của một quan niệm mang tính cốt lõi của thơ ca: thơ chính là tiếng nói chân thành của con tim, của tâm tình con người. Quan niệm phổ quát này nhấn mạnh thơ là tiếng nói của trái tim, do đó, làm thơ trước hết là hướng vào lòng mình, không nhằm được tung hô hay chờ đợi một sự “hồi đáp”. Thơ chính là con người của chính nhà thơ. Tuy nhiên, ngay ở điểm chung này, Nguyễn Tiến Thanh cũng thể hiện một nét phá cách khi nhấn mạnh hơn đến “tồn tại người’, đến “dất vết” con người trong thơ. Thơ đối với ông không phải chỉ là tiếng nói của cảm xúc nói chung, mà là sự chứng nhận của những khoảnh khắc sống. Song khoảnh khắc thì mong manh, thơ bởi thế giữ lại cái phần người dễ phôi phai trước dòng chảy khắc nghiệt của thời gian. Với quan niệm này, nhà thơ nhấn mạnh hơn đến tính hiện sinh của hành vi làm thơ – là hệ quả của tính hiện sinh của chính đời sống con người.

Đặt quan niệm thơ của Nguyễn Tiến Thanh vào mạch nguồn thơ Việt Nam hiện đại, chúng ta sẽ định giá sát thực hơn sự mới mẻ của ông. Bài viết muốn hướng đến các thời điểm: thơ mới, thơ ca cách mạng và thơ đương đại.

Trước hết, trở lại những năm 1930s, kỉ nguyên của hiện đại hóa thơ ca Việt Nam, phong trào Thơ mới như một dàn đồng ca những tiếng lòng, những tâm tình của các thi sĩ. Thơ mới thường nhấn mạnh đến nỗi cô đơn, lòng tha thiết với cuộc sống và niềm khao khát giao cảm với tha nhân. Xuân Diệu là một trường hợp tiêu biểu. Trong bài Cảm xúc, ông viết:

Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió,

Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,

Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

Thơ Xuân Diệu là tiếng nói nội tâm, nhưng là một nội tâm khao khát chia sẻ, khao khát giao cảm với đời. Đó là lí do khiến hầu hết các bài thơ của Xuân Diệu thời kì này đều có dòng đề tặng cho những bạn thơ đương thời. Làm thơ lúc này chính là một hành vi “giao tiếp”, là sự kết nối, là làm thân, là sự đối thoại để hướng đến sự tương liên trong tâm hồn. Trong khi đó, Nguyễn Tiến Thanh lại hướng đến nội tại hóa việc làm thơ ở mức độ cao nhất. Ông thậm chí không cần nhiều người đọc, không cần tung hô, không cần nhận xét phẩm bình, tức là không cần sự chứng nhận của bất cứ ai. Làm thơ như một hoạt động mang tính riêng tư cao độ nhất. Sự khác biệt này có thể lí giải bởi tâm thế người làm thơ của mỗi thời đại. Thơ mới là tiếng nói của cá nhân lần đầu tiên khám phá cảm xúc của mình trong bối cảnh đời sống đô thị và hệ giá trị Tây phương những năm 19302, là sự kháng cự trước những kìm kẹp của lối sống theo tiêu chuẩn Nho giáo truyền thống. Chính vì thế, ngoài việc đi tìm chiều sâu nội cảm, thơ có xu hướng tìm đồng điệu. Trong khi đó, đi sau các nhà Thơ mới gần một trăm năm, Nguyễn Tiến Thanh sống trong một thời đại nơi văn hóa đại chúng cuốn con người vào làn sóng của tung hô hoặc hạ bệ, sự tán thưởng được tính bằng lượt like, lượt view, sự phản hồi của người tiếp nhận bị tiêu chuẩn hóa. Đó cũng là nơi ngôn ngữ biểu đạt trở nên xơ cứng, bị trượt nghĩa, bị rút ruột, thậm chí cảm xúc con người cũng bị rút gọn thành những biểu tượng icon dễ dùng. Chính trong một bối cảnh kĩ thuật số tận độ như vậy, thơ đã rất khó tìm được “giao cảm” thuần khiết như thời kì của các nhà Thơ mới. Đàn ông vậy, quan niệm “thơ không cần hồi đáp” của Nguyễn Tiến Thanh chính là sự kháng cự trước các vấn đề của đời sống đương đại.

Trong khi đó, khi so sánh với các nhà thơ theo khunh hướng cách mạng, chúng ta lại nhìn ra một điểm khác biệt đáng chú ý. Do chuyên chở sứ mệnh cách mạng, “văn học cũng là một mặt trận, và các anh chị em nghệ sĩ cũng là các chiến sĩ trên mặt trận ấy”, toàn thể văn chương thời kì chiến tranh vệ quốc đều hướng đến mục tiêu đấu tranh cách mạng, thúc đẩy và cổ vũ tinh thần chiến đấu của đồng bào, chiến sĩ. Trong bối cảnh thời chiến như thế, phương trâm viết của chủ tịch Hồ Chí Minh được nêu ra như một mẫu mực: “Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì và viết như thế nào?”. Cũng trong bối cảnh đó, thơ ca chính là tiếng nói lan tỏa và kiếm tìm sự đồng thuận, như Tố Hữu khái quát: “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”. Tất cả những điều này đều giúp văn chương trở thành một nguồn lực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh sống trong thời bình, khi văn chương đã được trở về đúng quỹ đạo nghệ thuật của nó. Điều này chi phối đến việc ông coi thơ là tiếng nói nội tâm, thậm chí nội tâm đến cực độ. Trong khi chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao đến đối tượng và tính mục đích của việc viết, hay nhà thơ Tố Hữu muốn hướng thơ đến sự hồi đáp mang tính “đồng ý, đồng chí, đồng tình” của những người cùng chung lí tưởng cách mạng làm thơ thì nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh lại từ chối tính mục đích của việc viết thơ, từ chối sự công nhận, phản bác hay đồng tình của tha nhân; đồng thời, ông coi mình chính là một đối tượng trước tiên và duy nhất của việc viết thơ. Nhà thơ coi viết thơ như một thực hành tự nhiên, mang tính bản năng trong việc ghi lại chính mình, như nhật kí. Quan điểm của Nguyễn Tiến Thanh phản ánh sự vận động tất yếu của văn học Việt Nam hậu chiến, khi văn chương trở lại quỹ đạo đời thường. Sự đảo ngược trong quan niệm nghệ thuật của nhà thơ so với các cây đại thụ thời chiến cho thấy bước chuyển của thơ ca từ sứ mệnh xã hội sang sứ mệnh cá nhân, từ tầm nhìn quốc gia dân tộc trở lại là hành vi tự thân của người sáng tác.

Sau chiến tranh, văn chương chuyển sang thời kì phát triển bước ngoặt, nhất là sau công cuộc Đổi mới năm 1986. Lúc này, cùng với sự bùng nổ của các sáng tác là trăm hoa đua nở các quan niệm khác nhau. Song về cơ bản, như trên đã chỉ ra, văn chương đã trở lại quỹ đạo đời thường, hướng đến giá trị nghệ thuật. Đối với thơ ca, sự trở lại của các nhà thơ như Trần Dần, Phùng Quán, Dương Tường đã đưa đến những tuyên ngôn nghệ thuật táo bạo. Điểm chung ở các nhà thơ này là chủ trương cách tân nghệ thuật, chẳng hạn Lê Đạt cho rằng “Làm thơ là phu chữ”, “nhà thơ làm chữ chủ yếu không phải ở nghĩa “tiêu dùng”, nghĩa tự vị của nó mà còn ở diện mạo, âm lượng, độ vang vọng, sức gợi cảm của chữ trong tương quan hữu cơ với câu thơ và bài thơ”[5]. Quan niệm về chữ và những kì công trong việc “làm chữ” đã tạo nên những cách tân nghệ thuật, đưa thơ trở về đúng nghĩa với lao động chữ nghĩa của hành vi nghệ thuật. Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, với quan điểm thơ là hành vi tự thân đã không nhấn mạnh vào khía cạnh lao động chữ nghĩa. Thậm chí, ông có xu hướng loại bỏ những danh xưng, sự phân loại bao trùm lên thơ ca: “thơ không còn là thể loại. Không còn là văn học. Không còn là nghệ thuật” để đưa thơ trở về thuần túy là “một dạng hiện hữu không cần hồi âm”, được thực hiện cốt để giữ lại cái “phần người nơi người viết” trước khi tất cả những khoảnh khắc sống bị xóa. Vì thơ cốt ghi lại sự “tồn tại” người, nên nhà thơ không đặt ra yêu cầu cao về mặt kĩ thuật thơ ca. Đó cũng là lí do khiến thơ Nguyễn Tiến Thanh không tạo ra đột phá nghệ thuật nhưng lại giữ được sự thuần khiết của cảm xúc.

Trong bối cảnh đương đại, thơ phải đối mặt với thách thức lớn từ sự bùng nổ của các loại hình giải trí đa phương tiện, văn hóa tiêu dùng và phương tiện kĩ thuật số, cùng với đó là bầu khí quyển phức tạp với những biến động không ngừng, tốc độ sống gấp. Thơ ca lúc này không còn nhận được sự quan tâm nhiều như trước. Trong bối cảnh phức tạp của thời đại đó, thi giới đặt ra rất nhiều câu hỏi về giá trị của thơ, tiêu biểu là ý kiến của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều: “thơ ca là nơi duy nhất để tôi giải phóng tôi và để tôi trú ẩn. Một điều tôi muốn nói đến là: có thể những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới nhưng những gì mang tinh thần của thi ca đã và đang cứu rỗi thế giới”[6]. Chia sẻ này của nhà thơ có nhiều điểm đồng điệu với quan điểm của Nguyễn Tiến Thanh về sáng tạo thơ ca, nhất là việc khẳng định “những bài thơ cụ thể nào đó không cứu rỗi được thế giới”, cho thấy sự gặp gỡ về khả năng và giới hạn của thi ca trong thời đại khủng hoảng giá trị. Tuy nhiên, nếu như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn thể hiện một niềm tin dai dẳng mãnh liệt đối với sức mạnh cứu rỗi của thơ đối với nhân loại thì nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, người sống cùng thời với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, lại co rút lại khả năng cứu rỗi của thơ vào cá nhân người viết, như tiêu đề cuốn sách mới nhất của ông chỉ ra “Thơ không cứu được ai, nhưng cứu người viết”. Và “cứu người viết” ở đây, trong quan niệm của Nguyễn Tiến Thanh là cứu cái phần người trước nguy cơ bị thế giới tiêu dùng và lối sống tốc độ nuốt mất. Thơ vì thế là một cơ chế để phòng hộ, là lá chắn giúp con người bảo vệ mình trước sự máy móc hóa và đơn giản hóa. Sở dĩ có quan điểm này bởi Nguyễn Tiến Thanh đã sống trong thế giới truyền thông nhiều thập kỉ, chứng kiến sự biến đổi của môi trường văn hóa Việt Nam, nhất là trong kỉ nguyên của mạng xã hội, nơi các sáng tạo bị tiêu chuẩn hóa, nơi cảm xúc bị giản lược. Chính những va đập đó đã khiến nhà thơ đề xuất một lối thơ nhằm cứu chuộc lấy nhân tính con người.

*

Tóm lại, nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh, bằng những trải nghiệm thơ ca bền bỉ của mình khi kinh qua quãng đường rất dài làm báo và sống trong thương trường chữ nghĩa, đã đưa ra một quan niệm thơ rất mới mẻ, đáng suy ngẫm trong xã hội đương đại hôm nay. Những quan niệm của ông trong bài tiểu luận Thơ không cần hồi đáp cho thấy, khi chúng ta để thơ trở về với chính bản chất cốt lõi của nó, khi dám lược bỏ những danh xưng mĩ miều, những mục đích cao quý mà thơ thường gán vào, đó là lúc ta thấy được những ý nghĩa to lớn của thơ đối với chính mình: thơ như là cứu rỗi nội tại, là cứu cánh tâm hồn, là sự bảo vệ phẩm tính người trước nguy cơ bị dẫn dắt bởi tốc độ và tiện nghi. Có thể nói, giữa một thế giới dễ khiến con người trở thành công cụ, tuyên ngôn Thơ không cần hồi đáp của Nguyễn Tiến Thanh không chỉ là một quan niệm nghệ thuật, mà còn là một thái độ sống: viết để giữ lại những mong manh của sự sống, để bảo vệ vẻ đẹp tối hậu của con người.

Tư liệu tham khảo:

[1] Nguyễn Tiến Thanh (2025): “Thơ không cần hồi đáp”, Tinh hoa Việt, số 1 (bộ mới), tr.22.

[2] Nguyễn Tiến Thanh (2025): “Thơ không cần hồi đáp”, Tinh hoa Việt, số 1 (bộ mới), Tr.23.

[3] https://vanvn.vn/tho-khong-can-hoi-dap/

[4] https://cand.com.vn/ly-luan/mot-cau-tho-mot-vet-xuoc-vao-thoi-dai-i773645/

[5] Tác phẩm mới số 3 năm 1993.

[6] https://congluan.vn/tuyen-ngon-van-hoc-dau-nam-thi-ca-co-the-cuu-roi-the-gioi-10005723.html?utm_source=chatgpt.com

Nguyễn Thị Kim Nhạn

Tin liên quan

Tin mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Rome Open 2026 (6-17/5, Foro Italico, Ý) diễn ra với những trận đấu đỉnh cao WTA 1000. Aryna Sabalenka, Iga Swiatek và Marta Kostyuk tạo nên tâm điểm, trong đó cuộc đua vô địch đơn nữ diễn ra đầy kịch tính đến phút cuối.

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

Kết quả thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Rome Open 2026 tại Foro Italico (6-17/5, Ý) diễn ra với cuộc đua khốc liệt giữa Jannik Sinner, Alexander Zverev và Carlos Alcaraz. Giải ATP 1000 trên sân đất nện dự kiến nhiều bất ngờ trong hành trình tranh ngôi vô địch.

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nữ Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Từ 6-17/5 tại Rome, Ý, giải WTA 1000 Rome Open 2026 quy tụ Aryna Sabalenka, Iga Swiatek và Coco Gauff. Trên sân Foro Italico, lịch thi đấu đơn nữ hứa hẹn căng thẳng khi các hạt giống hàng đầu chạm trán.

Lịch thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

Lịch thi đấu tennis đơn nam Rome Open 2026 mới nhất

(Tin thể thao, tin tennis) Diễn ra từ 6-17/5 tại Foro Italico (Rome, Ý), Rome Open 2026 ATP 1000 chứng kiến Jannik Sinner, Carlos Alcaraz và Novak Djokovic góp mặt, hứa hẹn lịch thi đấu đơn nam đầy kịch tính trên mặt sân đất nện đỉnh cao.