Trong quỹ đạo mùa xuân...
“Năm anh em trên một chiếc xe tăng” (Nhạc Doãn Nho, thơ Hữu Thỉnh) là một ca khúc thuộc về giai điệu tự hào, đi cùng năm tháng. Nếu ví von thì sẽ thấy nhà thơ Hữu Thỉnh đồng hành cùng các văn hữu đồng tuế tuổi Nhâm Ngọ (sinh 1942), đến nay mỗi vị bút lực vẫn dồi dào, danh tiếng vẫn đầy đặn.

Các văn nghệ sĩ tuổi Nhâm Ngọ (sinh 1942).
Nhà thơ Hữu Thỉnh - viết như “sức bền của đất”...
Sau khi nghỉ hưu, ai cũng nghĩ nhà thơ sẽ rửa tay gác kiếm. Nhưng không! Ông là con người của tư duy hành động và thực tiễn. Nhà thơ Hữu Thỉnh là ngòi bút đa năng, đa tài, đa tình từ thơ đến văn xuôi, lý luận phê bình, luôn luôn nỗ lực sống với văn chương cùng thời. Ông có cái tâm thế, tâm cảm tìm tòi nhiều sáng kiến để xây đắp ngôi đền văn chương nước nhà ngày càng đẹp đẽ, vững chãi.
Xin được dẫn ra mấy đầu việc trong số nhiều việc mà ông đã làm được trong nhiều nhiệm kỳ giữ chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam: xin đất, xin tiền, xin giấy phép xây dựng và vận hành Bảo tàng Văn học Việt Nam; tổ chức 5 cuộc thi tiểu thuyết kéo dài trong vòng 2 thập kỷ (1998-2019); tổ chức thành công gặp mặt và hội thảo cùng chủ đề có ý nghĩa chính trị - văn hóa trên tinh thần hòa giải, hòa hợp dân tộc “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc” (2017). Không ai khác, Hữu Thỉnh chính là kiến trúc sư của tờ báo Thời báo Văn học nghệ thuật trẻ chỉ mới 6 tuổi (2020-2026), song đã có những bước đi đầu tiên vững chãi và tự tin, hứa hẹn thành công…

Nhà thơ Hữu Thỉnh.
Hữu Thỉnh là một nghệ sĩ ngôn từ đích thực, từ trong máu huyết. Nhà thơ đã viết những câu thơ như là tuyên ngôn nghệ thuật của thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước “Không có sách chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình” (Đường tới thành phố). Bài thơ Sang thu được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 9, mang phong vị cổ điển. Bài thơ Phan Thiết có anh tôi được nhiều người yêu thích vì dạng thức “trữ tình chính trị” mới mẻ… Ở độ tuổi U90, Hữu Thỉnh vẫn hiện diện trên văn đàn với bút lực sung mãn khi ra mắt Giao hưởng Điện Biên (Trường ca, 2024), Ám ảnh chữ (Phê bình - tiểu luận, 2025). Trường ca Đường tới thành phố được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vinh danh trong số 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn tiêu biểu trong giai đoạn 1975-2025. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật; Huân chương Độc lập Hạng Nhì, năm 2022, nhà thơ vinh dự nhận hoàn toàn xứng đáng với tài năng và đóng góp của ông vào sự phát triển bền vững của văn học nghệ thuật nước nhà thời kỳ hiện đại.
Nhà thơ Hữu Thỉnh đúng như đánh giá của xã hội và văn giới là ngòi bút có sức bền của chữ nghĩa, như cách thi nhân đã biết cách “thương lượng với thời gian” để viết như “sức bền của đất”, từ đó có “lý do của hy vọng”.
Nhà văn Nguyễn Đắc Như - chẻ từng đốt trúc ngẫm sự đời...
Nếu số phận không đưa đẩy thì Nguyễn Đắc Như đã trở thành một doanh nhân thành đạt. Nhưng rồi ông theo ngả rẽ văn chương chữ nghĩa. Nguyễn Đắc Như là người tràn trề sức sống lý tưởng từ thời trai trẻ, nay ngoài 80 vẫn còn phong độ, vững như bàn thạch. Trong nghề văn, Nguyễn Đắc Như là cây bút có tinh thần đổi mới mạnh mẽ, dũng cảm và ưa thích phiêu lưu, mạo hiểm. Công thức “đi - đọc - viết” được nhà văn ứng dụng triệt và để có hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả, theo cách nói bây giờ. Vì thế, mảng du ký của nhà văn được nhiều tờ báo đăng tải, sau đều in thành sách bán chạy (best-seller) như Tây Âu du ký, Nam Mỹ ký sự, Góc bể chân trời, Ở đâu cũng có người Việt, Chàng Ximbat Việt kiều xứ Ba Tây, Đồng vọng mùa xuân, xem chừng hợp với sở đọc của độc giả hiện nay, nhất là lớp trẻ ưa xê dịch và có tâm thế “công dân toàn cầu”.

Nhà văn Nguyễn Đắc Như.
Nhưng một cây bút văn xuôi thực sự trưởng thành phải được thử thách nhờ viết tiểu thuyết. Tính đến 2025, Nguyễn Đắc Như đã xuất bản ba cuốn tiểu thuyết và đều “ăn giải” lớn nhỏ khác nhau. Đó là duyên văn, duyên tiểu thuyết. Không phải cứ cố gắng mà được. Nói vui thì “Trời cho ai người đó được”. Tuy vây, theo tôi, Đốt trúc (Giải Ba Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ tư, 2011-2015, của Hội Nhà văn Việt Nam) mới định hình vị thế và phong cách Nguyễn Đắc Như trên văn đàn đương đại Việt Nam. Câu chuyện về mối quan hệ của người trí thức với thời cuộc là muôn thuở. Ai đó cố công đi tìm nguyên mẫu để so sánh với nhân vật tiểu thuyết là không cần thiết vì “tiểu thuyết là một câu chuyện bịa y như thật”. Tiểu thuyết hiển hiện một vốn sống đầy đặn, một lối viết triết luận kín đáo nhuần nhuyễn với chất sống (chất đời), một thứ ngôn từ chọn lọc, giàu biểu cảm và có tốc độ, nhịp điệu nhanh mạnh phù hợp với sóng đời dào dạt thời hiện đại.
Mới đây, nhà văn gửi dự thi tiểu thuyết Tiếng chuông nhà thờ Cửa Bắc và đoạt Giải Ba (không có Giải Nhất) Cuộc thi sáng tác tiểu thuyết lần thứ nhất, giai đoạn 2023-2025 của Thời báo Văn học nghệ thuật. Tôi nghĩ, nhà văn đã, đang và sẽ viết về những “lịch sử tâm hồn thời đại” thông qua số phận những con người cụ thể thuộc mọi tầng lớp xã hội, theo tinh thần hướng tới “cộng sinh - chúng sinh - hiện sinh”. Đúng như nhà văn chia sẻ về nghề nghiệp “Viết văn là nghề kiến trúc tâm hồn, là công việc xây dựng và bồi đắp cho tâm hồn con người, mà ở đó người viết văn luôn đóng vai trò là người kiến trúc sư trưởng của tác phẩm riêng mình”.
Nhà văn Trần Nhương - sáng xuân này lối ngõ nở đầy hoa...
Về nhà văn họ Trần này thì, phải viết hẳn một cuốn sách kiểu chân dung như một “phiên bản văn nhân” mới đã. Đa tài thì rõ như dưới thanh thiên bạch nhật. Cầm kỳ thi họa đủ đầy, không thua em kém chị một phân.

Nhà văn Trần Nhương.
Thơ Trần Nhương hay, tất nhiên. Có thể nói, Vừa đủ là một thi phẩm được yêu thích hơn cả “Em vừa đủ để anh khao khát/ Vừa đủ làm cho anh thật là anh/ Trời chớm thu vừa đủ nét xanh/ Quả chua ấy cũng vừa đủ ngọt/ Em vừa đủ để qua thời non nớt/ Nét thục hiền vừa đủ nét đành hanh/ Trong vững bền vừa đủ sự mong manh/ Trong đằm thắm vừa đủ lòng nghi kỵ/ Em đàn bà vừa đủ men thi sĩ/ Em trang đài vừa đủ nét chân quê/ Thích cộng vào vừa đủ biết đem chia/ Lòng ngay thẳng vừa đủ mưa che đậy/ Em già dặn vừa đủ điều non bấy/ Em tươi vui vừa đủ nét ưu phiền/ Em lạnh lùng vừa đủ nét thôi miên/ Em gìn giữ vừa đủ lòng nổi loạn/ Anh khao khát với trái tim lãng mạn/ Mong suốt đời vừa đủ để yêu em”. Rồi từ đâu không rõ, hai chữ “vừa đủ” trở thành câu nói đầu cửa miệng mang tính thời đại của nhiều người.
Có một Trần Nhương viết văn gồ ghề, góc cạnh, trào tiếu hấp dẫn như tiểu thuyết đậm chất chương hồi Kim Kổ Kỳ Koặc Ký. Tôi gọi là “tiểu thuyết 5K”, phảng phất Tây du ký, Tam quốc chí, Truyền kỳ mạn lục... đầy tính chất “liêu trai chí dị”. Cuốn tiểu thuyết đặc tả sự hỗn mang của thời ngự trị các thứ phi lý, nhân danh, rối ren trong một cuộc can qua, bể dâu trên cõi ta bà.
Công chúng nghệ thuật lại cũng biết đến bàn tay cầm cọ của họa sĩ Trần Nhương. Có hai đối tượng vẽ là hoa (rực rỡ, tinh khiết) và phụ nữ (đắm đuối, phồn thực), lúc nào cũng bắt mắt. Công chúng yêu mến nhà văn gọi vui nhà văn họ Trần là “Trần ham vui”, “Trần đam mê”, “Trần lạc quan”. Vì sao? Vì với nhà văn thì “Chẳng có gì quan trọng” - cũng là nhan đề một bài thơ hay mà độc giả và nhà thơ đều yêu thích “Những cuốn sách một thời như sấm trạng/ Giờ bán cân bà đồng nát mua về/ Những quy phạm một thời như thước ngọc/ Thành vết hằn ghi dấu sự ngô nghê/ Dòng sông Đà hùng dũng nhường kia/ Giờ ngăn đập luồn qua cửa cống/ Biển Vùng Tàu cứ tưởng mình dài rộng/ Dàn khoan dầu biển hóa mảnh ao quê/ Người quan trọng một thời bao thuộc hạ/ Giờ vẩn vơ đợi khách chẳng ai thăm/ Em hoa hậu đẹp như nhành lửa ấm/ Bếp thời gian để lại chút than hoa/ Em của anh ơi chẳng có gì là quan trọng/ Đến tình yêu cũng có thể già/ Ta hãy sống vô tư như trẻ nhỏ/ Sáng xuân này lối ngõ nở đầy hoa”.
Nếu có ai đó nói, anh hãy chỉ viết một câu ngắn về nhà văn Trần Nhương, thì tôi sẽ viết “Trần Nhương viết mãi không cùng”!?
Nhà văn Lê Bá Thự - “người gọi hồn làng”...
Trong làng văn Việt Nam hiện đại số người vốn xuất thân làm nghề ngoại giao có “máu văn chương” không nhiều. Gần như đầu tiên thì có ông Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô (trước đây) là dịch giả tiếng Nga kiệt tác Số phận con người của đại văn hào Nga M. Sholokhov. Gần hơn thì có nhà văn Lê Bá Thự, Tạ Minh Châu đều học hành bài bản ở Ba Lan, từng là công chức làm việc ở Bộ Ngoại giao nhưng yêu văn chương. Nên đã trở thành các đại sứ văn hóa, nhà ngoại giao bằng văn chương. Nhìn ra thế giới thấy một trường hợp điển hình như nhà văn T. Aitmatov thời Liên Xô hùng cường.
Nhà văn Lê Bá Thự làm thơ, văn xuôi và dịch thuật các tác phẩm văn chương Ba Lan sang tiếng Việt (đã nhận Huân chương Công trạng Cộng hòa Ba Lan do Tổng thống Ba Lan trao tặng năm 2012, 2017 do công lao truyền bá văn hóa Ba Lan ra thế giới). Rõ ràng nhà văn - dịch giả Lê Bá Thự đã nổi tiếng trong làng dịch văn học với gần 30 tác phẩm dịch từ tiếng Ba Lan. Đồng nghiệp văn chương trìu mến gọi nhà văn là “Bác ong cần mẫn”, “Người tình” say đắm văn học Ba Lan”, “Nhịp cầu nối văn học Ba Lan - Việt Nam”,... Nhưng với tôi thì, nhà văn được yêu mến hơn cả nhờ vào tác phẩm Tôi và làng tôi (Hồi ức, 2018, tái bản 2019, 2020), nhận giải thưởng Văn học nghệ thuật Lê Thánh Tông của tỉnh Thanh Hóa.

Dịch giả Lê Bá Thự.
Tôi và làng tôi là cuộc trở về theo tinh thần cố hương của nhà văn, một cuộc trở về nguồn cội ngoạn mục bởi “Quê hương là chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày/ Quê hương nếu ai không nhớ/ Không thể lớn nổi thành người” (Đỗ Trung Quân). Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết giới thiệu cuốn sách này Nhà văn Lê Bá Thự người “gọi hồn” làng. Đọc hồi ức Tôi và làng tôi của Lê Bá Thự, chắc hẳn nhiều người trong chúng ta liên tưởng tới những thi phẩm Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, Bên kia sông Đuống của Hoàng cầm, Quê hương của Giang Nam, Những dòng sông của Bế Kiến Quốc, Sông Lam của Trần Mạnh Hảo, Mùa hoa cải bên sông của Nguyễn Quang Thiều,... Những tác phẩm như thế có khả năng bồi đắp tình cảm con người, tình yêu quê hương bản quán, cao hơn là tình yêu đất nước, tổ quốc.
Cứ cho như nay mai “làng” (một không gian tồn tại xét từ góc độ “địa - văn hóa”) không còn trên bản đồ hành chính nữa, thì ắt hẳn trong tâm thức cộng đồng nó vẫn còn trú ngụ nhờ nghệ thuật, điển hình như Tôi và làng tôi. Nó vẫn còn trong ký ức lương thiện của Nhân dân.
Nhà thơ Lê Hồng Thiện - người hồi xuân, thơ hồi xuân
Ai chỉ một lần gặp nhà thơ xứ nhãn, sẽ có ngay cảm tình về một con người hồ hởi, phóng khoáng, có nét phiêu lưu, giang hồ lữ thứ. Nay nhà thơ thuộc đội hình U90, nhưng vẫn minh mẫn, năng hoạt, thích xê dịch. Nụ cười tươi tắn trẻ trung thường trực trên gương mặt khả ái, hiền hậu, tin cậy ánh phản một tâm hồn chân phương, chân thành, giản dị, thiện lành.
Gia đình nhà thơ có đến ba hội viên Hội Nhà văn Việt Nam: Hai bố con Lê Hồng Thiện và kiều nữ Lê Hồng Nguyên, cùng con rể là nhà báo, nhà văn, Thiếu tướng Phạm Khải, nguyên Tổng biên tập báo Công an nhân dân. Người ta thường gọi Lê Hồng Thiện là nhà thơ thiếu nhi (chuyên viết cho thiếu nhi). Nghiệp thơ của ông thật hanh thông, thành công.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện.
Đến 2025, nhà thơ đã xuất bản 14 tập thơ viết cho thiếu nhi và một số thi phẩm hay khác như Mẹ và Em, Tóc dài ơi, Thơ viết cho một người; chưa tính đến một số sách dạng Chuyện làng văn, làng báo, hay Chế Lan Viên trong tôi (tiểu luận chân dung). Trong một bài viết cách nay 8 năm nhan đề Quả trăng cũng chín trong thơ Lê Hồng Thiện, tôi đã không sợ thiên vị hay quá lời khi viết “Thơ Lê Hồng Thiện trong veo tiếng Việt”. Tôi gọi cảm xúc làm thơ của nhà thơ xứ nhãn tương tự cảm xúc của những “mục đồng”, sống trên nền xanh sạch của ruộng đồng ngút mắt nhìn hay bình nguyên, thảo nguyên bao la tận chân trời.
Đừng nói Lê Hồng Thiện là nhà thơ thiếu nhi chỉ viết cho trẻ nhỏ đáng yêu đáng quý vì “Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”. Nếu ai đọc thơ trong những tập Tóc dài ơi, Mẹ và Em, Thơ viết cho một người, sẽ thấy Lê Hồng Thiện là nhà thơ tình chính hiệu số một trong đội hình U90. Cũng có thể là “tình già”. Song thực tình ở đây là “tình trẻ”, không đơn giản là tình của người trẻ mà là sức sống trẻ tươi của tình yêu tạo nên những mùa xuân vĩnh cửu, theo lối “người hồi xuân, thơ hồi xuân”. Rõ ràng nhà thơ Lê Hồng Thiện có sở trường về thơ lục bát (một nhà nghiên cứu đã chỉ ra có đến tám mươi phần trăm trong số hàng trăm bài thơ của ông được viết theo thể lục bát). Có thể chỉ ra tổng quát ba đặc điểm thơ Lê Hồng Thiện: lối viết duy tình, thể thơ lục bát, ngôn ngữ thơ thuần Việt.
Nhà ở Hưng Yên nhưng người ta thấy thi sĩ có mái tóc bạc rất đẹp thường xuyên hiện diện ở Thủ đô trong các sự kiện văn học quan trọng. Mỗi lần gặp thi sĩ ở Hà Nội, tôi lại thấy ông cười tươi và ngân nga câu thơ “Cứ đi, cứ đi, trời xanh thêm” và liền sau là những câu thơ tự họa chân dung mình “Tôi gom hương đất gió trời/ Trồng cây chữ nghĩa trọn đời với thơ/ Xế chiều vẫn mộng, vẫn mơ/ Bình minh lan tỏa “Thơ cho một người”.

Văn học không phải là sự sao chép giản đơn hiện thực, mà là kết quả của một quá trình chắt lọc, tái hiện thực tế...
Bình luận