Bên nồi bánh chưng ngày Tết (tùy bút)
…Nhưng cũng phải cảm ơn bếp lửa hồng của nồi bánh chưng xanh ngày Tết - nhờ đó, mạch nguồn tình thân, tình anh em dòng họ, kể cả tình nghĩa xóm giềng, khối phố… được thắp lên, nối lại, sẻ chia thông qua việc gói, nấu đến việc mời nhau thưởng thức cái hương vị đặc trưng, không chỉ đọng lại trong tâm tưởng mà còn theo ta suốt cuộc đời!
Đã “sang bên kia cái dốc của đời” - nói như nhà văn Nam Cao, tôi bỗng giật mình thảng thốt vì không “nhận” ra mình khi tóc phần bạc nhiều hơn, trên đỉnh đầu hói trơ trọi, lãng đãng hay quên; chân đi không còn phăm phăm chắc nịch và bàn tay trở nên lóng ngóng hơn khiến nét chữ của người làm nghề viết lách kiết xác như tôi trở nên vụng về, nguệch ngoạc. Đó là quy luật của tuổi tác. Không ai trên cuộc đời này tránh được. Buồn cho sức khỏe xuống cấp, nhưng còn chông chênh hơn khi nghĩ về cha mẹ đã đi xa, để lại cả khoảng trống không gì bù đắp, thay thế được. Cuối cùng, tôi và chúng ta - những người cùng cảnh ngộ đều phải chấp nhận sự thật và quy luật đó. Bởi mọi thứ trên đời dù thiêng liêng quý giá và tươi đẹp đến đâu, cũng thành quá khứ, thành chuyện của “hôm qua” mất rồi. Thế nhưng kỳ lạ thay, ký ức về những ngày cuối năm lo toan bận rộn, về Tết xưa như một miền nhớ thương thăm thẳm lại ào ạt xô về. Một trong những ký ức đẹp về “bức tranh xuân” toàn cảnh đó là tôi sống lại trong tình thân, sự ấm áp bên bếp lửa hồng của nồi bánh chưng xanh ngày Tết.
…Khi còn là một cậu bé con khoảng 4-5 tuổi, tôi lon ton, ngơ ngác cùng cả nhà quây quần chuẩn bị gói bánh chưng, thường vào ngày 28 hoặc 29 Tết. Nơi góc sân mỗi người một “công đoạn”. Người lau lá dong, rửa lá chít sau khi đã luộc kỹ, người chẻ lạt, nối các đoạn dây dứa đã phơi khô để buộc, cuốn bánh cho chặt. Mẹ tôi là “tổng chỉ huy”, vừa trực tiếp gói bánh, vừa hướng dẫn “truyền nghề” cho chị dâu, chị gái tôi. Anh trai tôi sức vóc có thừa đương nhiên khuân củi, kê gạch ở thế “chéo mỏ kiềng”; múc nước từ giếng khơi đổ vào nồi to bằng đồng để chuẩn bị nổi lửa luộc bánh. Vĩnh Phú cũ quê tôi (giờ là Phú Thọ mới) bao đời nay vẫn duy trì gói hai loại bánh chưng: bánh chưng tày, khối trụ tròn, dài khoảng 30cm và bánh chưng vuông, phổ biến như mọi vùng miền khác.

Ảnh minh họa
Từ bàn tay khéo léo, thoăn thoắt của mẹ tôi đến bàn tay vụng về “học việc” của chị dâu, chị gái tôi, những chiếc bánh chưng tày, bánh chưng vuông cũng được gói xong. Mẹ tôi không quên dành những phần gạo cuối cùng để gói thêm hai chiếc bánh chưng con buộc cả dây quàng để khi bánh chín, tôi sẽ đeo như “khẩu súng” vậy. Cả một nia bánh chưng gồm hai loại bánh đó được mẹ xếp ngay ngắn, vuông vức với một màu xanh đến mát mắt: màu xanh của ấm no, khao khát trong những ngày Tết khi đất nước còn khốn khó. Tôi gọi đó là Hạnh phúc xanh! Và như thế, gói bánh chưng - với gia đình tôi và bao mái nhà khác ở vùng quê trung du Bắc Bộ, đó là một phong tục đẹp, là nếp văn hóa, là món ăn tinh thần quý giá được truyền lại như ngọn lửa nồi bánh chưng trong ngày giáp Tết.
Thế rồi “công đoạn” luộc bánh bắt đầu. Nồi bánh chưng đỏ lửa dần, sôi lên xình xịch. Mùi là dong, lá chít quện với mùi gạo nếp, hòa vào hương vị của nhân đậu xanh kẹp thịt lợn ba chỉ ướp mắm muối, hạt tiêu tạo nên cái mùi hết sức đặc trưng. Tôi gọi đó là Mùi Tết! Một nồi bánh chưng trung bình mỗi nhà dùng khoảng 10kg gạo nếp chia cho hai loại bánh sau khi “cân đối” ăn, lễ Tết hai bên nội ngoại hoặc làm quà. Thời gian luộc bánh liên tục từ 7-8 tiếng đồng hồ thì bánh mới chín, rền. Trong khi luộc người ta chú ý luôn tiếp nước cho ngập bánh, đun thêm củi sao cho đảm bảo nhiệt độ.
Bên ngọn lửa hồng, xung quanh nồi bánh chưng gồm các thành viên của mỗi gia đình là một câu chuyện, dù lan man tản mạn, song quy tụ vẫn là chủ đề Tết. Nhà thì ôn lại những kỷ niệm của Tết xưa; nhà thì có ông bố cao hứng “tổng kết năm”, rằng năm qua làm được những gì, thu hoạch mùa màng, chăn nuôi ra sao, “phương hướng nhiệm vụ năm tới” thế nào; Có nhà “bập” vào luôn kế hoạch ngày mai mổ lợn, ăn đụng chia phần với những ai; ống nứa tươi để chọc tiết lợn có chưa; các xiên nướng thịt bằng tre tươi được vót chưa? Có phải khi thiếu đói thời đó, “văn hóa ẩm thực” được đặt lên hàng đầu? Nhưng cũng phải cảm ơn bếp lửa hồng - nhờ đó, mạch nguồn tình thân, tình anh em dòng họ, kể cả tình nghĩa xóm giềng, khối phố… được thắp lên, nối lại, sẻ chia thông qua việc gói, nấu đến việc mời nhau thưởng thức cái hương vị đặc trưng, không chỉ đọng lại trong tâm tưởng mà còn theo ta suốt cuộc đời!
Qua thuở thiếu thời, việc phụ giúp mẹ và gia đình làm bánh chưng đối với tôi có vẻ nặng nề hơn. Đặc biệt đến thời trai tráng, cách Tết khoảng một tháng, tôi theo lũ trai làng lên rừng cách xa nhà đến hơn chục cây số đốn củi, thồ bằng xe đạp về bổ những khúc gỗ to thành những thanh nhỏ xếp 4 cạnh “chồng tang giếng” cho mau khô để kịp thời nấu cỗ những ngày Tết, trong đó lượng củi tiêu thụ rất lớn cho nồi bánh chưng xanh. Ngoài 20 tuổi, tôi dời xa vùng quê Trung du Đất Tổ về chốn thị thành học tập và bắt đầu quãng đường công tác. Bởi thế, bên nồi bánh chưng ở chốn quê nhà có phần gián đoạn. Đổi lại bước chân nghề làm báo của tôi in dấu khắp các vùng miền đất nước, đã chứng kiến và cảm nhận không khí gói bánh và luộc bánh chưng ở đâu cũng tấp nập và hối hả, từ những vệt khói lam chiều âm ỉ bên những mái tranh nghèo hay một góc nơi phố thị nhộn nhịp, xôn xao.
Trong đời biết bao lần bên nồi bánh chưng ở chốn quê nhà hay nơi này nơi khác, nhưng ấn tượng nhất với tôi là bên những nồi bánh chưng ở ngoại thành Hà Nội mà tôi thuê nhà, ở trọ. Tôi bỗng nhớ nhà văn Văn Chinh nói trên báo chí và cả ngoài đời, ông có đến 10 năm thuê nhà, chuyển nhà “như mèo chuyển con” để sinh sống, làm báo viết văn. Tích cóp và vay mượn mãi mới mua được chỗ “chui ra chui vào” dạng nhà ở cho người thu nhập thấp bên quận Long Biên. Tôi cũng có hơn gì. Ba năm ở trọ cùng nhà thơ Vũ Hùng (quê Ninh Bình) trong một gian xập xệ tại ngõ nhỏ phố Trần Khát Chân. Ông “đi bước nữa” lấy được vợ trẻ đẹp là Nghệ nhân Ưu tú, biết làm thơ, ra sách do ông kèm cặp và đặc biệt là xây được nhà khang trang tại ngõ nhỏ thuộc đường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai. Ôi, thế mới là đời.
Tôi thì vạ vật, phiêu bạt, cuối cùng cũng dạt về phường Xuân Đỉnh (quận Bắc Từ Liêm) tá túc trong căn phòng 10m2 chật chội ẩm thấp, sách báo có thể ụp xuống làm bươu đầu, sứt trán bất cứ lúc nào. Lão chủ nhà có tên Nguyễn Xuân Cảnh, sinh năm 1964, nhỏ thó, tóc quăn, mắt lồi, răng vàng khè do nghiện rượu và thuốc lào, nghiện cả tổ tôm, ba cây, xóc đĩa. Trong 5 năm ở trọ, có đến 4 năm vào ngày cận Tết tôi phụ giúp vợ chồng lão làm và nấu bánh chưng. Vợ lão tên Phúc, to béo, da trắng, đôi bàn tay chai sạn vì lao động, giọng lóe chóe, thật thà tốt tính, không tai quái như dân “Hà Nội nửa mùa”. Lão Cảnh tuy cũ người luộm thuộm, hay cờ bạc (đánh dành cho bữa rượu hoặc ăn sáng, nếu thắng) nhưng rất khéo tay khi làm bánh hoặc chế biến các món ăn. Những chiếc bánh chưng vuông lão gói không cần khuôn gỗ, đều vuông vức, chành chạnh. Chuẩn bị củi cho luộc bánh, lão đã tha đầy những giàn giáo bằng tre, gỗ, cột chống, cốp pha, xà gồ đã qua sử dụng hoặc những, gốc, rễ cây khô. Bên bếp lửa hồng nồi bánh chưng nghi ngút khói, lão trải chiếc chiếu manh, một chai “quốc lủi” cùng một ít đồ nhắm. Tôi cùng lão nhâm nhi, khề khà, cũng lan man bao chuyện về Tết, về giá đào, quất có lên không khi trong năm luôn mưa bão và ngập úng? Vì mệt quá, lại có tí men vào, lão há mồm ngáy vang như sấm lúc nào không biết. Vợ lão biết có hai “bợm nhậu” nên thây kệ, ngủ sớm. Vậy là tôi vừa đọc báo xuân, vừa đun thêm củi, tiếp thêm nước vào nồi bánh đến thâu đêm, suốt sáng. Tôi không thấy mệt vì vui. Vì thấy như ở nhà mình. Buồn thương cho lão và gia đình lão, trước thềm dịch bệnh Covid- 19, mùa thu năm 2019, lão vĩnh viễn giã từ những nồi bánh chưng xanh, giã từ lễ cúng ông Công, ông Táo và đêm giao thừa, do bị ung thư gan âm ỉ mấy năm trời. Phúng viếng lão và chụp ảnh đám tang, tôi không khóc mà có gì cay cay nơi khóe mắt. Vì chưa cấm giãn cách dịch bệnh nên đám tang đưa tiễn lão rất đông. Bà con dân phố phường Xuân Đỉnh bùi ngùi, tấm tắc “Ông Cảnh tuy xấu số ngắn phận thật; nhưng có nhà báo quay phim chụp hình lưu lại cho con cháu, cũng chẳng thiêng liêng, trang trọng và chẳng sướng sao”?
***
Những ngày Tết, khi thưởng thức những món ăn đậm đà hồn Việt đầy hương vị Tết, mỗi mâm cỗ gia đình không thể thiếu bánh chưng xanh. Ăn lát bánh chưng, ta như thấy dáng hình mẹ ta, chị ta và bao người nông dân một nắng hai sương làm nên “hạt gạo làng ta” như thơ Trần Đăng Khoa phổ nhạc. Ta lại thấy bóng hoàng tử Lang Liêu bước ra từ trang truyền thuyết đời Hùng Vương thứ sáu, dâng thứ bánh độc đáo tượng trưng cho Trời tròn, Đất vuông lên nhà vua để được vua truyền cho ngôi báu. Từ đó, mỗi khi Tết đến, nhà nhà, muôn dân đều làm bánh chưng, bánh dầy dâng cúng Trời Đất, tổ tiên. Và nghe đâu đây âm hưởng thơ của Bằng Việt vọng về, dặt dìu, xác tín:
“Trời đất vuông tròn như bánh dầy, bánh chưng
Thế giới mỡ màu, đậm đà như nhân đỗ…
Bà tôi thì thích việc đời có hậu
Suốt đời muốn tôi tin chuyện Lang Liêu”!

Tiếng hát chèo mượt mà vang lên từ phía chùa làng, sao mà nồng nàn da diết đến vậy. Lời bài hát như xoáy vào lòng ông...
Bình luận