“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động

Đọc hết “Trường ca Hải Phòng” của nhà thơ Nguyễn Hữu Quang, chúng ta có thể còn mong muốn cầu toàn hơn đôi điều (về dung lượng, về câu chữ cùng các chi tiết…), để nó thực sự mang tầm khái quát cao, có sức vang vọng sâu xa hơn, với tư thế một tráng khúc lịch sử có tầm vóc hoành tráng; nhưng dẫu sao, với quy mô như nó hiện có, chúng ta cũng có thể nhận thấy ngay, là tác giả đã rất tâm huyết và dụng công, tạo nên một trường ca 9 chương liền mạch, mạnh mẽ trong mạch thơ, hào hùng trong chất thơ và bước đầu hình thành rõ nét một không khí sử thi tuôn chảy, sôi động, tràn ngập niềm tự hào về quê hương.

Chỉ với hai câu đề từ: “An Biên có tự thuở nào / An Biên ai đặt tên làng An Biên”, và “Hải Tần phòng thủ quê hương / Đất An Biên thấm máu xương đời đời” ở chương “Bám đất giữ làng”, tác giả đã đưa chúng ta về với lịch sử xa xưa, hình thành nên vùng đất địa linh nhân kiệt này. “An Biên” vốn là tên mảnh làng cổ, do nữ tướng Lê Chân khai phá và lập nên từ những năm đầu Công nguyên, khi bà tập hợp quân sĩ chiến đấu chống quân Đông Hán, dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Ngày nay, ở quận Lê Chân vẫn còn di tích đình An Biên, đời đời hương khói, ghi nhớ vị anh hùng cứu nước từ thuở ngàn năm Bắc thuộc của Hải Phòng.

Còn “Hải Tần phòng thủ” chính là tên một trấn, ban sơ là tiền thân của Hải Phòng. Thực ra, tên thương cảng đầu tiên trong lịch sử Hải Phòng lại là Đò Mè, người Pháp phiên âm là Domea, ở cửa sông thuộc Tiên Lãng, gần Đồ Sơn. Nhà hàng hải người Anh là William Dampier (thế kỷ XVII) đã từng nhắc đến tên cảng này trong cuốn “Du hành và khám phá” (1688), như một cảng biển nổi tiếng của xứ Tunquin (Đàng Ngoài). Trong một cuốn sách khác “Lịch sử Đàng Ngoài” mà William Damper viết chung với tu sĩ Richard (Paris, 1775), cũng mô tả chi tiết về cảng Domea như sau: “Cảng này cách cửa sông 5,6 hải lý, là một cảng nước sâu cho thuyền bè thả neo, ra vào buôn bán”. “Người Hà Lan và người Anh đã từng lập thương điếm ở đây”.

Trong bản đồ các cảng châu Á của Johann Mattheus Hase in ở Nuremberg (Đức) năm 1774, cũng có ghi tên cảng Đò Mè (Domea) là một cảng biển quan trọng của xứ Đàng Ngoài, từ đó có thể đi lên Phố Hiến và Kẻ Chợ. Đến năm 1871-1873, Bùi Viện, được Doanh điền sứ Doãn Khuê tiến cử với vua Tự Đức, đã được phép dựng nên ở khu vực này Thương cảng Ninh Hải ở cửa sông Cấm và một căn cứ phòng ngự liền với cảng Ninh Hải, gọi chung là “Hải Tần phòng thủ”, hoặc “Hải Phòng sứ”.

Bùi Viện (1839-1878) đỗ cử nhân năm 1868, rất ham thích các việc khẩn hoang và mở mang cảng biển, đã xin với vua Tự Đức cho lập ra “Thương điếm” đầu tiên ở Hải Phòng và được cử giữ chức Thương chánh Tham biện của Triều đình. Sau này, ông cũng là người đã tìm đường sang tận Mỹ, mang quốc thư của vua Tự Đức, cầu người tiến cử để được đến gặp Tổng thống Mỹ thời đó là Ulisse Grant, và xin được Mỹ viện trợ để kiềm chế thực dân Pháp và khôi phục nền độc lập. Tuy nhiên việc ấy không thành, vì Pháp và Mỹ đang giao hảo tốt đẹp, nên Mỹ không thể giúp Việt Nam mà để mất lòng Pháp, chỉ đồng ý mở rộng giao thương qua các thương cảng của Đàng Ngoài.

“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động - 1

“Trường ca Hải Phòng” của Nguyễn Hữu Quang

Tác giả Nguyễn Hữu Quang đã đưa được vào chương “Mở đất” những câu thơ gắn liền với tên đất, tên núi,... quen thuộc của Hải Phòng, những địa danh thân thương và chan chứa tự hào:“Sức người bền chặt tài tình / Quai đê lấn biển, khai sinh cội nguồn / Từ Kiến An, Thủy Nguyên xuống núi / Những cánh đồng tiếp nối sinh sôi / Tràng Kênh, Phù Liễn, Núi Voi / Từ hang đá đã cho đời đơm hoa…”.

Quê hương tươi đẹp như vậy, nhưng từ bao đời, quân giặc xâm lăng đâu có để chúng ta yên. Sau quân Đông Hán, lại đến quân Nam Hán, một lần nữa âm mưu đô hộ dân ta, ngay khi Ngô Quyền vừa giành lại quyền tự chủ. Nhưng chúng đã phải tan xác dưới lòng sông Bạch Đằng đầy cọc nhọn: “Chiến trường là một bãi chông / Chờ quân Nam Hán đùng đùng kéo sang / Cậy thế mạnh, giặc nghênh ngang đến / Lướt biển Đông, thẳng tiến xâm lăng / Thuyền ta dụ địch giữa dòng / Lừa thuyền địch đến bãi chông đang chờ!”.

Nhưng chưa hết, ba thế kỷ sau, giặc Nguyên Mông vẫn “ngựa quen đường cũ”, để lại bị phơi thây ở sông Bạch Đằng: “Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã / Thây giặc chết chất cao như núi / Xác giặc trôi chật cả dòng sông!...”. Lịch sử quả đã dành cho con sông Bạch Đằng của Hải Phòng một vị thế độc đáo, vô tiền khoáng hậu!

Hải Phòng được chính thức thành lập năm 1888, đúng 30 năm sau khi thực dân Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta (1858). Vừa thành lập, Hải Phòng đã chịu cảnh trở thành một nhượng địa của Pháp. Tuy nhiên, phong trào kháng Pháp chưa bao giờ ngừng ở đây:“Căm hờn ngút tận trời xanh / Đỏ trời phượng cháy trở thành lửa tan / Kim Sơn, Tiên Lãng chống càn / Kẻ thù khiếp đảm, dân càng hăng say / Nhà Hát Lớn, trận đánh hay / Của Thần Thành Ngọ, để đời noi gương!...”.

“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động - 2

 Bưu điện Hải Phòng. Ảnh: Nhiếp ảnh gia Hai LeCao 

Tác giả cũng không quên miêu tả một giai đoạn đau thương, Nhật hất cẳng Pháp, bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, dẫn đến nạn chết đói khủng khiếp hơn 2 triệu người năm 1945: “Bọn phát xít thay thế thực dân / Như lũ quỷ thay bầy lang sói / Bắt dân nhổ lúa trồng đay / Thóc chúng thu hết, thu đầy trong kho...”.” Thân còm xác, da bọc xương / Hàng triệu người chết đầy đường, xót đau!”.

Nhưng dân ta đã vùng lên mạnh mẽ, làm cuộc Cách mạng Tháng Tám oai hùng, tiếp đó làm cuộc Kháng chiến 9 năm oanh liệt, để kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ để đời. Cùng cả miền Bắc, Hải Phòng đã được giải phóng, tiến vào thời kỳ khôi phục kinh tế và xây dựng xã hội mới: “Những tên thực dân lấm la lấm lét / Những tên thực dân bơ phờ bạc nhược / Những tên thực dân gằm mặt cúi đầu / Xuống tàu há mồm, trở về Pháp quốc!”. Và :“Đất Cảng, mười ba thángNăm / Hoàn toàn giải phóng, mốc son sử vàng /, “Hải Phòng hoàn toàn tự do / Cả biển người vỡ òa sung sướng!”,“Cả thành phố đón làn gió mới / dựng xây trên đổ nát, hoang tàn / Nhà máy xi măng, Nhà máy đóng tàu / Những cầu cảng, kho tàng, bến bãi / Tất cả đều dần được khôi phục lại”. Và một khí thế mới được tự giác hình thành: “Mọi người làm ngày, làm đêm / Làm cho mình, làm cho đất nước / Gian nan chẳng quản, khó khăn chẳng lùi / Hải Phòng hồi sinh từng giờ từng phút!...”. Câu thơ của tác giả cũng như đang háo hức cùng khí thế mới ấy.

Nhưng rồi sau Hiệp nghị Giơnevơ, Tổng tuyển cử vẫn không đến. Đáp lại sự tráo trở của kẻ địch và âm mưu chiếm đóng, can thiệp lâu dài vào miền Nam của giặc Mỹ, Bác Hồ phải ra lời hiệu triệu lịch sử: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!”. Và Hải Phòng, lại làm trọn nghĩa vụ cao cả của một vùng đất,vừa là hậu phương vừa là tiền tuyến, trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ: “Cả Hải Phòng bừng bừng khí thế / Thóc không thiếu một cân / Quân không thiếu một người / Đường bộ, đường sông, đường thủy / Mọi con đường đều hướng ra tiền tuyến!”. Và Hải Phòng cũng còn là một căn cứ của Đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên biển nữa: “Không dừng lại, mở tiếp đường ra biển / Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển / Một con đường huyền thoại / Một con đường chỉ có ở Việt Nam!… “Những chuyến tàu nối tiếp chuyến tàu / Bến không số, tiễn tàu không số… !”

Ngày 5-8-1964, bắt đầu cuộc Chiến tranh phá hoại của Không quân và Hải quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam. Hải Phòng chính là nơi có chiến công đầu tiên: “Tàu sống sót bay về mẫu hạm / Ba trọng thương với tám tử thương / Một phi công Mỹ đầu hàng / Quân ta thử lửa vẻ vang trận đầu!”. Ai cũng còn nhớ phi công bị bắt năm đó là Alvares, đã trở thành phi công ngồi tù ở Bắc Việt Nam lâu nhất trong Không quân Mỹ, và chỉ được trao trả năm 1973, gần 10 năm sau đó.

Chiến tranh là vô cùng khốc liệt. Bên cạnh những dòng hân hoan viết về chiến thắng, ngòi bút trung thực của tác giả không thể không chùng lại, khi nói về những mất mát đau thương: “Đau thương mất mát không kể xiết / Lớp lớp người đi không trở lại / Chiến tranh tàn khốc lạnh lùng / Biết bao người vợ tiễn chồng ra đi / Hẹn em, thắng Mỹ anh về / Tháng năm vò võ đợi chờ ngóng trông”. Và cả các em nhỏ cũng phải chịu đựng đầy dũng cảm:“ Trẻ đội mũ rơm đến trường / Buổi học nửa chừng, bom Mỹ phá tan, / Căm hờn chồng chất tầng tầng / Máu tươi nhuộm đỏ lên trang giấy đời!”.

…Qua biết bao hy sinh, thử thách, đến ngày 30-4-1975, niềm vui trọn vẹn đã đến cùng toàn dân tộc, như một giấc mơ: “Ba mươi tháng Tư, niềm vui trọn vẹn / Cả Hải Phòng vỡ òa sung sướng! / Người nhảy múa, hát ca / Người ôm nhau, người gào lên sung sướng! / Niềm vui lan ra cỏ cây / Niềm vui lan ra đất trời… / Niềm vui trào dâng ánh mắt nụ cười / Hòa bình, độc lập, tự do / Không phải trong mơ, giờ đây là thật!”. Và Hải Phòng đã được mau chóng nối liền với Thành phố Hồ Chí Minh một cách trực quan, thân thiết không ngờ: “Từ Bắc vô Nam, nối liền nắm tay / Tàu Thống Nhất, từ bến cảng Hải Phòng / Vượt biển, cập bến cảng Nhà Rồng / Nối liền hai miền thành một dải!”.

Đất nước thống nhất, tưởng chỉ tiếp đến những ngày vui trong lao động dựng xây. Nhưng bọn giặc bành trướng phương Bắc lại làm chúng ta thêm một lần gian nan vất vả: “Tháng Hai, bảy chín, vào Xuân / Phía Bắc, bành trướng lại tràn sang ta !”;“Biển người ào ạt xông vô / Hải Phòng tất cả người Hoa rút về / Chiến tranh phía trước đang chờ / Sáu tỉnh biên giới từng giờ lâm nguy!”. Nhân dân và  chiến sĩ Hải Phòng, sát cánh với quân và dân cả nước, lại lập nên kỳ tích mới: “Còn đó, truyền thống cha ông / Hán, Minh, Thanh trước, Nguyên - Mông đã từng!.../ Như đụng phải bức tường đồng / Giặc bành trướng chết, sang không lối về! Bài học xâm lược u mê! / Dạy ai, ai dạy? Thử về ngẫm xem!”. Tác giả đã đay lại lời quân địch bành trướng, khi chúng tuyên bố muốn dạy cho chúng ta một bài học. Kết cục, ai đã dạy cho ai bài học gì, đã được chứng tỏ ngay trên thực địa!

Đánh giặc xong, nhân dân Hải Phòng trở lại gây dựng cuộc đời mới, bước vào công cuộc Đổi Mới và Hội nhập. Một trong các nhiệm vụ rất cấp thiết là phải vun đắp và nâng cao các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tác giả đã dành những dòng thơ vừa trân trọng vừa cụ thể để nói về các vật phẩm, các giá trị đặc sản truyền thống của vùng quê mình: “…Cau Thủy Nguyên, trầu đỏ môi / Cùng hoa Hạ Lũng, kết đôi duyên tình / Chè Chi Mai thơm mát lành / Cam Gia Luận ngọt lòng mình, lòng ta / Tu hài, đặc sản Cát Bà / Mắm Cát Hải, vị đậm đà thơm ngon!/ Cua thịt gạch chắc Đồ Sơn / Bánh đa cua, có đâu hơn Hải Phòng!...”

Đúng là mới điểm xuyết thôi, mà ta đã thấy Hải Phòng thật giàu có và phong phú với vô vàn các sản vật truyền thống. Ấy là tác giả chưa kịp liệt kê hết những làng nghề nổi tiếng của Hải Phòng, như: Làng chiếu cói Lật Dương, làng hoa Mông Thương, làng mây tre Chính Mỹ, Tiên Cầm, làng tạc tượng Bảo Hà, làng đúc Mỹ Đồng, làng Múa Rối nước Nhân Mục, Nhân Hòa, v,v… Không muốn kéo dài hơi thơ kể lể thêm, nhà thơ  đã chấp nhận gói gọn lại trong mấy câu ngắn gọn, mang tính tổng hợp: “Những làng nghề cũng được hình thành / Những lò rèn ngày đêm đỏ lửa …/ Trai khỏe lấy gỗ đóng thuyền,/ Khai hoang, lấn biển ngày đêm chuyên cần / Trồng dâu, dệt lụa, ươm tằm / Thêu thùa, may vá, gái chăm luyện rèn!...”. Vẫn duy trì và phát triển ngành nghề truyền thống, nhưng Hải Phòng không đứng yên, mà luôn học hỏi trau dồi tay nghề, đổi mới công nghệ.

“Trường ca Hải Phòng” với không khí sử thi sôi động - 3

Hoàng hôn trên bến cảng. Ảnh minh họa

Đất nước ta có tới trên hai ngàn cây số bờ biển, nhân dân ta mà đặc biệt là dân chài lưới, dân đi biển… từng gắn liền với môi trường kinh tế biển lâu đời, biết khai thác các thế mạnh của biển; nên càng luôn muốn mở rộng cơ hội vươn ra biển, làm sao để đất nước ta phải trở thành một quốc gia biển, thậm chí một cường quốc biển, đó là mơ ước bao đời của dân tộc ta! Con người Hải Phòng, cùng với vị thế và tâm niệm của mình, cũng sẵn sàng muốn đi đầu trong khát vọng chính đáng ấy. Tác giả đã phác họa ra một biểu tượng đẹp: “Thành phố của những cây cầu / Thành phố của những khởi đầu vươn xa”, để rồi tiếp đó, phát biểu trực diện, nói rõ lên khát vọng sâu xa của mỗi người Hải Phòng: “Phát huy truyền thống ông cha / Vươn ra biển lớn, để mà mở mang!...”Và nhà thơ minh hoạ thêm: “Đình Vũ, Lạch Huyện đổi đời / Cầu vượt ra đảo, nối dài không gian / Cát Bà, thành lũy vững bền / Lá chắn thép, tạo dựng nên cơ đồ!”, rồi kết thúc bằng một biểu tượng: “Đất nước hình tựa Con Rồng / Hải Phòng châu ngọc, miệng rồng tuôn ra… / Vươn ra, biển lớn vươn xa / Đó là ý chí, đó là niềm tin!”.

Phải ghi nhận, dù với một dung lượng còn khá khiêm tốn, mà tác giả Nguyễn Hữu Quang đã đề cập được đến hầu hết những vấn đề cốt lõi của lịch sử dựng nước và giữ nước của Hải Phòng, mở rộng ra các vấn đề về tâm linh, các giá trị tinh thần, giá trị văn hóa, học thuật của quê hương mình, mặt khác, nhà thơ cũng không quên phác họa một cách cụ thể, sinh động tâm thế của con người trong bối cảnh của đời sống kinh tế -xã hội Hải Phòng qua nhiều năm tháng đáng nhớ. Chia sẻ cùng tác giả, mỗi chúng ta càng thấy yêu mến và tự hào hơn về Hải Phòng, tin tưởng hơn vào sự trưởng thành mạnh mẽ và vững bền, sự phát triển tươi sáng và phồn vinh của vùng đất địa linh nhân kiệt này, mà mỗi người dân từng đã xây dựng, vun đắp nên nó đều rất xứng đáng được hưởng.

Chúng ta cũng thành tâm chúc mừng tác giả Nguyễn Hữu Quang đã nỗ lực tạo dựng được nhiều câu thơ, đoạn thơ khỏe khoắn, hào hùng. Ở những câu tâm huyết và hàm súc nhất, nhiều khi cũng đã kịp dội vang lên một không khí sử thi sôi động, mà có lúc có chỗ đã có thể bắt nhịp được tới khí phách anh hùng ca! Đó là phẩm chất vô cùng quý giá trong giọng điệu thơ trữ tình nội tâm, mà tác giả sẽ còn cần tiếp tục trau dồi, phấn đấu, và hoàn chỉnh trong những trường ca tới.

Bằng Việt

Tin liên quan

Tin mới nhất

Robot hút bụi đang trở thành “trợ thủ quen thuộc” cho dịp Tết như thế nào?

Robot hút bụi đang trở thành “trợ thủ quen thuộc” cho dịp Tết như thế nào?

Càng gần Tết, việc dọn dẹp nhà cửa lại trở thành nỗi lo chung của nhiều gia đình, đặc biệt là chị em phụ nữ. Khi lịch trình sinh hoạt dày đặc hơn, khách khứa ra vào liên tục, nhà cửa nhanh bẩn, ai cũng mong có một giải pháp giúp giữ nhà sạch sẽ mà không phải dành quá nhiều thời gian và sức lực. Đó cũng là lý do robot hút bụi ngày càng được nhiều gia đình quan tâm trong dịp cuối năm.

Nguyễn Xuân Tuấn - Người nặng tình với quê hương

Nguyễn Xuân Tuấn - Người nặng tình với quê hương

Nhà văn Nguyễn Xuân Tuấn là người con xã Thuần Hưng, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Đồng đất quê hương đã nuôi dưỡng tâm hồn anh và cho anh những bước đi khang trang, dài rộng, sự trưởng thành để mỗi khi trở về quê hương chính là một sự hướng tới với những trọng trách trong khả năng nhiệt huyết và trí tuệ của anh.

Oanh vàng kể chuyện 2025: Chính thức lộ diện top 11 thí sinh xuất sắc bước vào vòng bán kết

Oanh vàng kể chuyện 2025: Chính thức lộ diện top 11 thí sinh xuất sắc bước vào vòng bán kết

Cuộc thi “Oanh vàng kể chuyện” – Tìm kiếm Ngôi sao Diễn giả Nhí Toàn quốc năm 2025 do Thời báo Văn học nghệ thuật - Cơ quan ngôn luận của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phối hợp cùng Công ty Cổ phần Tập đoàn Truyền thông Tri Thức Số (TTS) tổ chức đã chính thức công bố top 11 thí sinh xuất sắc bước vào vòng bán kết, đánh dấu cột mốc quan trọng trong hành trình tìm ki

“Việt Nam dưới ánh cờ hồng” – Khúc chính ca của niềm tin, trí tuệ và khát vọng dân tộc

“Việt Nam dưới ánh cờ hồng” – Khúc chính ca của niềm tin, trí tuệ và khát vọng dân tộc

Ra đời đúng ngày Khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, ca khúc “Việt Nam dưới ánh cờ hồng” của nhà báo – nhạc sĩ Tào Khánh Hưng vang lên như một bản chính ca thời đại, kết tinh giữa tư duy chính luận và cảm hứng nghệ thuật. Không chỉ ngợi ca Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác phẩm còn thể hiện niềm tin vững bền, trí tuệ dẫn đường và khát vọng vươn mình của dân t