“Nói thật” về thân phận và thời cuộc
Tập thơ thứ ba của nhà báo - nhà thơ Đỗ Quảng vừa trình làng có cái tên rất mộc: Những lời nói thật. Nói thật, nói giữa dạ mình, yêu ghét rõ ràng, đó là tính cách, phẩm chất (đời và thơ) của một nhà báo tài danh, dọc con đường đi-đọc-nghĩ-viết, coi “chữ nặng như máu” đã bất ngờ bị/được nàng thơ quyến rũ.
Năm 2021, tập thơ đầu tay Thương lắm Sài Gòn ơi chạm ngõ làng thơ, và rồi 2024, Vui buồn Tháng Tư tiếp nối. Năm 2025, một năm có quá nhiều sự kiện lớn của dân tộc, quá nhiều tượng đài của sự bứt phá khởi dựng và cũng không ít đổ vỡ, rạn nứt trong đời sống, tình người, lay động đến tâm can. Nghĩa là thật-giả nhập nhằng, buồn-vui trộn lẫn, vui mừng và đớn đau, cao sang và thấp hèn... như những lớp sóng dội vào tâm trí một nhà thơ đứng tuổi. Nhiều thi phẩm ông đã viết trong những ý nghĩ chợt đến, những đêm mất ngủ như thế.

Nhà báo, nhà thơ Đỗ Quảng và tập thơ "Những lời nói thật"
Nhà phê bình văn học Bùi Việt Thắng viết về Đỗ Quảng: “Nếu nói chính xác thì, Đỗ Quảng đã đạt tới mức “thấu thị” đời sống cả trong hai lĩnh vực báo chí và văn chương, vì thế đầy ắp một thôi thúc nội tâm không thể không viết”. Tôi cũng xin được thêm một lần thấm thía khi sự “thôi thúc đầy ắp” ấy vẫn dâng trào trong những bài thơ mới nhất được chọn lọc in trong tập thứ ba này.
Có hai mạch thơ như hai dòng sông khi cuộn siết, khi lặng lẽ kết lắng phù sa nối nhau chảy mãi. Đó là mạch thơ viết trong nỗi suy tư, trong nỗi thăm thẳm cô đơn, trong những kỷ niệm, nỗi nhớ da diết và vỡ òa niềm vui gặp lại của những bè bạn tri âm: Người ở lại, Tái sinh, Thực hay mơ, Rượu rót đầy li mà không uống, Đi xem mộ, Qua đêm, Gửi người tôi yêu... Mạch thơ thứ hai là những bài thế sự, động chạm đến nhiều vấn đề gai góc trong đời sống, từ trong chốn quan trường cao vời, sang trọng, nhưng nhiều góc khuất tha hóa, lắm mưu nhiều kế: Xúc xắc đổi màu, Bà bán xôi, Những lời nói thật, Mặt thật, Nước mắt tử tù, 10 bài thơ Vô đề...
Thơ thế sự vốn là một thế mạnh của Đỗ Quảng. Thơ như bản thân con người ông vậy, dễ xúc động, nóng giận, lo xa và cả nghĩ. Cái nghĩ trong thơ ông trần trụi, sòng phẳng với những câu thơ như lời nói thường vậy mà không dễ viết. Những lời nói thường ấy là từ cách nhìn thường, cách nghĩ thường của người sống giữa đời thường, gần gũi với những con người tảo tần, lầm lụi. Một chính khách “đốt lò” lửa ấm ngày đông để “con tim vui trở lại”; người thương binh trở lại chiến trường xưa, “chân bước liêu xiêu đẩy xe lăn cho bạn”; anh nhà báo “lúc vinh quang tột đỉnh, như cỏ xanh chân người giẫm nát”; người bạn tử tù án oan thấu trời xanh; cô hàng hoa với những cành đào ế chiều ba mươi Tết... Nhà thơ gặp thơ ở nụ cười và những giọt nước mắt. Nói như Chế Lan Viên: “Tất cả mỗi người dù lạ hay quen đều viết cho thơ anh một chữ/ Hãy nhặt những chữ của đời mà góp nên trang)” (Nghĩ về thơ). Tôi yêu những câu thơ không tự điểm trang cho mình của Đỗ Quảng:
Sao không thương nhau khi tim còn đập ?
(Ai gọi)
Mai kia tái sinh, ta lại chọn nghề này
(Nghề báo)
Mai kia về trời
Cái tốt cái đẹp cái yêu mang theo
Cái xấu cái bẩn cái buồn để lại
Ngẫm tận cùng: cõi tạm một cuộc rong chơi
(Qua đêm)
Vết thương chữ nghĩa, cảm xúc buồn vui
Đạo lý làm người nặng trĩu hai vai
(Tái sinh)
Người tài
Một giọt nước tan sông
(Vô đề 5)
Hình như tác giả không chủ ý làm thơ. Câu thơ như chợt hiện. Như giọt sương mai mong manh cánh đào phai. Như giọt nước tan sông nhưng đọng lại trong lý trí, trong tâm tưởng con người. Đó là những câu thơ “bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ” như Viên Mai (1716-1797) nhà thơ Trung Quốc, đời nhà Thanh cảm khái. Cố nhiên, để cho thơ thật thơ, vang ngân, lắng đọng còn đòi hỏi cảm xúc mãnh liệt, công phu mài giũa ngôn từ, và đặc biệt là bất ngờ, sáng tạo hơn trong lập tứ, dụng ý.
Câu thơ chợt hiện trong những đêm khó ngủ, nhớ người, nhớ bạn tri âm. Đôi khi ông mang ảnh cũ trong album ra ngắm. Giở bản thảo viết tay cách đây hơn nửa thế kỷ đọc lại thấy lũ mọt giấy ranh ma đã “xơi” mất mấy câu hay, chữ hay. Buồn quá, mang cả chai rượu của ông bạn lớn có lời đề tặng và ký tên ra để “uống”. Cũng có khi “rượu rót tràn li mà không uống”. Nỗi cô đơn ấy ai đong đếm nổi! Nỗi cô đơn của người thơ đến con người cũng tan hòa vào sông vào trăng vào gió. Trong những lúc cô đơn ấy, những khi “Cà-rốt” - cô con gái út vắng nhà, Đỗ Quảng lại chuyện trò cùng con với nỗi xúc động tinh khôi. Những bài thơ ông viết về con bao giờ cũng để lại trong tôi những bất ngờ, thương cảm:
Đêm khuya
Phòng con đèn tắt
Bố ngồi bàn cầm bút
Mấy dòng thơ ứa từ nước mắt
...
Con gái ơi
Cứ vậy mà sống
Cứ vậy vui buồn
Con chữ - bờ vai ta vịn đứng dậy
Như chiếc gậy thần dìu chân bước.
(Một mình)
Nhà thơ vịn vào chữ hay vịn vào con? Cả hai. Và đó là chiếc gậy thần giúp ông vững bước đường dài.
Bài thơ Những lời nói thật được nhà thơ chọn làm tên tập sách, có vóc dáng một trường ca. Ở đó Đỗ Quảng đã dồn nén những câu chuyện, bài học lịch sử từ thế giới đến trong nước, từ cổ chí kim, cao cả và thấp hèn... để phác họa dáng hình đất nước trong Kỷ nguyên vươn mình - Kỷ nguyên ánh sáng. Thay vì đoán định tương lai hãy kiến tạo tương lai. Thay vì quẩn quanh trong đời chật hãy vươn vai thần Phù Đổng, nếu không sẽ mãi mãi là người đến sau.
“Thơ công dân”, thơ đọc quảng trường trong thời 4.0 thật vô cùng khó. Nhưng nhà thơ, từng là cây phóng sự, cây bút chính luận của “Báo Đảng” đã không ngần ngại. Nhà thơ đến với công cuộc phục hưng đất nước bằng con người chiến sĩ, nghệ sĩ đầy cá tính song luôn tôn trọng sự thật, nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội, nhạy cảm trong việc nhận chân được những lực cản, điểm nghẽn kìm hãm tiến bộ xã hội.
Ông nhắc đến những đồng nghiệp đàn anh, những nhà báo cách mạng gạo cội một thời trong tư cách một chứng nhân, một cộng sự gần gũi và tin cậy. Bây giờ, cảnh đấy, người đâu: “Cây Đa còn đây/Mà người không thấy/Mây trắng bay về trời/Để lại dáng đi” (Nhớ Anh Hoàng Tùng). Hay khi “gặp” nhà báo Đinh Thế Huynh trong buổi lễ trọng sau nhiều năm vắng bóng, cứ bàng hoàng như thực, như mơ: “Hạnh phúc vỡ òa/Rưng rưng chớp mắt/ Con tim loạn nhịp/Thế sự vui buồn...” (Thực hay mơ?). Yêu ghét rõ ràng. Đúng sai sòng phẳng. Đỗ Quảng là thế, bao năm vẫn thế, thủy chung bè bạn, dẫu là khi “ăn chịu với quán cóc”, khi tiêu đến đồng bạc lẻ cuối cùng, không vì chức nọ quyền kia. Lúc mũ cao áo dài, khi xiêm y luống nhạt. Con người thi sĩ dấn thân, “sống thật như máu”, thơ không thể nửa vời, đằng xa ngoái lại.
Nhưng cuộc sống đi lên không chỉ có hoa thơm, trái ngọt và tiếng kèn xung phong. Trong cái chất hùng ca, ta vẫn thấy bao trăn trở, thậm chí đau xót, phẫn uất trước những lực cản, những điều nhân danh, bất công, ngang trái. Và chúng ta không bao giờ quên: “Hàng nghìn ngôi mộ chẳng gọi được tên/Niềm vui chưa trọn vẹn/Vết thương chưa lành/Nỗi đau còn rỉ máu...”
*
* *
Những năm gần đây thời cuộc biến đổi nhanh chóng. Có khi cái chóng cũ nhất lại là chính cái mới. Cuộc sống có sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin, nhất là trí tuệ nhân tạo. Có “Ông lớn” lãnh đạo bên trời Âu nói rằng: Ai nắm được AI thì người đó cai quản được thế giới. Tại một hội thảo thơ cũng ở châu Âu, có học giả thốt lên: Thơ đã chết! Không. Không. Đừng hoảng hốt như thế. Thơ vẫn đang tìm đường. “Thơ đích thực không bao giờ tự nản” (Trúc Thông).
Trong quá trình vận động ấy, thơ thế sự tỏ ra chiếm lĩnh khá nhanh “thị trường người đọc” thời công nghệ số. Chính điều này nhà thơ Đỗ Quảng đã nhận thấy “mảnh đất” để mình có thể cày sâu cuốc bẫm. Ông cho rằng, những biến động thời cuộc, tâm trạng của con người trước cảnh đời và thế giới gắn bó trực tiếp với hiện thực, phản ánh tâm tư của cá nhân nhưng đồng thời chạm đến những cái của cộng đồng, của xã hội. Thơ thế sự thường xuất phát từ nỗi lòng trước cảnh đời biến động nhưng không vì thế mà kém đi tính hàm xúc, tính khái quát sâu sắc.
Đọc xong tập thơ Những lời nói thật, rất mừng là, nhà thơ Đỗ Quảng đã khiến cho người đọc không chỉ thấy cảnh đời, mà còn tự soi mình, tự suy nghĩ về thân phận và thời cuộc.
Bình luận