Hoạt động sáng tác và quảng bá văn học trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Văn học nghệ thuật Việt Nam từ sau ngày đất nước thống nhất đã phát triển theo hướng đa dạng hóa, toàn cầu hóa, vừa kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống, vừa không ngừng tiếp thu tinh hoa nhân loại. Trong bối cảnh mới, yêu cầu phát triển càng đặt ra những đòi hỏi gắt gao hơn. Bài viết tập trung phân tích những cơ hội và thách thức đối với hoạt động sáng tác và quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới cũng như việc tiếp thu tinh hoa nhân loại trong điều kiện của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư - đưa nhân loại bước vào một kỷ nguyên mới
Thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư (công nghiệp 4.0) đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của nhân loại với sự bùng nổ của công nghệ số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, mở ra kỷ nguyên kết nối toàn cầu một cách mạnh mẽ và sâu sắc. Đối với mỗi quốc gia, trong kỷ nguyên số, khi các công nghệ tiên tiến thay đổi căn bản mọi lĩnh vực, từ sản xuất, kinh doanh đến cuộc sống hàng ngày, đã tạo nên một xã hội thông minh và linh hoạt hơn bao giờ hết. Có thể hình dung về cách mạng công nghiệp này với một số đặc điểm nổi bật.
Tiêu biểu là số hóa và kết nối. Quá trình số hóa là quá trình chuyển đổi dữ liệu, thông tin từ dạng vật lý sang dạng số, giúp cho việc lưu trữ thuận tiện, việc xử lý và truyền tải diễn ra nhanh chóng. Với khả năng kết nối toàn cầu thông qua Internet và thiết bị thông minh (IoT), việc số hóa dữ liệu đã tạo nên một hệ sinh thái liên tục, cho phép con người trao đổi thông tin không giới hạn.
Trí tuệ nhân tạo (AI) giúp máy móc tìm kiếm, phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định, từ đó hỗ trợ con người trong nhiều lĩnh vực. Tự động hóa giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm thiểu sai sót và nâng cao năng suất lao động trong các ngành công nghiệp cũng như dịch vụ. Ví dụ: Nhà máy thông minh sử dụng robot tự động trong dây chuyền sản xuất; các chatbot và trợ lý ảo như ChatGPT hỗ trợ khách hàng trực tuyến.
Dữ liệu lớn (Big data) là khối lượng thông tin khổng lồ được thu thập từ các nguồn khác nhau, từ nguồn dữ liệu được số hóa, từ giao dịch thương mại đến mọi hành vi trực tuyến khác. Trên cơ sở dữ liệu lớn, việc phân tích dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp dự báo xu hướng, tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và nâng cao hiệu quả hoạt động. Ví dụ: Các công ty công nghệ như Google và Facebook tận dụng Big Data để cá nhân hóa trải nghiệm người dùng và tối ưu hóa quảng cáo.
Công nghệ đám mây cho phép lưu trữ và xử lý dữ liệu trực tuyến, hỗ trợ làm việc từ xa và chia sẻ thông tin một cách linh hoạt. Do vậy, an ninh mạng trở thành yếu tố then chốt khi các mối đe dọa từ hacker ngày càng tinh vi. Ví dụ: Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ điện toán đám mây như Amazon Web Services (AWS), Microsoft Azure để lưu trữ và xử lý dữ liệu, nhưng đồng thời cũng phải đầu tư vào các hệ thống bảo mật tiên tiến nhằm bảo vệ thông tin.
Bối cảnh mới này tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có văn học, nghệ thuật. Trước đây, tác phẩm văn học thường được sáng tác, xuất bản và tiếp nhận theo lối truyền thống: qua sách in, báo chí hay thư viện. Nay, với sự xuất hiện của các nền tảng số, ebook, blog văn học và mạng xã hội, tác giả có thể tự xuất bản và chia sẻ sáng tác của mình một cách nhanh chóng, không bị ràng buộc bởi những giới hạn của nhà xuất bản truyền thống. Hơn nữa, công nghệ 4.0 còn mở đường cho những hình thức sáng tác mới như văn học tương tác, đa phương tiện hay việc sử dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ sáng tác, quảng bá, nghiên cứu - phê bình văn học. Các tác phẩm không chỉ dừng lại ở dạng văn bản, mà còn có thể được tích hợp âm thanh, hình ảnh, video…, cho phép người đọc tham gia vào quá trình tạo dựng câu chuyện, từ đó làm tăng tính trải nghiệm và tương tác của tác phẩm.
Cách thức độc giả tiếp cận tác phẩm cũng thay đổi cơ bản. Nhờ vào kho dữ liệu văn học trực tuyến, người đọc chỉ cần vài cú click là có thể tra cứu, so sánh và thưởng thức các tác phẩm của nhiều tác giả khác nhau từ khắp nơi trên thế giới. Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn mở ra cơ hội giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các nền văn học khác nhau.

Với sự xuất hiện của các nền tảng số, ebook, blog văn học và mạng xã hội, tác giả có thể tự xuất bản và chia sẻ sáng tác của mình một cách nhanh chóng, không bị ràng buộc bởi những giới hạn của nhà xuất bản truyền thống. (Ảnh minh họa)
Những thời cơ cho hoạt động sáng tác, nghiên cứu văn học
Trước hết có thể thấy, trong bối cảnh kết nối toàn cầu, người Việt có cơ hội tiếp cận rộng rãi, nhanh chóng các tác phẩm văn học và lý thuyết hiện đại bên ngoài biên giới. Từ chỗ chỉ biết đến những tác phẩm kinh điển của một số nền văn học có vị trí “trung tâm” như Nga, Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc… trong các giai đoạn trước, từ sau 1975 đến nay, độc giả Việt Nam đã được đọc ngày càng nhiều tác phẩm văn học đương đại của các nền văn học phương Đông và phương Tây. Bên cạnh các tác phẩm kinh điển được tái bản, thập niên đầu thế kỷ XXI, tiểu thuyết của các nhà văn Trung Quốc đương đại như Mạc Ngôn (Đàn hương hình, Ngồng tỏi nổi giận, Báu vật của đời), Cao Hành Kiện (Linh Sơn), Thiết Ngưng (Những người đàn bà tắm); của Nhật Bản như Murakami Haruki (Rừng Na Uy, Biên niên ký chim vặn dây cót) đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, làm say mê người đọc Việt Nam. Người đọc cũng được biết đến các nền văn học “ngoại biên” thông qua nhiều dịch phẩm từ văn học Indonesia như của Andrea Hirata (Chiến binh cầu vồng), của Eka Kurniawan (Đẹp là một nỗi đau); văn học Thái Lan như của Prabhassorn Sevikul (Chai thời gian); văn học Singapore như của Goh Poh Seng (Khi ta mơ quá lâu)... Nhờ sự kết nối dễ dàng, thuận lợi, các tác phẩm đoạt giải Nobel Văn học cũng ngay lập tức được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, chẳng hạn: Tên tôi là đỏ (Orhan Pamuk), Từ thăm thẳm lãng quên (Patrick Modiano), Hồi ức thiếu nữ (Annie Ernaux)... Chúng vừa làm cho đời sống văn học thêm sôi động, vừa góp phần thỏa mãn nhu cầu của độc giả về việc tiếp cận nhanh nhất các hiện tượng văn học thế giới.
Trong vài thập kỷ qua, Hội Nhà văn, cụ thể là nhà xuất bản Hội, đã chủ trì tổ chức việc chuyển ngữ và phát hành nhiều tác phẩm của các nhà văn quốc tế gốc Việt. Nhờ sự phát triển của công nghệ, độc giả Việt Nam cũng theo những kênh khác nhau đã biết tới các nhà văn này. Khi tác phẩm của họ được xuất bản bằng tiếng Việt, như một sự cộng hưởng, độc giả trong nước đã đón nhận/tiếp nhận khá nhiệt thành và dễ dàng. Các tác phẩm bản tiếng Việt của Nam Lê (tập truyện ngắn Con thuyền), Linda Lê (các tập truyện ngắn Lại chơi với lửa, Thư chết và hai tiểu thuyết Sóng ngầm, Vượt sóng), của Viet Thanh Nguyen (tập truyện ngắn Người tị nạn và tập ký/ghi chép về người tị nạn Kẻ ly hương), mới đây là Ocean Vương (tiểu thuyết Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian) đã góp phần làm cho đời sống văn học Việt Nam đương đại “nóng” hơn, mở rộng/nâng cao khả năng đọc của độc giả trong nước, giúp họ tiếp cận các giá trị văn học mang tính toàn cầu.
Cũng trong bối cảnh thuận lợi của giao lưu/tiếp xúc, sáng tác và nghiên cứu của các nhà văn Việt Nam hải ngoại được xuất bản, giới thiệu, nghiên cứu ở Việt Nam ngày càng nhiều. Thuận (Đoàn Ánh Thuận) - hiện sống ở Pháp, sáng tác tiểu thuyết bằng tiếng Việt, thuộc trong số nhà văn có nhiều ấn phẩm ra mắt tại Việt Nam. Tiểu thuyết của cô, ngoại trừ Made in Viet Nam được xuất bản ở Pháp năm 2002, số còn lại đều do nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành, bao gồm: Chinatown (2005), Paris 11 tháng 8 (2005), T mất tích (2007), Vân Vy (2008), Thang máy Sài Gòn (2013) và Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư (2015). Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu hải ngoại khác cũng có mối liên hệ khá mật thiết với đời sống văn học trong nước. Những cái tên như Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao, Trường Thiên/Võ Phiến, Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Văn Trung, Thụy Khuê, Du Tử Lê, Đoàn Cầm Thi… xuất hiện ngày càng nhiều trong các nghiên cứu về văn học Việt Nam.
Từ sự tiếp xúc ngày càng rộng rãi với các sáng tác văn học nước ngoài và văn học của người Việt ở ngoài nước, nhà văn và người đọc Việt có cái nhìn rộng mở hơn về văn học trong xu hướng toàn cầu hóa, nhìn rõ hơn các giá trị văn học mang tính toàn cầu. Và đến lượt mình, những nhận thức mới đó cũng đòi hỏi nhà văn, người đọc nâng cao trình độ sáng tác và thưởng thức văn học. Ở địa hạt sáng tác, dù chưa định hình rõ một xu hướng, nhưng những sáng tác theo tinh thần hậu hiện đại đã xuất hiện ở nước ta từ thập niên cuối của thế kỷ XX và rõ nét hơn trong thập niên đầu thế kỷ XXI với các tác giả tên tuổi như Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái… Người đọc Việt cũng dần quen và tiếp cận dễ dàng hơn với văn học hậu hiện đại thế giới. Hỗ trợ cho việc “đọc” tác phẩm văn học, nhất là tác phẩm theo tinh thần hậu hiện đại, các lý thuyết nghiên cứu - phê bình văn học như thi pháp học, phân tâm học, ký hiệu học, phê bình sinh thái, phê bình nữ quyền, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh… cũng được dịch, giới thiệu, vận dụng nghiên cứu - phê bình ngày càng nhuần nhuyễn và rộng rãi. Bước đi này đang đưa văn học Việt đi gần vào quỹ đạo chung.
Việc quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài cũng được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và chỉ đạo sát sao. Ngày 22/9/2024, tại New York (Mỹ), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã “trực tiếp trao Huân chương Hữu nghị cho hai nhà thơ cựu binh Mỹ - những người đã có đóng góp quan trọng trong việc dịch và truyền bá văn học Việt Nam tới bạn đọc Mỹ ngay từ những năm tháng quan hệ Việt Nam và Mỹ còn băng giá và nhiều thù địch” (Việt Linh, 2024). Nhờ sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và sự phát triển của phương tiện truyền thông, các cuộc hội nghị, hội thảo về văn học và khoa học văn học cấp quốc gia, quốc tế cũng được tổ chức thường xuyên và thu hút đông đảo nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước tham gia. Đầu thế kỷ XXI, cụ thể, từ 2010, Hội Nhà văn Việt Nam đã chủ trì tổ chức các Hội nghị Quốc tế quảng bá văn học Việt Nam (International Conference for Advancement of Vietnamese literature) và các cuộc Liên hoan thơ Quốc tế tại Việt Nam. Hội Nhà văn Việt Nam cũng ký nhiều biên bản ghi nhớ với nhiều tổ chức văn học và văn hóa thế giới. Những hoạt động thiết thực này khiến văn học Việt Nam được người đọc thế giới biết đến rộng rãi hơn, cũng là cơ hội để các nhà văn Việt Nam tiếp xúc với các tác giả nước ngoài, mở rộng quan hệ văn chương cũng như tăng cường hiểu biết. Thông qua các hoạt động này, nhiều nhà văn, nhà thơ đã được tặng các giải thưởng quốc tế, được mời tham dự các diễn đàn văn học thế giới.
Ở lĩnh vực nghiên cứu - phê bình văn học, nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế do Viện Văn học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh… phối hợp tổ chức đã thu hút rất đông các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Tiêu biểu như: Những lằn ranh văn học/ Boundaries in Literature (2011); Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa/ Vietnamese and Japanese literature in the globalization context (2013); Việt Nam - Giao lưu văn hóa tư tưởng phương Đông/ Vietnam and the Oriental Cultural Exchanges (2017); Phê bình sinh thái: Tiếng nói bản địa, tiếng nói toàn cầu/ Ecocriticism: Local and Global voices (2017); Language, Society, and Culture in Asian Contexts (2018); Những vấn đề giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay/ Issues of teaching Vietnamese and studying Vietnam in the today’s world (2019); Văn học so sánh Đông Nam Á: Lịch sử, lí thuyết và những khả năng ứng dụng/ Southeast Asian Comparative Literature: Histories, Theories, and Practices (2023); Viết về đề tài chiến tranh cách mạng và hình tượng bộ đội Cụ Hồ/ Writing on the topic of revolutionary wars and Uncle Ho’ soldiers (2024)... Nhiều học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam đã được mời tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế tổ chức ở ngoài nước.
Trong sáng tạo, nghiên cứu văn học hiện nay, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo AI, Deep Seek cũng giúp cho việc tìm kiếm, tổng hợp thông tin một cách dễ dàng, thuận lợi với một lượng thông tin thu nhận được khá phong phú. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát một số vấn đề văn học với AI, chẳng hạn tìm kiếm các chủ đề “Văn học Việt Nam về đề tài lịch sử”, “Hình tượng người nông dân trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu”, “Sự thể hiện thân phận người trí thức trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX”. Kết quả thu được khiến chúng tôi không khỏi ngạc nhiên. Với một dung lượng khoảng 3-4 trang A4, AI đã trình bày một đề cương khá đầy đủ, logic, mạch lạc về các chủ đề. Qua đó có thể thấy, trí tuệ nhân tạo có khả năng hỗ trợ rất tối ưu cho những khảo sát tư liệu lịch sử văn học và gợi mở đường hướng tư duy cho các chủ thể cần khai thác dữ liệu. Lợi thế này rất nên được tận dụng trong nghiên cứu, phê bình văn học, nghệ thuật, thậm chí, trong cả sáng tác.
Những thách thức cần phải vượt qua
Tuy vậy, cũng không khó để thấy rằng, ngay trong những thuận lợi, cơ hội nêu trên đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức.
Đồng thời với kỷ nguyên số, văn học thế giới cũng đang vận động theo chiều hướng không ngừng phá vỡ cách thể hiện truyền thống. Trong khi đó, nhiều nhà văn, thậm chí, cả nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay dường như chỉ viết bằng cái ta quen gọi là “năng khiếu” - nghĩa là một thứ như có sẵn, như “trời cho”, mà ít sự học hỏi, bồi dưỡng thêm. Vậy nên, nhiều khi ta thấy số lượng nhiều hơn chất lượng, hoặc sản phẩm làm ra chỉ thỏa mãn người đọc một nhóm rất nhỏ. Điều này cản trở con đường đi lên và khả năng hội nhập thế giới. Những giải thưởng văn học lớn thế giới vẫn còn rất xa vời với chúng ta. Một số tác phẩm đoạt giải thưởng danh giá, chủ yếu là dành cho các nhà văn gốc Việt chứ không phải sáng tác bằng tiếng Việt. Mở rộng, nâng cao tầm đón đợi, tăng cường tiếp nhận các sáng tác và lí thuyết/phương pháp sáng tác, nghiên cứu hiện đại là việc làm luôn rất khó nhưng hết sức cần thiết. Bởi có như thế người viết mới thoát được sức ì của thói quen và quan niệm về hoạt động nghề nghiệp của mình.
Thông tin quá rộng mở, đa chiều, khiến người tiếp nhận nếu không có đủ năng lực (nghề nghiệp, ngoại ngữ) thì sẽ không thể phân biệt được đâu là thông tin chính thống và đâu là ngụy/giả thông tin, chỗ nào đáng tin cậy và chỗ nào không đủ độ tin cậy, cái gì có giá trị tham khảo và cái gì không nên sử dụng. Trong khi đó, năng lực ngoại ngữ, kỹ năng số của các nhà văn, nhà nghiên cứu ở ta về cơ bản còn rất hạn chế, nếu không muốn nói rằng có trường hợp còn ở điểm “mù”. Vậy nên, để big data trở thành nguồn tài nguyên dồi dào có thể sử dụng được cho hoạt động sáng tác và nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học trước hết cần/nên/được trang bị về khả năng sử dụng tiếng nước ngoài, trước hết là tiếng Anh và các kỹ năng số.
Nền văn học Việt Nam muốn hội nhập rộng rãi với thế giới, rất cần hoạt động quảng bá, giao lưu để ta biết mình ở đâu trong thế giới văn chương rộng lớn và để thế giới biết đến Việt Nam. Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy, chúng ta hoàn toàn có thể tự tin để chia sẻ rộng rãi các giá trị văn học đặc sắc ra thế giới, tạo nên một thứ “sức mạnh mềm”, giúp nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Kho tàng văn học dân gian giàu có và đặc sắc; các tác phẩm văn học kinh điển nói về lịch sử mấy nghìn năm dựng nước, giữ nước là đỉnh cao của trí tuệ, bản lĩnh, ý chí dân tộc; những tiếng kêu “xé ruột” của con người trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử; những tác phẩm thể hiện vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Nam... được thể hiện trong một thứ ngôn ngữ giàu bản sắc là tiếng Việt, rất đáng để chúng ta chuyển tới người đọc nhiều quốc gia, thậm chí toàn cầu. Đó cũng là một niềm tự hào Việt Nam. Tuy vậy, hoạt động này cũng cần được thực hiện theo một chiến lược/lộ trình thật sự bài bản, có sự quản lý chứ không thể manh mún, mạnh ai nấy làm như một số hoạt động hiện nay. Thực tế là, do nhiều hoạt động diễn ra trên không gian ảo nên cơ quan quản lý chưa/không thể kiểm soát hết việc làm của các cá nhân, tổ chức, trong đó có hoạt động dịch, giới thiệu, quảng bá văn học. Điều này có thể dẫn đến những hiểu nhầm ở người đọc ngoài nước về thành tựu, giá trị của văn học Việt Nam.
Đội ngũ dịch giả, nhất là dịch giả thông thạo các ngôn ngữ không phổ biến, còn rất ít. Do vậy, có một thực trạng đáng buồn là chúng ta đang giao lưu một chiều. Theo tác giả Mai Hồng: “Đáng buồn là ở chỗ số lượng tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra tiếng nước ngoài chỉ chiếm tỷ lệ 1/24 so với số tác phẩm văn học nước ngoài được dịch ra tiếng Việt. Theo thống kê trên thị trường sách hiện nay, cứ 100 cuốn sách được bày bán thì có 25 cuốn sách dịch từ văn học nước ngoài. Bên cạnh các tác phẩm tiêu biểu của văn chương nhân loại, thì có không ít cuốn dù được quảng cáo là "hot", "best-seller", nhưng ít giá trị văn chương, nói về đề tài tình dục là phần nhiều. Những cuốn sách này được dịch vội vàng, với trình độ dịch còn kém nên nhiều lỗi trong câu chữ” (Mai Hồng, 2010).
Dù là con số thống kê từ 2010, nhưng hơn một thập kỷ qua, thực trạng này cũng chưa được cải thiện đáng kể. Bởi vậy, thế giới vẫn biết quá ít về Việt Nam. Nhiều người Việt sống và làm việc ở ngoài nước cho biết, đa phần “người nước ngoài chỉ biết về Việt Nam như một cuộc chiến tranh” (Nguyễn Phan Quế Mai, 2019). Hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín Việt Nam, mà còn khiến cho những người nghiên cứu về văn học Việt Nam khó khăn trong việc công bố các công trình của mình. Mặt khác, cũng do đội ngũ dịch giả quá mỏng nên nhiều tác giả lớn, nhiều tác phẩm hay của các nền văn học, ngay cả một “nền văn học láng giềng” như Thái Lan chẳng hạn, chúng ta còn chưa được biết tới. Hay một nhà văn gốc Việt có tác phẩm được giải thưởng uy tín như Kim Thúy, tiểu thuyết Ru của cô cũng chưa xuất hiện bằng bản tiếng Việt ở thị trường sách trong nước.
Bên cạnh những cơ hội to lớn về nguồn thông tin rộng rãi, dễ sử dụng, thời đại số cũng đặt ra không ít thách thức như vấn đề bảo vệ bản quyền tác phẩm, sự xói mòn của thói quen đọc sâu và khả năng chọn lọc thông tin trong một biển dữ liệu khổng lồ, nguy cơ đánh mất bản sắc... Người sáng tác và nghiên cứu văn học có thể dễ dàng chấp nhận việc chỉ dừng lại ở thông tin thu thập được từ AI. Văn chương lúc này chỉ còn như là những công thức Toán học, mất đi sự đa dạng, phong phú, khả năng đào sâu và sự thể hiện riêng có các vấn đề của đời sống và con người.
Trong kỷ nguyên số, cơ hội cho phát triển văn học, nghệ thuật nhiều bao nhiêu thì thách thức cũng lớn bấy nhiêu. Hơn lúc nào hết, chính bối cảnh này, các cơ quan quản lý văn học, nghệ thuật rất cần tăng cường các giải pháp thiết thực, hiệu quả. Nhưng quản lý không có nghĩa là rà soát nghiêm ngặt hay cấm đoán tự do sáng tạo và quảng bá. Việc nâng cao nhận thức và kỹ năng số, cải thiện trình độ ngoại ngữ, xây dựng lộ trình/chiến lược giới thiệu/quảng bá văn học dân tộc, tăng cường các cuộc giao lưu… là những giải pháp cần thực hiện một cách thực chất lúc này. Phát huy những thành tựu của văn học Việt Nam từ sau 1975, nhất là sau gần bốn mươi năm đổi mới, mỗi nhà văn, nhà nghiên cứu văn học cần ý thức sâu sắc hơn nữa về sứ mệnh của mình, tự làm mới mình, nâng mình lên bằng việc trau dồi các kỹ năng số, kỹ năng ngoại ngữ, cầu thị tiếp nhận tác phẩm của đồng nghiệp ngoài biên giới, để tác phẩm mang được rõ nét hơn dấu ấn của thời đại. Mong sao văn học Việt Nam, cũng như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, ngày càng thể hiện rõ hơn gương mặt mình trong bản đồ nhân loại.

Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định mạnh mẽ: "Nước...
Bình luận