Liên kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Dẫu kí hiệu học hiện đại “đang trải qua giai đoạn buộc phải xét lại một số khái niệm cơ bản”, nhưng hiện nay, lí thuyết về kí hiệu học đã trở thành phổ biến và được vận dụng như một khung tri thức để tham chiếu, giải mã văn bản nghệ thuật.
Từ góc nhìn kí hiệu học, nếu xem tác phẩm văn học là một “kí hiệu đa văn hóa” thì trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đa văn hóa/liên văn hóa gắn liền với liên kí hiệu. Mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái đều có sự va đập các kí hiệu thẩm mỹ. Sự liên kết chuỗi kí hiệu nằm trong chiến lược trần thuật của nhà văn.

Nhà văn Hồ Anh Thái.
Liên kí hiệu – một mô thức kiến tạo văn bản
Với chủ trương lấy văn bản làm trung tâm, trong công trình Kí hiệu học văn hóa, Iu. M. Lotman khẳng định: “Văn bản mới bao giờ cũng gắn với các văn bản cũ bằng những quan hệ đối thoại, nó bảo tồn các văn bản ấy trong kí ức của mình”; “Các kí hiệu tạo thành văn bản, các văn bản tạo thành văn hóa, các văn bản tạo thành kí hiệu quyển”. “Trong một văn bản văn chương, mỗi kí hiệu có thể trở thành một chức năng văn bản chính mà việc giải mã nó tuyệt đối cần thiết cho việc lĩnh hội đầy đủ văn bản”. Theo nghĩa đó, kí hiệu tồn tại trong tác phẩm văn học như một công cụ kiến tạo văn bản nghệ thuật. Mô thức kiến tạo này rõ nét trong một kiểu tác giả, tiêu biểu là Hồ Anh Thái. Tạo mã với các chuỗi kí hiệu đặc thù (lặp lại trong một và nhiều tiểu thuyết) chính là một chiến lược trần thuật của Hồ Anh Thái, với lối tự sự đa thanh, nhiều gợi mở. Chuỗi kí hiệu xuyên suốt tiểu thuyết Hồ Anh Thái với chất kết dính của nó đã làm nên một thế giới nghệ thuật mang tính khái quát cao. Lượng thông tin về các miền văn hóa, các cộng đồng văn hóa “phì đại” trong thế giới nghệ thuật của nhà văn qua một hệ thống kí hiệu liên kết chặt chẽ. Tính chất liên kí hiệu khiến tác phẩm trở thành những mã thẩm mĩ, dung chứa nhiều vấn đề trong mạch ngầm văn bản. Việc giải mã khiến hàm lượng thông tin, hàm lượng văn hóa bung nở đa chiều kích.
Theo Trần Đình Sử, “trong tác phẩm có những mã văn học ẩn sâu trong hệ thống hình tượng, cần có cách mô hình hóa mới phát hiện ra. Việc này đòi hỏi phân tích các motip, sự lặp lại có tính quy luật của chúng. Đó là mã của tác phẩm văn học. Nhưng trong tác phẩm còn có các mã văn hóa, như điển cố, các mối liên hệ do quá trình văn hóa tạo nên”. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái tính liên kí hiệu biểu hiện ở hai mối quan hệ. Một là, sự tương tác giữa các kí hiệu trong một văn bản tiểu thuyết. Hai là, chuỗi kí hiệu xuyên suốt nhiều tiểu thuyết với các nghĩa phái sinh.
Trường hợp thứ nhất, trong mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn có một hệ thống kí hiệu chằng chịt, mỗi kí hiệu thẩm mĩ đều có sự tương tác với các kí hiệu khác để tạo nghĩa mới. Trong tiểu thuyết Tranh Van Gogh mua để đốt sự tương hỗ giữa các kí hiệu đã làm nên một “tổ hợp kí hiệu” mở rộng nội dung tác phẩm. Hồ Anh Thái luôn tạo lực hút từ nhan đề. Xâu chuỗi toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn, nhan đề chính là những mã văn hóa, hình thành từ sự liên kết các kí hiệu. Ngoài tính chất gợi dẫn của nhan đề, chuỗi kí hiệu liên kết, phái sinh là Lửa (đốt/hủy) và Trắng (sương mù/vô minh). Phái sinh từ bức Chân dung bác sĩ Gachet của Van Gogh là vô vàn những bức tranh trắng (“Trắng tinh, Trắng xóa, Trắng bạch, Trắng muốt, Trắng hếu, Trắng nhởn, Trắng mù như sương, Trắng nhờ nhờ như khoảng sáng trước bình minh. …”; “Nhiều trắng quá. Giả sử mở một cuộc triển lãm, tên triển lãm sẽ là Trắng. Một chữ thôi. Trắng”). Những bức trắng lại phái sinh vô số những cái. Từ một bức tranh nhân bội lên nhiều bức tranh. Trắng hiện diện xuyên khắp, như một kí hiệu đa bội, gắn kết các mảnh, các mã văn hóa. Trắng là một ảnh tượng siêu hình về ý nghĩa cuộc đời; là phi lí, ngụy tín trong văn học nghệ thuật và những hệ lụy của nó trong đời sống con người.
Trường hợp thứ hai, nhìn một cách hệ thống, có thể thấy tính lặp lại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua chuỗi kí hiệu xuyên văn bản. Tác phẩm phái sinh có mối quan hệ với tác phẩm gốc, có khi trùng một mẫu đề, có lúc trùng lặp một phần, một chương, một nhân vật… của tác phẩm gốc. Nói cách khác, cuốn tiểu thuyết này dung chứa một phần của tiểu thuyết khác qua sự trùng lặp kí hiệu, hoặc tái hiện nguyên văn như một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Tính phái sinh rõ nhất là ở hai tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và tôi và Tranh Van Gogh mua để đốt. Cả hai tiểu thuyết đều gây ấn tượng ngay từ nhan đề với sự liên kết kí hiệu.
Liên kí hiệu từ huyền thoại, biểu tượng và sự truyền dẫn
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh, có quan niệm đồng nhất kí hiệu với biểu tượng (tiêu biểu là E. Cassirer, Ch. Pierce); có quan niệm coi biểu tượng như một dạng kí hiệu đặc biệt (Lotman, Todorov, Freud, Jung); có quan niệm xem biểu tượng là “một hiện tượng thiêng liêng thần bí, một thông điệp của đấng tối cao gửi đến con người”. Từ góc nhìn kí hiệu học văn hóa, tính kí hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái thống hợp các quan niệm trên. Sự tĩnh lược đối thoại, để cho biểu tượng lên tiếng là đặc điểm của tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Biểu tượng vốn mang trong bản thân nó những “kinh nghiệm văn hóa cộng đồng”, qua nghệ thuật sáng tạo, dụng ngôn của nhà văn, càng phái sinh nhiều ý nghĩa. Bằng liên kí hiệu, qua hệ thống huyền thoại, biểu tượng, các motif… lặp lại theo dụng ý nghệ thuật, tác giả đã tạo các mã văn học/văn hóa. Tiếng nói bên trong văn bản nằm ở sự tương hỗ, va đập giữa huyền thoại, cổ mẫu, biểu tượng.
Mã huyền thoại về trinh nữ
Theo Roland Bathes, “là ngôn từ, nên tất cả đều có thể là huyền thoại, nó liên quan đến diễn ngôn. Huyền thoại không xác định bởi đối tượng thông điệp của nó, mà bởi cách nó phát ra thông điệp ấy: có những giới hạn về hình thức đối với huyền thoại, chứ không có những giới hạn về thực thể”. Chính huyền thoại đã mở ra nhiều tầng nghĩa qua những liên tưởng phong phú. Một trong những huyền thoại lặp đi lặp lại trong văn bản tiểu thuyết Hồ Anh Thái là câu chuyện về trinh nữ với nhiều nghĩa tiềm ẩn. Dẫu không muốn đặt ra vấn đề nữ quyền, thậm chí có lúc giễu nhại những giáo điều của nữ quyền luận, tuy vậy, có thể xem Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sớm quan tâm đến số phận những người phụ nữ từ cái nhìn văn hóa nhân văn. Trong hệ thống biểu tượng trùng phức, trinh tiết biểu đạt đến cùng thân phận đàn bà. Người đàn bà trên đảo (1985) là cuốn tiểu thuyết sớm đề cập phận đời của những cô gái trong và sau chiến tranh - một chủ đề được văn học hậu chiến quan tâm.
Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, các mã huyền thoại về trinh nữ phái sinh từ cổ mẫu Thánh Nữ Đồng Trinh. Từ mẫu hình trong huyền thoại, trong tập tục đến những phái sinh, nhà văn đã tạo mã về dục vọng đàn bà, vấn đề không phải là không còn sức gợi. Nhà văn như vừa chép lại huyền thoại vừa “tiếp tục sáng tạo ra huyền thoại”. Huyền thoại quần hôn được ghép thêm những mảnh ghép của năm đêm tân hôn êm ái dịu dàng ê chề rã rời hoan lạc. Mượn huyền thoại nhà văn thấu cảm nỗi đau dày vò thân xác của phụ nữ từ khoái lạc đàn ông. Từ đó, chuỗi huyền thoại trong tác phẩm Hồ Anh Thái không chỉ thuộc về cổ xưa mà “là những huyền thoại về cái hiện tại, của ngày hôm nay.
Chiêm bao - một chuỗi kí hiệu đa nghĩa
Về mặt lí thuyết, chiêm bao được xem là vấn đề cốt lõi của phân tâm học. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, hai dạng giấc mơ xuất hiện xuyên văn bản là giấc mơ tính dục và cơn ác mộng về “ác giả ác báo”. Giấc mơ là “kí hiệu của ham muốn”, “giọng nói của ẩn ức tính dục” (Freud). Nhân vật tiểu thuyết Hồ Anh Thái thường có đời sống tính dục phong phú. Trong những hoàn cảnh đặc biệt, họ thường rơi vào trạng huống kìm nén bản năng và để lộ ra phần “bí mật nhất và trơ trẽn nhất” qua những cơn mơ phóng đãng với một chuỗi ảo ảnh ma quái. Sống ở nông trại gần như thiếu vắng bóng đàn bà, “cách dăm ngày, Hòa lại cảm thấy một cái đầu quay cuồng, vật vã trên ngực mình…” (Người đàn bà trên đảo). Những giấc mơ tính dục của công chúa Savitri (tiền kiếp) là tiếng nói của dục vọng giữa bể khổ trần gian. Trong giấc mơ của Savitri, người đàn bà tuổi hồi xuân, người tình Yasa hiện về, “vẻ quằn quại vật vã. Mười mấy năm theo Phật, ám ảnh dục lạc tưởng như đã dẹp bỏ, nay lại thức dậy quay cuồng (Đức Phật, nàng Savitri và tôi). Những giấc mơ dục lạc, những thao tác, hành vi tính dục thừa mứa, đôi khi quá ngưỡng lại mang chứa quan niệm bể khổ đời người. Giấc mơ của những người đàn bà ở Xóm Chửa Hoang thấy mình ngủ với cá voi (biểu tượng đàn ông mạnh mẽ; tiếng nói của những cơn khát và hưng phấn tính dục)- “Một thứ hương đê mê. Gió dồi sóng dập. Trời đất quay cuồng đảo ngược. Núi đá vặn mình tung tóe nước non” (Dấu về gió xóa). Giấc mơ về tội ác và trừng phạt cũng lặp lại nhiều lần, là một mã văn hóa xuyên văn bản. Thiện ác là qui luật tự nhiên. G. Bataille, nhà triết học người Pháp, người ủng hộ cho văn học viết về cái ác, cho rằng: “Văn học là cơ sở của tồn tại hoặc không là gì cả. Nó là hình thức thể hiện rõ nét của cái Ác, một cái Ác theo tôi nghĩ, có một giá trị tối thượng. Quan điểm này không đòi hỏi sự thiếu vắng đạo đức, nó yêu cầu một “siêu đạo đức”.
Trong văn học Việt Nam đương đại, Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sớm viết về cái ác với quan niệm “Cuộc sống chỉ chia ra hai màu Thiện - Ác, không hơn” (Dấu về gió xóa). Trong nhiều tiểu thuyết Hồ Anh Thái, cái ác chiếm lĩnh, bầy đàn, đông đúc, dai dẳng. Cái ác muôn hình vạn trạng dưới mọi hình thức tàn độc. Cái ác hủy hoại nhân tính. Trong kí hiệu quyển đó, có những giấc mơ thoáng qua, như những “kí hiệu vô bổ”(chữ dùng của A. Compagnon), chìm khuất giữa các sự kiện xảy ra dồn dập nhưng chính là tiếng nói chất vấn của lương tri con người. Những giấc mơ thiêng hóa giải lời nguyền, hướng thiện trong cõi ác; những giấc mơ nhân quả (Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế, Năm lá quốc thư). Khi Hồ Anh Thái viết về nhân quả, cái chết, nghiệp báo, cứu chuộc, motif tội lỗi - trừng phạt trở thành chủ đề đạo đức xuyên văn bản, cảnh báo về cái ác ngự trị dẫn đến sự suy thoái đạo đức nhân văn, đạo đức sinh thái. Tuy vậy, những yếu tố siêu nhiên trong sáng tạo của Hồ Anh Thái “không quá xúc phạm tới lí trí” (Todorov). Nó là phương tiện, là kí hiệu để nhà văn biểu đạt hiện thực thậm phồn, với các chiều kích tâm linh. Tiểu thuyết Hồ Anh Thái giàu chất triết lí. Có lúc nhà văn diễn giải dài dòng qua lời trần thuật, nhưng phần lớn những suy tư chiêm nghiệm toát lên từ các chuỗi kí hiệu xuyên văn bản, thành nét chủ đạo trong phong cách nhà văn.
Liên kí hiệu biểu đạt hiệu quả tính liên văn hóa/liên tôn giáo
Từ lĩnh vực triết học, liên văn hóa là sự liên kết giữa các nền văn hóa của các dân tộc có căn tính, bản sắc khác nhau. Nhà triết học người Áo, Ludwig Josef Johann Wittgenstein – người được xem là có đóng góp lớn đối với sự ra đời của triết học liên văn hóa, chủ trương “dung hoà chủ nghĩa tương đối văn hóa với chủ nghĩa phổ quát văn hóa và cố gắng tìm ra tính thống nhất trong sự đa dạng của các nền văn hóa, các thế giới quan và các phương thức sống khác nhau”.
Từ góc nhìn liên văn hóa, dẫu tác phẩm Hồ Anh Thái đa dạng về đề tài, các kiểu nhân vật cũng như nghệ thuật tự sự nhưng điểm thống nhất trong tiểu thuyết của ông là luôn có sự đối thoại và thống hợp các nền văn hóa. Ngay cả những tiểu thuyết về chuyện đời xô bồ nhốn nháo dục lạc và cái ác cũng đan xen những mảnh ghép giàu trữ lượng liên văn hóa. Trong các văn bản, chuỗi kí hiệu với chất kết dính của nó đã kiến tạo một thế giới nghệ thuật mang tầm khái quát cao. Đặc biệt, trong số các nhà văn chuyên viết về tôn giáo, Hồ Anh Thái là người thể hiện nhất quán quan niệm liên tôn. Nhà văn nhìn thấy sự hòa hợp giữa các tôn giáo trên nền tảng riêng của từng giáo phái. Điểm gặp gỡ giữa các tôn giáo Đông Tây là tinh thần vì con người, hướng về cuộc sống hài hòa, ổn định của con người. Dẫu Đức tin có khác nhau, nhưng các tôn giáo lớn đều hướng đến khổ nạn kiếp người; mong mỏi cuộc sống an yên cho muôn loài.

Mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái đều có sự va đập các kí hiệu thẩm mỹ.
Erich Fromm đã chỉ ra điểm chung giữa các tôn giáo với quan niệm: “Vấn đề tôn giáo không phải là vấn đề thượng đế mà là vấn đề con người; sự hình thành các tôn giáo và những biểu tượng tôn giáo là những nỗ lực nhằm diễn đạt một số dạng trải nghiệm của con người”. Xoay quanh vấn đề con người, thiện - ác, Hồ Anh Thái cho rằng, tôn giáo “như một cái phanh hãm, nó có thể phanh thắng con người dừng lại bên bờ vực tội lỗi, trước vùng ranh giới thiện - ác, bóng tối - ánh sáng” (Dấu về gió xóa).
Tư duy liên tôn giáo thể hiện một cách nhìn, một lối suy nghiệm đa chiều về thế giới và con người. Vốn tri thức phong phú từ việc tiếp nhận các luồng tư tưởng Đông Tây cộng với những thực chứng từ nhiều vùng đất thánh nhà văn đã sống, qua hệ thống liên kí hiệu đã chuyển hóa thành những khái quát mang tầm triết lí nhân sinh. Cõi người rung chuông tận thế đan xen những quan niệm, nghi thức của tín ngưỡng dân gian, Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đức Phật, nàng Savitri và tôi không đơn thuần là Phật sử. Năm lá quốc thư chủ yếu viết về căn tính của người Việt nhưng bên cạnh đó là những mảnh ghép về Hồi giáo. Quan niệm liên tôn giáo có khi được biểu đạt qua hình thức liên văn bản (Kinh Phật, Thánh kinh, lời của Hindu giáo, Hồi giáo…) hoặc qua diễn ngôn người kể chuyện; có lúc qua chuỗi kí hiệu/biểu tượng về tính thiêng. Từ quan niệm liên tôn, tiếng chuông trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái là “tiếng nói” của nhiều tôn giáo. Dấu về gió xóa là tác phẩm luận bàn nhiều về các tôn giáo.
Nhà văn nhìn ra điểm chung của các tôn giáo là đều hướng con người đến thiện lành. Vì vậy, ở Đảo Xanh có một ngôi đền Đa giáo, Hợp chủng giáo; có tiếng chuông dành cho mọi tín đồ: “Chuông nhà thờ đánh suốt ngày, ban đầu là đánh chuông cho người Tin Lành người Thiên Chúa giáo. Sau rung chuông cho người Hindu, người Hồi giáo người Hỏa giáo, sau thỉnh chuông cho Phật giáo”. Trong Cõi người rung chuông tận thế, từ tiếng chuông chùa, một biểu tượng thiêng của Phật giáo, kết thúc câu chuyện về cái ác là thông điệp mang tinh thần Thuyết mạt thế của Thiên chúa giáo. “Bất đồ chuông chùa rung thảng thốt... Sư cụ đã bị cướp mất bình yên. Chuông giận dữ đổ ập vào không gian… Cả cõi người bị nhấn chìm trong một trận hồng thủy ngập tràn kim loại”…
Hồ Anh Thái là một trong số hiếm hoi những nhà tiểu thuyết có ý thức trong việc tạo ra những chùm tác phẩm cùng một đề tài hay cùng một thủ pháp. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, lượng thông tin về các miền văn hóa, các cộng đồng văn hóa “phì đại” qua một hệ thống kí hiệu liên kết chặt chẽ. Tính chất liên kí hiệu khiến tác phẩm trở thành những mã thẩm mĩ, dung chứa nhiều vấn đề trong mạch ngầm văn bản. Điều này khiến các tác phẩm của Hồ Anh Thái không chỉ là những văn bản độc lập, có đời sống riêng mà còn là những văn bản luôn được phái sinh cùng với các văn bản khác. Kiến tạo văn bản từ các chuỗi kí hiệu, hàm lượng thông tin, hàm lượng văn hóa trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái được bung nở đa chiều kích. Vừa thống nhất, vừa lạ hóa trong lối viết, qua hệ thống liên kí hiệu, có thể xem tiểu thuyết Hồ Anh Thái là “những cuốn tiểu thuyết biết suy nghĩ” (Kundera).

Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu sở hữu một gia tài văn chương không còn là nhỏ và nổi lên đặc biệt với các tác phẩm đề...
Bình luận