Trường ca Đại Sự Mường Ca Da – Lời tri ân của người đang sống với người đã về cõi trời
Cuốn sách “Trường ca Đại Sự Mường Ca Da” là một công trình sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian của dân tộc Thái Thanh Hóa. Tác giả cuốn sách là nhà nghiên cứu văn hóa Hà Văn Thương. Tác phẩm được Giải B Giải thưởng Văn học nghệ thuật năm 2020 của UBND tỉnh Thanh Hóa.
Anh tặng tôi cuốn sách này lâu rồi, nhưng sách dày hơn 600 trang có cả ngôn ngữ chữ Thái và chữ Việt nên tôi chưa có điều kiện để đọc. Mãi hôm nay, trên đường từ thành phố Thanh Hóa lên Bản Bút, xã Nam Xuân hơn trăm cây số, ngồi trong ô tô mới có dịp hỏi cặn kẽ và nghe tác giả đọc một số chương. Hay quá!
Tôi hỏi ông Thương:
- Sao bản Mo của dân tộc Thái mà trường ca lại đặt tên là “Mường CaDa”?
- Mường CaDa là địa chỉ, là nơi ở của dân tộc Thái gồm các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm, Xuân Phú, Nam Xuân, Phú Xuân, Trung Xuân… Mường Ca Da không phải tên của dân tộc Mường.
- Ông sưu tầm, nghiên cứu, dịch thuật thời gian bao lâu thì xuất bản được cuốn sách này
- 36 năm, bắt đầu từ năm 1979 khi tôi dạy học ở trường cấp II Nam Tiến đã nghe nhiều bài mo của các thầy mo trong khu vực. Tôi nghi ngờ mo có nhiều khía cạnh mê tín dị đoan. Trong các giờ giảng bài, tôi nhắc nhở các học trò tôi về suy nghĩ ấy. Đến tai vị thầy mo trong vùng này là ông Phạm Bá Hường, ông mo Hường đã mời tôi đến giải thích và đàm đạo. Ông Hường nói đừng vội quy kết những bài mo ấy là mê tín dị đoan mà hãy nghĩ xem vì sao các thầy mo chưa thấy biển bao giờ, chưa đi máy bay bao giờ mà họ lại tả khung cảnh biển rất rõ ràng là biển có núi non, có chợ Long Dương, có nhiều loại cá lớn nhỏ khác nhau, lại hình dung ra đường lên trời và trên trời có những gì. Tôi tò mò đi nghe nhiều lần. Nghe và ghi chép lại những lời mo mới thấy rõ ràng những lời mo, bài mo Thái không những là lời từ biệt của người chết mà qua đó còn nói lên khát vọng của con người trong lao động, sản xuất, trong y tế giáo dục, về tình yêu, về bình đẳng giới và quan niệm về vũ trụ. Từ đó, tôi có lòng tin để sưu tầm, ghi chép, phân tích và tập hợp lại thành cuốn sách.

Cuốn sách “Trường ca Đại Sự Mường Ca Da” của tác giả Hà Văn Thương.
Trường ca Đại Sự Mường Ca Da dày 600 trang, chia làm 3 phần: Chữ Thái cổ Thanh Hóa; Phiên âm chữ Thái ra chữ quốc ngữ (dịch nghĩa; Dịch ra tiếng Việt bằng thể thơ các loại. Trong bài viết này chỉ xin nói về nội dung phần tiếng phổ thông về bản mo Thái.
Dân tộc Thái đã có từ rất lâu đời trên những vùng cao Thanh Hóa. Họ có tập quán riêng, có đời sống vô cùng phong phú về văn hóa, tập tục cưới hỏi, ma chay, làm nhà, mở đất, vào mùa, mừng cơm mới v.v… nhưng ma chay đã trở thành tập tục thiêng liêng mà nhà ai cũng phải làm mo khi nhà có người mất. Nhà ai chưa làm lễ mo được thì các năm sau đó thậm chí vài chục năm sau vẫn phải mời thầy mo đến cúng lễ. Vì thế, mo cúng người chết là tập tục không thể thiếu. Họ coi việc làm ấy là đạo lý uống nước nhớ nguồn, là sự hiếu kính của con cháu đối với các bậc sinh thành khi ra đi.
Nhiều thầy mo tự sáng tác ra bài cúng và họ đọc rất lâm ly huyền diệu trong không gian ma chay, khói hương và sự đau thương của người mất đi người thân yêu của mình.
Hà Văn Thương cứ năm này qua năm khác ghi chép hết những lời mo ấy. Anh làm người “đãi cát tìm vàng” trong kho ca từ dân gian ấy và chọn ra, sắp đặt lại, sắp vần lại y như người làm thơ vậy.
Anh sắp đặt Trường ca Đại Sự Mường Ca Da theo 19 danh mục. Mục mở đầu là thủ tục của ông mo. Đây là thủ tục trải chiếu, đặt đồ lễ và lời thề của ông mo trước linh hồn của người chết rằng quyết tâm đưa hồn vía người chết lên trời, lên nhà chao gặp tổ tiên trên ấy. Lời mo gọi các con chim rừng hót vang lên đến trời để báo hiệu dưới đất có người chết. Lời mo gọi con gà gáy vang lên cùng các loại côn trùng, các sinh linh trong vùng cùng hòa âm như những hồi kèn đám ma của người Kinh, trống và kèn của người Kinh báo hiệu nhà có người mất, thì mo mở đầu cũng vậy: “Hà Na! a a a!/ Hãy vui miệng hỡi chim tắng lo/ Hãy cao giọng hỡi chim yến đáng/ Giọng vang lên đến trời cao/ Đêm khuya cho giọng mo tôi rõ/Gà gáy cho giọng mo tôi vang/Vui như tiếng manh ngoạng/ Vang như tiếng manh bì” . Rồi ông mo chuyển giọng gọi hồn người mất thức dậy: “Quạt giấy nhỏ tôi mời X dậy/ Quạt giấy đẹp tôi mời X thức/Thức để nghe mo nói/ Dậy để nghe mo thưa” (X là tên người chết).
Khi vía đã tỉnh, đã nghe mo. Mo liền chỉ cho người chết thoát ra khỏi quan tài, chỉ cho người chết đường đi nước bước. “Hãy/ Đạp nắp trên cho rộng/ Nâng nắp trên cho cao/ Lên theo dấu chạm dấu rìu lăm nhăm/ Dấu dao, dấu rìu cao thấp…”.
Dặn dò rồi, chỉ đường rồi. Cuối cùng mo đọc lời ly biệt thống thiết người chết. Tiếng mo nhỏ dần, cao thấp theo nhịp lâm ly: “À ôi!/ Chim chích đậu hoa mía/ Chim nhỏ đậu hoa mua/ Nộc thua đậu hoa nguộn/ Năm nay X không khéo vâng lời trời/ Gà gáy X không khéo vâng lời then/ Miệng ly len không khéo vâng chủ”.
Muốn cúng người quá cố phải đi mời thầy mo như người Kinh mời hội trống kèn. Trong vùng người Thái sinh sống có rất nhiều thầy mo. Khi nhà có người chết phải tìm mời cho được một thầy mo cao tay về cúng ma. Qua diễn tả trong trường ca, ta thấy mời được một vị thầy mo về cúng ma cũng thật vất vả. Nhà có người chết phải vượt qua bao nhiêu núi đèo, đến từng nhà thầy mo nhưng thầy nào cũng có lý do không gặp được: “Mo bản Khó đang chặt tre/ Mo bản Nghèo đang cày ruộng mạ/Mo Mường Hạ đang đi bán nhà/Mo Mường Le đang đi xuống dưới xuôi…”.
Khó quá, nhưng cuối cùng cũng tìm được ông mo già gọi là mo lớn. Kể lể phân trần hồi lâu thì mo lớn mới nhận lời. Mo lớn hỏi ý kiến bà vợ, vợ đồng ý mới được đi cúng ma. Ông mo gọi một đoàn quân theo ông giúp việc: “Mo mới gọi/ Ba mươi ông biết việc/ Chín mươi ông biết mo/Tìm voi để dựa/Tìm lối để đi… Ai cũng phải/Cầm cán mác cho khỏe/Bẻ cong cả lưỡi gươm lười giáo/Để làm mọi việc lớn/Đưa đoàn quân lên trời/Đưa vía X lên nhà Chao”.
Tục lệ của người dân tộc Thái khi cúng cho người đã mất, lời cúng phải báo cáo rõ lai lịch con vật bị giết để làm cỗ, nó ăn củ ở đâu, ăn rau ở đâu, ăn cám như thế nào và cách giết mổ con vật để làm cơm cúng: “Túm chân trước lợn to gục ngã/Túm chân sau lợn thiến kêu vang/Lạt dẻo rể đem trói/Buộc cho lợn phải chịu nằm yên/Lợn kêu vang khắp bản/Tiếng lợn kêu khắp Mường…
…
Rể bắt đầu pha chế/Làm thịt nướng thơm ngon/Quấn lá bưởi thơm phức /Những phần thịt còn lại/Phần xương chưa pha chế/Nồi bốn quai đem đun
…
Bầy mâm cơm cho sang/ Soạn mâm cỗ cho trọng/ Xin phép mo luông, rể nâng mâm lên đặt/ Xin phép mo lớn rể nâng mâm cỗ lên nơi”.
Khi đã thưa trình đủ nguồn gốc các con vật làm cỗ cúng, những món ăn đã được chế biến thịnh soạn thì mo phải mời cơm. Lời mời cơm cũng cung kính tha thiết, tuần tự để người được mời thưởng lãm. Tuần tự từ chén nước rửa tay, rửa mặt, khăn lau, bát nước súc miệng rồi mới nói đến ý nghĩa của việc mời cơm cúng.
“Ăn để nhớ lấy lệ/Để ghi nhận con cháu có cơm/Đừng cho rằng mo tôi không nói/ Đừng nói rằng mo tôi không mời/ Ăn theo tiếng trống vang/ Ăn theo tiếng chiêng vọng/ Ăn theo cọng tiếng hay/ Ăn theo tiếng chuông mo lắc/ Mo lắc chuông cho X dùng bữa”
…
Tiếp đến là các chương: Giải đi những xúi quẩy, Giải hạn, Mời ăn, Cầu được, Mời uống rượu cần, Lý do dẫn đến chết, Cúng tổ tiên, Làm vía sửa hòm; Đánh bẫy, Lai lịch con trâu, con bò giết để cúng cơm, Nộp trâu bò cho vía. Lai lịch cỗ bàn, đi Làm cỗ bàn, Nộp đồ đạc cho vía người chết .v.v…
Ta hãy dừng lại ở chương Lai lịch người chết khi còn sống, có lẽ đây mới là chương văn chính thống của một dân tộc thiểu số đã sống lâu đời trên mảnh đất thiêng của họ. Người Thái khi mới được sinh ra đã nghe tiếng mõ trâu lốc cốc điểm nhịp treo trên cổ; đã nghe tiếng lách tách của ngọn lửa bếp nhà sàn mà hơi ấm của nó truyền mãi đến ngàn năm; đã nghe tiếng chim rừng ríu rít lúc bình minh, tiếng con hoẵng tìm bạn tình khi mùa sinh sản đến. Lời Hà Văn Thương ngọt như nước suối, nhẹ như mây trắng bay. Lời ấy có màu xanh thăm thẳm của núi rừng Pakisut, có tiếng gió của hồ Pa Đay, có tiếng cười khúc khích của cô sơn nữ mà các chàng trai hăm hở chọc sàn.
“Em ơi,/ Gà rừng gáy đồi kia nghe lạ/ Khắm khác kêu đồi lón nghe hay/ Người ta như từ xa đi tới/ Anh không đi lòng anh bảo đi/ Anh không đến trái tim anh mách bảo”.
Tình yêu và nỗi nhớ của người Thái khi còn trẻ tưởng đâu mộc mạc chân thành nhưng lại đầy lãng mạn và sâu lắng. Khi chưa được đáp ứng, họ cũng đau đớn, cũng gào thét phân bua cùng cha mẹ: “Con xuống mường chưa được lời mến/ Cháu xuống bản chưa được lời thương/ Chưa được lời em yêu bỏ rương đóng lại/ Chưa được lời người đẹp bỏ túi gối thâu đêm”. “Nhớ em yêu anh ngồi không yên/Không thấy em anh đi không vững/ Cứ đi lại mà chẳng biết đi đâu/ Hai ba ngày anh lại xuống bản/ Chin mười ngày anh lại đến thăm em”. Và: “Trái tim anh như chuối rừng bóc vỏ/ Đừng trách móc làm gì cho trái tim đau”, “Bánh cốp đến nhà em nhiều trăm/ Bánh ú đến nhà nàng nhiều chục/ Bánh chưng nhỏ biếu đủ ngoại em/ Ngoại thương, ngoại cho em lấy chồng/ Em ưng thuận cũng đã xuôi theo”.
Lời mo Hà Văn Thương kể tỉ mỉ từ khi người cha, người ông sinh ra, lớn lên, yêu nhau, làm nương làm rẫy, sinh con đẻ cái, từ đời này qua đời khác kế tiếp sự sống, kế tiếp giấc mơ cho đến một ngày ông mo gọi tiễn về trời.
Trường ca đại sự Mường CaDa này cho dù chỉ mang tính đại cương, chỉ hạn hẹp trong tình huống người chết là đàn ông, người già ở một bản nhỏ của dân tộc Thái. Nhưng nó đã khái quát được cuộc sống của cả một dân tộc, nêu bật được bản chất văn hóa lâu đời, phong phú, đa dạng của họ.
Hà Văn Thương là người con ưu tú của dân tộc bản địa ấy. Lọt lòng mẹ, anh đã được nghe tiếng suối róc rách chảy, tiếng chim rừng lảnh lót, tiếng mẹ ru bằng ngôn ngữ Thái. Bài ca ấy, lời ru ấy đã thấm đẫm, đã in dấu trong trái tim anh; lại được truyền thống cách mạng của gia đình thôi thúc nên từ khi còn là một giáo viên đứng trên bục giảng ngay quê hương mình; hay khi giữ cương vị cán bộ cao cấp của tỉnh Hà Văn Thương vẫn nuôi dưỡng tâm hồn mình ăm ắp tiếng mẹ ru, ngồn ngộn hồn vía dân tộc mình với hồn thơ trong tim ông.
Ông luôn giữ cho ngọn lửa tình yêu miền sơn cước, cội nguồn văn hóa dân tộc cháy mãi, rực sáng trong niềm yêu thương của dân tộc mình, trong nền văn hóa chung của cả dân tộc Việt Nam.

Nếu tình cờ đọc "A Desolate Evening on the Fault Line" trên một tạp chí Mỹ, dù nhân vật trong truyện ngắn này đến từ...
Bình luận