Vong thân cõi người cõi mình trong tiểu thuyết Đỗ Phấn
Hiếm có nhà văn nào dành toàn bộ sáng tác của mình để đi về chỉ trên một vùng đất. Vì vậy, dẫu trừu tượng hóa, loại trừ tính vùng miền của văn học, vẫn phải nhìn nhận sức hút lớn của một vùng không gian địa lí - thẩm mĩ trong văn chương Đỗ Phấn. Và dẫu không muốn lệ thuộc vào một hệ quy chiếu là đề tài, cũng không thể không khoanh vùng hiện thực trong tiểu thuyết Đỗ Phấn.
Tiểu thuyết của Đỗ Phấn đồng dạng nhan đề. Từ Vắng mặt, Rừng người, Chảy qua bóng tối, liên tiếp các tiểu thuyết Gần như là sống, Ruồi là ruồi, Con mắt rỗng, Dằng dặc triền sông mưa, Rụng xuống ngày hư ảo và gần đây là Mùi trần, nhà văn đều muốn nói một điều gì đấy. Tập trung viết về đời sống của tầng lớp thị dân Hà Nội, các mã nhan đề cố tình lặp lại đó cho thấy những vấn đề nhức nhối của văn minh đô thị. Ở đó con người hăm hở sống, rồi thảng thốt nhận ra chỉ “gần như là sống”, hoặc “vắng mặt”, vong thân trong cõi người cõi mình. Đó chính là cảm hứng xuyên văn bản, là trạng thái cảm xúc mãnh liệt chi phối cái nhìn, lối viết của nhà văn.
Tiểu thuyết của Đỗ Phấn xoay quanh một loại nhân vật, một lối trần thuật ít thay đổi. Anh/họ - tôi gọi nhân vật của Đỗ Phấn như vậy, vì họ đa phần đều vắng mặt vắng tên. ANH đại diện cho một lớp thị dân “đã trở thành xa lạ ở ngay chính nơi mình sinh ra và lớn lên” (Rừng người). Với kiểu nhân vật này, nhà văn không buồn gọi tên, là mi, mình, hắn, tôi, ta… lẫn lộn. Là hóa thân. Là phân thân. Là đối ảnh. Đọc trang sách này nhiều lúc phải giở tìm trang sách khác; đọc cuốn tiểu thuyết này lại tra tìm cuốn khác, vì nhân vật cứ na ná nhau. Tuy vậy, những cái cứ ngỡ-là-na-ná ấy lại định hình một chân dung trí thức thị dân. Suy cho cùng, mi mình, hay những mảnh phân thân thành Vũ, Văn, Đức…; những bản thể có tên và không tên, chẳng cần thiết, bởi hiện tồn đã là vô nghĩa, sống đã là vong thân. Đô thị hóa là tất yếu của đời sống hiện đại, của văn minh công nghiệp nhưng cũng có những khoảng tối lăm le hủy hoại môi sinh lẫn con người. Mâu thuẫn giằng xé thành mặc cảm trong một lớp trí thức thị dân Hà Nội là không thể tránh trường hấp dẫn tất yếu, nên vừa chen chúc trong cuộc mưu sinh, hưởng thụ, vừa dửng dưng đánh mất mình. HỌ vong thân ngay chính mảnh đất tình yêu của mình.

Nhà văn Đỗ Phấn
Vong thân như một lựa chọn
Theo triết học Hegel, vong thân là tình trạng con người bị mất bản ngã, là hiện tượng “tách khỏi mình, trở thành khác mình”. Trong cuộc sống đô thị hóa với những được mất lẫn lộn, nhân vật tiểu thuyết Đỗ Phấn nếu không tha hóa cũng vong thân (hai phạm trù triết học không đồng nhất). Viết về con người tha hóa, Đỗ Phấn chưa bạo liệt bằng một số nhà văn khác nhưng khắc họa con người vong thân thì ít ai gây ấn tượng như Đỗ Phấn.
Nhân vật Đỗ Phấn chung một mẫu số - xa lạ, lạc lõng; tiệm cận mọi thứ trong một lưng chừng khoảng cách (gần như là sống, gần như là bạn bè, kể cả tình yêu/tình dục cũng gần như). HỌ vừa hòa nhập, vừa đối kháng với đời sống đô thị đang rùng rùng thay đổi từng ngày. Họ lừng khừng ở giữa, vừa hòa vào đám đông phố phường, vừa lùi lại, tách ra. Trong họ có một con người vừa ham chơi, vừa hoài cổ. Họ tìm đến những cuộc tình công sở nhưng vẫn hoài nhớ một mùi hương phảng phất thủy chung; trong những bữa tiệc sơn hào hải vị vẫn nhớ quá chút vị cà cuống xưa; hòa nhập trong đám đông đường phố, vừa suy ngẫm về những công trình kiến trúc hiện đại vừa nhớ tiếc một chút rêu phong. Cứ vậy, trong thế chênh vênh không cân xứng giữa cũ và mới, giữa kí ức văn hóa và văn minh đô thị, phần văn hóa gốc cứ trồi lên, cái hiện đại ở phần ngọn cứ phình lấn, họ cảm thấy mất dần; mất người, mất cả mình, vắng người, vắng cả mặt mình. HỌ soi gương, đối mặt, rồi toang hoác mặt người, rồi trống vắng mặt mình, như đối mặt với một ai xa lạ. Vũ soi gương và thảng thốt nhận ra “không còn thấy gương mặt mình trong đó” (Vắng mặt). Thành “kinh hãi trả lại chiếc gương về chỗ cũ. Phải mất vài tháng sau mới có thể quên đi được bộ mặt phì nộn biến dạng của mình” (Gần như là sống). Đời sống đô thị với những nghịch lí đến phi lí. Vậy nên, để là chính mình, họ lựa chọn “vắng mặt”, nhìn đời qua “con mắt rỗng”, sống trong một thân xác rỗng- “Cắm cúi đi trên đường chỉ để chứng tỏ mình vẫn là một phần của thành phố. Mình thuộc về nó nhưng nó đã thuộc về những ai ai...” (Vắng mặt). Họ không chỉ là kẻ vắng mặt giữa đám đông, mà còn tách khỏi mình. Hiện tồn mà như đi khỏi, hoặc “miễn cưỡng chấp nhận một hạnh phúc đôi khi là vờ vịt”, hoặc “dối mình để vui vẻ sống” (Mùi trần). Đó cũng là một cách thức sống trong nhiều lựa chọn trước đời sống đô thị hai mặt trái/phải chồng chéo, xâm thực lẫn nhau. Một sự lựa chọn phi lí nhưng với họ là có lí; vừa chấp nhận cái bất khả kháng vừa chống trả, tạo nên tâm thế lưu đày và vong thân.
Từ một góc nhìn, trong tiểu thuyết Đỗ Phấn, không gian đô thị trở thành không gian đối nghịch, cản trở, như một chốn lưu đày. Đồ vật, xe cộ, đường sá phình ra, đám đông phình ra. Cây cỏ, thiên nhiên và cả con người thu hẹp lại. Là nhà văn họa sĩ, Đỗ Phấn tạo hình những phong cảnh thiên nhiên đẹp như tranh vẽ, gợi nhớ những chốn cũ bình yên đồng thời cảnh tỉnh nguy cơ sinh thái - “Chẳng còn lấy một rặng tre, một cái giếng thơi âm thầm đom đóm vẽ vòng trên mặt bèo tổ ong. Chẳng còn lấy một tàu lá chuối tả tơi cựa mình trong gió (Vắng mặt). Thiên nhiên xuất hiện giữa phố phường đông đúc như nhấn mạnh hơn cái lạc lõng người. Tìm đến thiên nhiên có lúc con người lại chẳng thấy mình mà như đang sống trong một nơi chốn khác. Những dòng sông chết, “con sông Tô Lịch ở cửa ô cạn dòng đặc sánh” (Gần như là sống); rừng cây bị thay thế dần bởi rừng người, “những cây già đã chết. Những cây non chưa kịp lớn. Không lớn nổi thì đúng hơn” (Rừng người). Không gian lấn chồng không gian, chung cư lấn phố cổ, bê tông đường sá lấn tràn màu xanh cây lá tự nhiên. Những dự án bị lũng đoạn bởi đồng tiền khiến những vật liệu phế thải chất thành núi, những phong bì nhân bội khiến những bãi rác thành phố trương phình, thu hẹp môi trường sinh thái và xói mòn đạo đức con người (Ruồi là ruồi). Thành phố trở thành xa lạ. Tìm đến thiên nhiên, nhớ về thiên nhiên và xa lạ với thiên nhiên - HỌ trở nên đơn độc trước hoang mạc người - “anh là một phần rất nhỏ không tên của cái biển người hừng hực chen lấn bực bội kia” (Rừng người). Đi về trên mảng vùng đô thị hóa, cảm thức của nhà văn về sự phì đại của đám đông xuất hiện với tần số lớn. Đám đông trở thành cơn đại hồng thủy người - “những dòng người hối hả như được nặn bằng sáp đang rùng rùng tan chảy ngoài cửa ô tràn vào thành phố…” (Rụng xuống ngày hư ảo); “Tất cả đã tan nhòa vào nhau như một khối chất lỏng không định hình…”, con người mờ nhạt trong nhốn nháo người- “Tan trong dòng người. Tan trong dòng người. Tan…” (Rừng người).
Nghệ thuật là đánh mất mình
Nhân vật “chính” trong tiểu thuyết Đỗ Phấn là những trí thức nghệ sĩ nghèo vật chất nhưng giàu hoài bão, lắm ưu tư. Nhiều người trong số họ là họa sĩ- những tài năng tâm huyết lạc thời trong một xã hội mà nghệ thuật chân chính trở thành món hàng xa xỉ. Là một họa sĩ thành danh trong nền hội họa đương đại, Đỗ Phấn không ngần ngại phơi bày sự vong thân nghệ thuật. Những ồn ào sôi nổi gallery, bán tranh, phê bình tranh…chỉ là bề nổi, còn nghệ thuật chân chính hầu như vắng mặt giữa những nhộn nhạo mà nó đang có mặt. Vẽ nhiều, tranh nhiều, mua nhiều nhưng hội họa thì vắng bóng. Tranh nhái, tranh giả, tranh sao chép… ngự trị, nhộn nhạo, chộp giật, còn anh họa sĩ chân chính chống chếnh lựa chọn giữa hai con đường, hoặc trở thành “con điếm nghệ thuật”, hoặc tự lưu đày trong-cõi-mình trống rỗng, con đường nào cũng vô nghĩa như nhau. Bất dung hòa với mặt trái của văn minh đô thị, những nghệ sĩ nhiều trăn trở tìm đến nghệ thuật, trốn chạy bằng nghệ thuật, lưu đày trong cõi thẩm mỹ riêng mình. ANH vắng mặt chỗ này để có mặt ở chỗ khác thực là mình - “Nó dẫn dắt tôi đi quanh co vào những vùng thẳm sâu ma mị tâm thức. Không gian trong tranh nhuyễn vào nhau như được phủ lên một thứ ánh sáng mềm mại không có thực. Tôi run rẩy ngồi thưởng thức thành quả của mình” (Gần như là sống). Ra đời từ đam mê sáng tạo, nhưng những bức tranh không còn thuộc quyền của anh. Trong một môi trường nghệ thuật sền sệt, nhuôm nhoam, thực dụng, những bức họa ra đời từ miền thiêng vô thức sáng tạo lại bị chối bỏ một cách có ý thức của thị hiếu đám đông. Ném một bức họa máu thịt của mình ra đời là lúc người họa sĩ nhận lại sự cô đơn. Anh chẳng còn nhân danh cho cái gì kể cả cái đẹp mà anh đang sở hữu. ANH trở thành kẻ vắng mặt. Vốn đã cô đơn trong sáng tạo, anh càng cô đơn hơn trong những lời tụng ca giả dối, những chuẩn thẩm mĩ trọc phú, những hào nhoáng bề ngoài (Vắng mặt). Vang mãi trong những trang văn của họa sĩ nhà văn Đỗ Phấn là những câu hỏi cứ lửng lơ, khắc khoải như từ niềm hoài vãng vọng về: Đâu là chỗ đứng của nghệ thuật chân chính? “Điều gì đẩy con người ta đến nỗi phải vong thân?” (Vắng mặt).
Tình dục là thân xác cho người khác
Tính dục trở thành “kí hiệu quyển” của văn chương Đỗ Phấn. Nhưng viết nhiều thành thừa, viết quá thành bội thực. Đây chính là sự lặp lại dễ thấy trong 10 cuốn tiểu thuyết của nhà văn. Đọc văn của ông, không tránh khỏi cảm giác chùng chình trước cận cảnh ái ân và ngôn ngữ thân thể. Những cuộc tình ngắn, trong luồng ngoài luồng. Những miêu tả “nhan sắc” đàn bà; những hành vi tính dục lặp đi lặp lại. Đàn ông thì rượu và đàn bà, lẩn quẩn, nhàu nát. Phụ nữ thì sắc đẹp, phong lưu thời thượng và tiết trinh trao đổi. Vậy đằng sau những hoan lạc thân xác đó là gì? Để tăng vị mặn sau một thời văn học chay tịnh? Là dùng tính dục để thể hiện cái nhìn đa dạng về con người? Với một nhà văn vừa chơi, vừa ngẫm, vừa kể chuyện, như thật như đùa, hài hước giễu cợt mà buồn cay đắng, Đỗ Phấn vượt qua/không màng đến những giáo điều. Tính dục với nhân vật của ông là hưởng thụ, có lúc chỉ là thói quen. Ê chề hơn là vong thân tính dục. Những viên chức, nghệ sĩ “dư thừa gối chăn” (Mùi trần) nhưng rỗng thân xác. Những con người quá quen với khách sạn, nhà nghỉ, chung cư, chăn nệm nhưng trống vắng đến hoang hoải. HỌ thừa mứa tình dục, gặp nhau là lên giường, nhưng cái phần bản năng kì diệu của con người lại thiếu vắng sự thăng hoa. Những trang văn cận cảnh chiếu chăn chỉ để lại ấn tượng về rã rời thân xác - “Rã rời. Mi nằm duỗi dài xuống bên nàng. Tự nhiên chợt nghĩ về nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn vẫn thường hiện diện kể cả khi có hai người? Người này tìm kiếm ở người kia chỉ đơn giản là những hành vi tính dục nhằm thỏa mãn mình” (Vắng mặt). Những hoan lạc thân xác như lấp đầy khoảng trống cũng chỉ để lại những mệt nhoài tâm trạng. Còn lại là “cảm giác gần như ê chề chán nản xâm chiếm”; là “một trống rỗng nửa ân hận nửa tiếc nuối”; “ê chề trống rỗng gấp đôi”; là “mọi khao khát đều trở nên trống rỗng. Mệt nhoài” (Mùi trần). Tìm đến thân xác rồi vong thân thân xác. TÔI vong thân trong chính thân thể mình.
Tiểu thuyết Đỗ Phấn ít đối thoại (cần thiết gì một khi con người vong thân giữa đám đông, giữa những bất an sinh thái), chỉ có những câu hỏi, những tra vấn. Lặp đi lặp lại trong hầu hết các tác phẩm là câu hỏi về bản thể - Tôi là ai?, Tôi đã ước vọng những gì? Để làm gì?... Với những câu hỏi đại loại như vậy TÔI đang đối mặt với chính tình trạng vong thân của mình. Cuộc sống đô thị quá nhiều khoảng trống. Tôi lấp đầy tôi. Tôi khao khát được đầy giữa đông đúc người nhưng xa lạ giữa rừng người và hồ nghi về sự tồn tại của mình. Ở đâu TÔI cũng chẳng rõ mình là ai? Câu trả lời, nếu có, luôn là một số không, một hư vô - “Mình là ai còn chẳng biết nói gì đến mọi người. Mình ơi, mình chẳng ra mình?” (Vắng mặt); “Bản thân anh là một rỗng không rồi…”; “Mi đã trở thành người lạ ở ngay chính nơi mi sinh ra và lớn lên?”; “Quá sức kinh hoàng. Tôi đã trở thành một rỗng không trọn vẹn”. Sự vắng mặt của nhiều nhân vật chẳng để lại khoảng trống nào trong cõi ta bà mà anh nửa níu kéo, nửa buông bỏ- “Có tôi trên đường cũng được mà không có cũng chẳng việc gì” (Mùi trần). Nhân vật của ông luôn cảm nhận được cái vô nghĩa đời người. Những câu hỏi đậm chất triết lí đã trở thành quan niệm sống, một cách thức hiện tồn. TÔI xác định “chính tôi đang sống trong những câu hỏi của mình. Câu hỏi đó là một trong những lí do tồn tại của tôi” (Gần như là sống).
Có vẻ Đỗ Phấn như một lãng tử (rong chơi, hoài cổ, ngắm đời, ngẫm đời và kể). Không đa bội hóa nhân vật, đa bội điểm nhìn, chẳng chơi ngôn ngữ, Đỗ Phấn từ tốn nhẩn nha kể, vừa kể vừa tả vừa ngẫm vừa tra vấn. Nhiều lúc nhà văn rườm rà miêu tả đến phiền hà; hoặc chế giễu những điều quá nhỏ nhặt đến độ chi li. Dẫu nhà văn có làm mới cấu trúc, lắp ghép, song trùng; những đoạn in nghiêng, những văn bản lồng/hòa trong văn bản nhưng mọi yếu tố nghệ thuật chỉ để làm nổi bật một “chốn lưu đày” và một tâm lí vong thân. Cảm thức phi lí đậm rõ trong nhiều tác phẩm. Từ những mảnh ghép hiện thực đối nghịch, những mảnh vỡ người tương tác đó rồi xa lạ đó, Đỗ Phấn đã phản ánh diện mạo đô thị trong quá trình đổi thay dữ dội, vừa dung nạp vừa đào thải. Được mất đều do con người. Theo cách giễu nhại của Đỗ Phấn, “triết học thật là phiền phức” (Rụng xuống ngày hư ảo), ông viết như chơi như đùa như chẳng cần trao gửi một tư tưởng, một triết lí nào. Nhưng qua bi kịch vong thân, nhà văn ngậm ngùi nhìn thấy căn tính Việt đang dần bị xói mòn. Từ những luẩn quẩn phận người, thông điệp của nhà văn là vấn đề lựa chọn cách sống. Làm sao để khỏi đánh mất mình? Đó là câu hỏi nhân văn nhất trong tất cả những câu hỏi về thân phận con người.

Dẫu kí hiệu học hiện đại "đang trải qua giai đoạn buộc phải xét lại một số khái niệm cơ bản", nhưng hiện nay,...
Bình luận